Ý NGHĨA CẤU TRÚC ĐỀN TỔ HÙNG, VĨNH PHÚ.

Ý NGHĨA CẤU TRÚC ĐỀN TỔ HÙNG,

VĨNH PHÚ.

Nguyễn Xuân Quang

Xin nhắc lại ở đây, tôi đã viết nhiều lần, cốt lõi của văn hóa Việt là Vũ Trụ giáo, Mặt trời giáo và Việt Dịch nòng nọc còn ghi rõ trong Sử Sách (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), trong Sử Miệng (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt) và trong Sử Đồng (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

Đền Hùng Vương là đền Quốc Tổ Việt bắt buộc phải mang trọn vẹn ý nghĩa cốt lõi của văn hóa Việt. Đền Hùng phải là biểu trưng của văn hóa Việt Nam.

Đền Quốc Tổ Hùng ở tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Việt, tọa lạc trên núi Nghĩa Lĩnh, ngọn núi cao nhất trong 100 ngọn núi nên còn gọi là núi Cả.

Lĩnh nghĩa là gì?

Trước hết ta thử tìm hiểu xem tại sao núi có đền Hùng lại gọi là Nghĩa Lĩnh chứ không gọi là Nghĩa Sơn? Lĩnh và Sơn khác nhau. Lĩnh là núi dương, núi nổng, núi có đỉnh nhọn mang dương tính. Cũng xin nhắc lại núi cũng có núi âm và núi dương. Ngôn ngữ Việt cũng có giống đực, giống cái theo âm dương (Tiếng Việt Huyền Diệu). Núi dương gọi là nổng ứng với Hán Việt lĩnh và núi âm gọi là non, còn từ núi chỉ chung cả nổng (núi dương) và non (núi âm). Nổng là núi dương như thấy qua từ gò nổng. Nam Dương ngữ gunung có nghĩa là núi. Gunung chính là Việt ngữ gò nổng.

Nổng biến âm với nống là cây nọc chống đỡ, nâng vật gì lên. Ta thường nói cứ nốnglên có nghĩa là cứ tâng, cứ bốc nó lên, cứ nâng nó lên, cứ “đẩy cây” nó lên. Như thế lĩnhnổng, núi hình trụ nọc, trụ chống nhọn đỉnh, núi dương. Ta cũng thấy rõ lĩnh biến âm với lính (quân nhân), ngày xưa chỉ phái nam, mới phải đi làm nghĩa vụ quân sự, mới phải đi lính, do đó lính ruột thịt với con trai, phái nam. Lĩnh biến âm với lịnh (lệnh). Ngày xưa lịnh là một cây nọc trên có khắc mệnh lệnh. Lịnh, lệnh hàm nghĩa cây, cọc biểu tượng cho dương, nam. Lĩnh biến âm với đinh, với đình theo kiểu biến âm linh đinh, linh đình. Đinh là vật nhọn, là con trai, thanh niên như tráng đinh, lễ thành đinh (con trai có vật nhọn, có cây “đinh”!). Đình là ngôi nhà dành cho con trai (bachelors’ house), phái nam (men’s house) vì thế mà ngày xưa cấm con gái, đàn bà bước chân vào đình. Đình có nghĩa đúng với nghĩa của ngôi nhà Lang của người Mường. Rõ hơn lĩnh biến âm với Phạn ngữ linga, bộ phận sinh dục nam. Trong Ấn giáo linga thường diễn tả bằng một hình trụ nọc mang hình ảnh dương vật cắm trên một cái đế tròn (theo duy âm) hay đế vuông (theo duy dương hay hiệp với giống đực của linga), nếu nhìn theo âm dương hôn phối thì đế tròn hay vuông đều là yoni, lỗ sinh dục nữ. Nếu nhìn theo duy dương thì nọc dương vật cắm trên đế tròn hay vuông mang hình ảnh núi trụ, trụ chống trời biểu tượng cho Cõi Giữa Đất thế gian, trường hợp này giống hệt hình ảnh của những miếu Thổ Thần. Ở rải rác đó đây trên các cánh đồng miền Bắc có những miếu Thổ Thần đơn giản chỉ là một cây đa (trụ) trồng trên một cái gò hình tròn hay có bệ vuông mang hình ảnh của Núi Trụ thế gian của linga nhìn theo duy dương. Thần Shiva có biểu tượng là linga có một khuôn mặt là Núi Trụ Thế Giới, Thần Đất thế gian.

Thần Shiva có biểu tượng là con bò mộng Nandi, con thú bốn chân sống trên mặt đất có hai sừng biểu tượng cho Cõi Giữa Đất thế gian vì thế mà các đến thờ của Ấn giáo đều có hình trụ tròn đầu trông giống Linga và giống ngọn núi Trụ Kailash ở Himalaya, được cho là nơi chôn nhau cắt rốn của Thần Shiva.

Như thế lĩnh qua biến âm với linga có một khuôn mặt là Núi Trụ Thế Giới.

Ta cũng thấy lĩnh biến âm với lang (Hùng Vương) theo kiểu biến âm linh lang (như thấy rõ qua bài hát ông Linh ông Lang). Trăm Lang Hùng là những Chàng (dân gian ngày nay, một vài nơi ở miền Bắc Việt Nam khi cúng tế vẫn xưng hô Chàng và Nàng gọi các Lang và các Mẹ Nàng Mỵ Nương), là những Lang, những Vua Mặt Trời Mọc.

Như thế ta thấy rõ núi Lĩnh có những nghĩa như sau:

1. Lĩnh là núi mang dương tính: núi Nổng, núi Nọc Nhọn, Núi Cọc, Núi Trụ Thế Gian (theo nghĩa Lĩnh biến âm với lịnh có nghĩa gốc là cây, nọc, cọc, với linga theo duy dương mang hình ảnh núi Trụ Thế Gian).

2. Lĩnh là Trục Thế Giới thông thương Tam Thế nằm trong Núi Trụ Thế Gian. Với Lĩnh qua biến âm với linga, ta thấy rõ Lĩnh có một khuôn mặt là Trục Thế Giới qua truyền thuyết là Thần Shiva có một khuôn mặt là Trụ Lửa (Pillar of Fire) dài vô tận không đầu không đuôi ứng với Trục Thế Giới.

3. Núi Lĩnh là núi Lang (theo nghĩa Lĩnh biến âm với Lang), núi Trăm Lang Hùng.

4. Lĩnh là núi Hùng có một nghĩa là đực (với nghĩa Lĩnh biến âm với đinh, đình có nghĩa là đực, nam và Lĩnh biến âm với Linga), núi Quốc Tổ Hùng.

5. Lĩnh là núi Việt (Việt có nghĩa tổng quát là vật nhọn, rìu có nghĩa gốc là vật nhọn, rìu, chàng đục biểu tượng cho dương, đực, linga), núi biểu trưng của Đại Tộc Việt.

6. Lĩnh là núi Mặt Trời dương thái dương với nghĩa là nọc, đực, dương. Dương là đực và cũng có nghĩa là mặt trời. Lĩnh là núi biểu trưng của Đại Tộc Việt Mặt Trời thái dương.

Đây là lý do núi có đền Quốc Tổ Hùng phải là Lĩnh tức nổng, núi dương, núi Lang, núi chàng, núi Hùng, núi Việt, núi mặt trời thái dương, núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới… chứ không gọi là sơn.

Nghĩa có nghĩa là gì?

Ngày nay thường hiểu theo nghĩa là đúng, chính đáng (righteousness) như chính nghĩa (theo qui tắc từ ghép, từ đôi ta có nghĩa = chính).

clip_image002

Nghĩa

Giải tự từ Nghĩa ta thấy có phần đầu chữ dương (đầu con dê) ở trên, ở dưới có chữ thủ (tay) và chữ qua (là thứ khí giới cán dài, một thứ rìu, một thứ việt). Như thế, theo mặt chữ, từ Nghĩa có nghĩa là “cầm rìu giết con dê” “cầm rìu chặt đầu con dê”. Chặt đầu con dê để làm gì? Dĩ nhiên là để hiến tế, giết các vật hy sinh để tế lễ, dâng hiến cúng vật cho Tạo Hóa, vũ trụ, trời đất, Thần Linh, Tổ Tiên và cả quỉ thần. Điểm này cũng thấy rõ trên giáp cốt, kim văn, cổ văn, từ Nghĩa () diễn tả bằng hình con dê núi đực, con “dương” (ram) bị giết bởi một chiếc rìu có lưỡi răng cưa để hiến tế.

clip_image003

Trên giáp cốt, kim văn, cổ văn, từ Nghĩa (yì) diễn tả bằng hình con dê núi đực, con “dương” (ram) bị giết bởi một chiếc rìu có lưỡi răng cưa để hiến tế (Wang Hongyuan).

Ở đây ta thấy có hai điểm ăn khớp khắng khít với Quốc Tổ Hùng. Thứ nhất là chữ qua chỉ chiếc rìu qua, một thứ Việt, một thứ vật nhọn mang dương tính ăn khớp với Lang Hùng, Hùng Vương, có nghĩa là đực, là nọc, vật nhọn, là Việt, là dương, là mặt trời, qua Việt là khí biểu (ceremonial weapon) của Đại Tộc Việt, của Hùng Vương Việt Mặt Trời Thái Dương và con dương (con dê) là con thú đực ăn khớp với Hùng có một nghĩa là con thú đực (thư hùng). Con dê là con thú bốn chân sống trên mặt đất có hai sừng (hai nọc nhọn tức hai dương, thái dương) biểu tượng cho mặt trời thế gian (như thấy qua con dê là thú biểu của các vua mặt trời Ai Cập cổ), cho Cõi Đất dương gian tương đương với con hươu cọc, con hươu sừng, thú biểu của Kì Dương Vương và với con bò mộng có hai sừng (con bò mộng Nandi là thú biểu của thần Shiva của Ấn giáo có một biểu tượng là linga theo nghĩa là Núi Trụ Thế Gian). Con dê với nghĩa đực, dương, mặt trời dùng làm vật hiến tế cho Hùng Vương rất chí lý. Phải dùng rìu Việt và dê, dương biểu tượng cho mặt trời trong việc hiến tế cho Tổ Hùng, Tổ Việt Mặt Trời Thái Dương mới đúng lễ nghi.

Như thế theo nghĩa đen Nghĩa có nghĩa là giết dê để hiến tế các Thần Tổ, Thần Linh dòng mặt trời.

Nghĩa Lĩnh là gì?

Vậy Nghĩa Lĩnh có những nghĩa gốc như sau:

1. theo nghĩa Lĩnh là núi Nọc Nhọn, Núi Cọc thì Nghĩa Lĩnh là (núi) Nọc, Cọc Hiến Tế (sacrificial post). Cọc đâm trâu của các sắc tộc ở Tây Nguyên Việt Nam là một thứ cọc, nọc hiến tế, là hình ảnh nguyên sơ của Nghĩa Lĩnh.

2. theo nghĩa Lĩnh là Trục Thế Giới nằm trong Núi Trụ Thế Gian là một con đường dùng làm phương tiện thông thương Tam Thế, thì Nghĩa Lĩnh có nghĩa là Trục Thế Giới dùng để dâng cúng vật hiến tế tới Tam Thế. Chiếc bàn thiên của dân gian Việt Nam là một hình ảnh của Trụ, Trục Thế Giới, của Nghĩa Lĩnh.

3. theo nghĩa Lĩnh là núi Lang, núi Hùng, núi Việt, núi mặt trời thái dương thì Nghĩa Lĩnh là cọc hiến tế, là Trục Thế Giới dâng cúng vật hiến tế lên Tổ Hùng và các Hùng Vương thế gian, tới Tổ Việt Mặt Trời Thái Dương.

……

Qua nghĩa này ta thấy đạo thờ cúng Tổ Tiên, ông bà, đấng sinh tạo, trời đất, vũ trụ của chúng ta là một thứ tôn giáo nằm trong Vũ Trụ giáo.

Tiến xa hơn, ta đi tìm nghĩa rộng, nghĩa “bóng” của từ Nghĩa. Với nghĩa gốc là “tay cầm dao giết, chặt đầu con dê” dùng làm tế vật, để tạ ơn vũ trụ, trời đất, thần linh, tổ tiên cho thấy từ Nghĩa có nghĩa nghiêng nhiều về Ơn Nghĩa, ruột thịt với Ơn Nghĩa. Áp dụng qui luật từ đôi Ơn Nghĩa ta có Nghĩa = Ơn. Ơn có nghĩa là gì? Cám ơn, tạ ơn có nghĩa là cảm tạ Cõi Trên, Bề Trên (xin ơn trên phù hộ), đấng sinh tạo, Tạo Hóa, trời đất sinh tạo, tổ tiên. Ơn còn có nghĩa là một như mình ơn, mình ên. Một có một nghĩa là là mặt trời như thấy qua solo (một mình) liên hệ với sol, mặt trời. Ơn biến âm với Anh ngữ one, một nên liên hệ với mặt trời. Ai Cập cổ có thành phố Mặt Trời tên là On (Heliopolis).

Tóm lại núi Nghĩa Lĩnh có nghĩa đen là Trụ Hiến Tế, là Núi Trụ Thế Gian, trong có Trục Thế Giới dùng làm phương tiện để cúng dâng vật hiến tế lên Ba Cõi, theo duy dương lên Mặt Trời và có nghĩa rộng ra là Núi Ơn Nghĩa, núi Tạ Ơn Tạo Hóa, Vũ Trụ, Tạ Ơn Tổ Hùng Mặt Trời ứng với thần mặt trời Mặt Trời Viêm Đế.

Cốt lõi văn hóa Việt là Chim-Rắn, Tiên Rồng, nòng nọc (âm dương), nguyên lý căn bản của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch lý tạo ra thế giới chia ra tam thế. Như thế Thần Tổ Mặt Trời Việt gồm có ba vị Thần Tổ Hùng Mặt Trời, mỗi vị trị vì một thế. Đó là Thần Tổ Hùng Mặt Trời Tạo Hóa Đại Vũ Trụ Viêm Đế ở thượng thế. Thần Mặt Trời Hùng sinh tạo càn khôn Tiểu Vũ Trụ thế gian ở trung thế Đế Minh. Thần Mặt Trời Hùng Trời Đất cõi nhân gian Hùng Vương lịch sử ở dương gian hạ thế.

 

 

Hiểu như thế rồi ta hãy quan sát đền Tổ Hùng ở Vĩnh Phú, Phú Thọ xem sao. Nhìn tổng thể ta thấy đền Tổ Hùng gồm có ba đền: Đền Thượng, Đền Trung và Đền Hạ.

clip_image005

Sơ Đồ Đền Quốc Tổ Hùng, Vĩnh Phú, Phú Thọ.

Ta thấy ngay ba đền ứng với Tam Thế, nhìn dưới diện Đại Vũ Trụ (macrocosm) thì Đền Thượng ứng với Thượng Thế, Đền Trung ứng với Trung Thế và Đền Hạ ứng với Hạ Thế. Nhìn dưới diện Tiểu Vũ Trụ (microcosm) thì Đền Thượng ứng với Cõi Trời (Khí Gió), khuôn mặt sinh tạo của Hùng Vương đội lốt Tổ Hùng ở cõi tạo hóa. Đền Trung ứng với Cõi Đất nhân gian ứng Kì Dương Vương và Đền Hạ ứng với Cõi Nước Lạc Long Quân. Như thế núi Nghĩa Lĩnh là Núi Trụ Tam Thế mang thêm một khuôn mặt Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống.

Nếu đi từ chân núi lên, ta đi qua cổng đền rồi tới:

Đền Hạ

Theo Đại Vũ Trụ thì đây là Cõi Âm, theo Tiểu Vũ Trụ thì đây là Cõi Đất âm nhân gian. Vì vậy mà tại nơi đây cho là chỗ Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra một cái bọc Trứng Chim nở ra trăm Lang.

Phía dưới ở cách xa Đền Hạ, nằm ngoài các cổng, có Hồ Thiên Nga biểu tượng cho Âu Cơ, đối nghịch với Hồ Lạc Long Quân ở phía Đền Thượng.

Đền Trung

Đền Trung là Cõi Giữa thế gian Li, Lửa đất thế gian. Vì vậy mà theo một tài liệu cho biết tại Đền Trung này có thờ Lửa. Đây là lửa thế gian, lửa từ núi lửa ứng với Li Cõi Giữa Đất Thế Gian với Kì Dương Vương mang tính chủ. Thờ Thần Lửa thế gian hiển nhiên nằm trong sự thờ phượng Lửa vũ trụ, Thần Mặt Trời. Theo duy dương thần mặt trời Viêm Đế là thần tổ tạo hóa ngành Hùng Vương nọc mặt trời thái dương. Tổ Hùng kể từ Viêm Đế trở xuống.

Đền Trung Cõi Giữa thế gian nên là chỗ thờ phượng các vị Hùng Vương Cõi Giữa thế gian và dòng dõi nên có cả bệ thờ công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa. Cũng vì thế nên mới tương truyền rằng đây là nơi Lang Liêu đã gói bánh dày, bánh chưng dâng vua cha để cúng tiên tổ nhân ngày Tết.

Tại nơi đây cũng là chỗ làm việc của Hùng Vương, vua Hùng thường hội họp các Lạc Hầu Lạc Tướng để bàn việc nước.

Đền Thượng

Ứng với Thượng Thế, Cõi Trên. Đền Thượng dĩ nhiên thờ Tổ Hùng với khuôn mặt là Đấng Tạo Hóa, Mặt Trời Tạo Hóa, Sinh Tạo, Mặt Trời Vũ Trụ.

Đền Thượng có bốn nếp nhà: Nhà Trống Chuông, nhà Đại Bái, nhà Tiền Tế và Cung Thờ. Nhà chính là Cung Thờ với Cung có nghĩa là vòm mang hình ảnh của vòm Hư Không (Vô Cực), vòm không gian, vòm trời ứng với khuôn mặt vũ trụ của Tổ Hùng. Nhà Chuông Trống là nhà âm dương. Chuông có hình âm đạo, dạ con, vòm vũ trụ, vòm trời biểu tượng cho nòng, âm, nữ. Hình vòm chuông khắc trên đá của thổ dân Úc có nghĩa là đàn bà. Chiếc chuông cầu nguyện của Phật giáo Tây Tạng mà Đức Dalai Lama hay rung trong khi hành lễ có cán là hình dóng sấm thường gọi là búa thiên lôi (thunderbolt) có một khuôn mặt biểu tượng cho dương trong khi phần chuông biểu tượng cho âm và cho trí tuệ âm, nữ (female wisdom). Trống có một nghĩa là đực, dương (gà trống) dĩ nhiên biểu tượng cho nọc, dương, nam. Nhà Chuông Trống mang biểu tượng âm dương, Lưỡng Nghi.

Trước đây ở Đền Tổ Hùng có để một trống đồng thờ, nay để tại Viện Bảo Tàng ở đây. Trống đồng này rất đặc biệt, không thấy nói tới ở những nơi khác ngoài Việt Nam. Trong quyển Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hiện Ở Việt Nam, các tác giả Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Vinh có nói tới loại trống này. Đây là loại trống đồng giống “các loại trống da” như trống Cảnh Thịnh (Tây Sơn) (trống mang ký hiệu D.6214-22), trống để ở chùa Cổ Lễ, chùa Keo Hành Thiện tỉnh Nam Hà, trống đời Nguyễn trưng bày tại viện bảo tàng đền Hùng tỉnh Vĩnh Phú “về mặt hình dạng được mô phỏng theo loại trống gỗ bịt da, nhưng vẫn giữ được truyền thống của trống đồng là chúng chỉ có một mặt” (tr.14).

Ta thấy trống đồng ở Đền Tổ Hùng“về mặt hình dạng được mô phỏng theo loại trống gỗ bịt da” tức là loại trống cái hình thùng (barrel) đựng rượu nho có hình trứng và “vẫn giữ được truyền thống của trống đồng là chúng chỉ có một mặt” tức trống để hở đáy. Mặt trống đặc biểu tượng cho dương, đặc là đực (tre đặc là tre đực) và có hình mặt trời hiển nhiên biểu tượng cho dương. Phần đáy để hổng biểu tượng cho âm (ta có từ đi đôi với nhau hổng lỗ tức hổng = lỗ, dĩ nhiên lỗ biểu tượng cho âm!). Trống đồng để hở đáylà trống đồng âm dương (xem chương Cơ Thể Học Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Như thế trống đồng để ở Bảo Tàng Viện Đền Hùng là trống Trứng Âm Dương, Trống Trứng Vũ Trụ, Trống Vũ Trụ. Tôi gọi loại trống này là Trống Trứng Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang loại I (xem chương Cơ Thể Học Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Trống Trứng Vũ Trụ chính là trống biểu của Tổ Hùng có một khuôn mặt Trứng Vũ Trụ và của Hùng Vương sinh ra từ bọc Trứng Thế Gian.

Bốn nếp nhà này cũng có thể coi như là ứng với Tứ Tượng. Như thế có đủ trọn vẹn cả nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh.

Bên trái phía âm là Cột Đá Thề của An Dương Vương. Nên nhớ, An Dương Vương có một khuôn mặt là Vua Mặt Trời Êm Dịu thuộc dòng Nước. Cha Lạc Long Quân (Rùa Vàng Lạc Long Quân giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa) nên hòn đá này ở bên trái âm cùng phía Hồ Lạc Long Quân.

Ở phía bên phải và cao hơn hết là lăng Hùng Vương thứ 6. Theo truyền thuyết thì Hùng Vương thứ 6 đánh đuổi được giặc Ân với sự trợ giúp của Phù Đổng thiên vương, về sau truyền lại ngôi cho thái tử thứ 18 là Lang Liêu, người làm ra bánh chưng bánh dầy.

Tại sao có 18 đời vua Hùng mà ở đền Quốc Tổ Hùng chỉ có lăng của Hùng Vương thứ 6 mà thôi? Tại sao các vua Hùng khác không được thờ?

Dịch có 64 quẻ, tám quẻ đầu hay tầng thứ nhất trong 8 tầng (mỗi tầng có 8 quẻ) từ 0-7 ứng với vũ trụ, số 6 là số chẵn, số âm cao nhất, già nhất trong 8 quẻ đầu (0, 2, 4, 6), nên gọi là số lão âm, số thành ứng với giai đoạn hoàn thành của Vũ Trụ Tạo Sinh tức tạo ra Tam Thế. Số 6 mang một khuôn mặt hoàn thành của Vũ Trụ Tạo Sinh sinh ra Tam Thế tức ruột thịt với Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời. Đây là lý do tôi gọi trống đồng có hình Cây Nấm Vũ Trụ (Heger I) là Trống Nguyễn Xuân Quang VI. Cũng vì số 6 ruột thịt với Cây Tam Thế nên lăng Hùng Vương thứ 6 có hình Cây Tam Thế (xem dưới).

Như thế lăng Hùng Vương thứ 6 có một khuôn mặt biểu tượng cho sinh tạo, tạo hóa Tam Thế hiển nhiên đây là một lý do vua Hùng Vương thứ 6 được chọn làm đại diện cho cả hai khuôn mặt vũ trụ Thượng Thế của Tổ Hùng vũ trụ và thế gian Trung Thế của Hùng Vương thế gian, đại diện cho tất cả 18 đời Hùng Vương.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy 6 = 2 (Lưỡng Nghi, âm dương) + 4 (Tứ Tượng). Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng rồi Tứ Tượng âm và dương liên tác sinh ra Tam Thế, được biểu tượng bằng Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ.

Lưu Ý

Theo Dịch Trung Hoa, Đoài chỉ hiểu theo một nghĩa là đầm ao. Dịch Trung Hoa là Dịch thế gian. Ở Dịch tạo hóa cõi trên Đoài phải hiểu theo nghĩa ở cõi tạo hóa, Thượng Thế. Đoài biến âm với đài, đẫy có nghĩa là túi, bọc, rõ hơn Anh ngữ Tui (Đoài) ruột thịt với túi. Ở Thượng Thế, bầu vũ trụ, bầu trời là cái túi, cái bọc Khôn dương tức thiếu âm nguyên thể của khí gió là Đoài vũ trụ, bầu trời. Ở Trung Thế, đất thế gian túi nước ấm (dương) là ao đầm là Đoài thế gian. Đây là lý do tôi thường dùng từ Đoài khí gió vũ trụ, cõi trời ở Dịch sinh tạo, tạo hóa. Ở cõi trên chưa có Đoài ao đầm.

Số 6 cũng là số trục của ma phương 6/18 nằm ở ô giữa hình vuông và tổng cộng các con số đọc theo các chiều cộng lại bằng 18.

clip_image007

Ma phương 6/18

(lưu ý trong ma phương này số 1 còn tương đương với 10 và số 2 tương đương với 11).

Như thế Hùng Vương thứ 6 theo dòng máu Tốn của Bọc Trứng Mẹ Tổ Âu Cơ là vị vua cột trụ, vị vua trục của 18 đời vua Hùng. Vì thế Hùng Vương thứ 6 được chọn làm đại diện cho tất cả vua Hùng.

Thái tử thứ 18 Lang Liêu làm ra bánh chưng bánh dầy để tạ ơn Tổ Hùng, tạ ơn vũ trụ, Tạo Hóa. Bánh chưng, bánh dầy biểu tượng cho âm dương, đất trời, vũ trụ, Tam Thế. Nếu để bánh dầy tròn lên trên bánh chưng vuông ta có một mandala Hôn Phối Vũ Trụ, (mandala of Cosmic Union). Mandala này thấy nhiều trong Phật giáo Mật Tông Tây Tạng và Nepal hiện nay. Như thế ta thấy Lang Liêu mang khuôn mặt của một vị vua Hùng thế gian nối dõi vua Hùng thứ 6 hay có thể coi như là vị hóa thân, hiện thân, hậu thân của Tổ Hùng vũ trụ (vì thế mới biết làm ra bánh chưng bánh dầy biểu tượng vũ trụ, trời đất, thờ Tổ Hùng vũ trụ). Hùng Vương vũ trụ thứ 6 cùng với khuôn mặt thế gian của hậu thân mình là Lang Liêu làm đại diện cho tất cả Tổ Hùng vũ trụ và Hùng Vương thế gian.

clip_image009

Lăng Hùng Vương thứ 6.

Đó là những lý do tại sao chỉ có lăng Hùng Vương thứ VI ở đền Quốc Tổ Hùng.

Trên nóc lăng có quả Bầu. Ở Đại Vũ Trụ là bầu hư không, bầu tạo hóa, bầu vũ trụ, bầu sinh tạo, tạo hóa, Trứng Vũ Trụ, là vật biểu tạo hóa của Tổ Hùng. Ở Tiểu Vũ Trụ, Bầu âm dương là vật biểu của Hùng Vương là bọc sinh tạo thế gian, bọc trứng thế gian, là vật biểu của Hùng Vương thế gian. Ở cõi trời thế gian là bọc khí gió dương Đoài cõi trời vì thế mà các vua Hùng có mang dòng máu Gió này mới đóng đô ở Châu Phong (châu Gió) và ở cõi đất thế gian là bọc nước dương, nước ấm là Đoài ao đầm (pond, swamp) vì thế mà các vua Hùng thế gian có mang dòng ao đầm mới đóng đô ở Việt Trì (Ao Việt) và có địa danh Hạc Trì (Ao Cò) (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Bầu âm dương sinh ra Tứ Tượng. Lăng hình trụ vuông mang nghĩa Tứ Tượng. Tứ Tượng dương và âm tức tám tượng ứng với bát quái ăn khớp với 8 mái nhỏ của lăng. Tứ Tượng âm dương liên tác sinh ra Tam Thế, vì thế lăng có tầng nhỏ trên cùng ứng với Thượng Thế, phần thân lăng hình trụ vuông biểu tượng cho Núi Trụ Thế Gian, Cõi Giữa Trung Thế, bên trong có Trục Thế Giới và nền lăng có rào vuông biểu tượng cho Hạ Thế. Lăng Hùng Vương thứ 6 mang hình ảnh Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống. Cây này là biểu trưng cho Tổ Hùng và các vị Hùng Vương thế gian là những hóa thân, hiện thân của Tổ Hùng.

Lăng nằm phía bên phải, dương nên có khuôn mặt ngành nọc lửa thái dương (Viêm Đế-Đế Minh-Kì Dương Vương-Âu Cơ ) mang tính chủ (ta thấy rất rõ lăng Hùng Vương thứ 6 với 6 là số âm thái dương, Tốn khuôn mặt thái dương của Nàng Lửa, thái dương thàn nữ Âu Cơ). Ta cũng thấy là số 6 nằm giữa số 5, số Li, lửa thế gian, Đất dương thế gian và số 7, số Càn Lửa vũ trụ.

Về phía tay trái tức phía âm của ngành âm nước Lạc Long Quân, phía trên cao ngang với Đền Thượng là Hồ Lạc Long Quân. Tại sao Hồ Lạc Long Quân lại để trên cao ngang hàng với Đền Thượng mà không để ở Cõi Dưới, Cõi Nước ở dưới? Đây là khuôn mặt Tạo Hóa Sinh Tạo của Lạc Long Quân đội lốt Thần Nông ở cõi tạo hóa.

Nhìn đối chiếu hai bên, lăng Hùng Vương thứ 6 có khuôn mặt Càn Lửa vũ trụ thái dương ở bên phải phía dương hôn phối Hồ Lạc Long Quân Chấn vũ trụ tức có sự hôn phối thái dương với thái âm của ngành nọc thái dương ở cõi Đại Vũ Trụ. Vì thế mà cả hai cùng ở Thượng Thế.

Ngoài ra ở đây cũng có một cây thông già 700 tuổi. Có thể đây chỉ là một cây trồng để lấy bóng mát hay làm cảnh. Tuy nhiên, ở bất cứ một nơi thờ phượng thiêng liêng nào cũng thường trồng một cây cổ thụ mang biểu tượng Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời. Ở các chùa, đình, đền, miếu thường trồng Cây Đa, Cây Đề, Cây Si. Đây là những cây mang âm tính vì có tàn lá hình vòm biểu tượng cho vòm vũ trụ. Cây đa mang âm tính vì có “lá đa”. Cây Si sinh ra Mẹ Tổ Mường Việt là Dạ Dần. Cây đa trồng ở chùa vì Phật giáo là một tôn giáo tĩnh mang âm tính, Nòng, Khôn, Không Gian, Vũ Trụ âm (mọi chuyển vận trong Phật giáo đều đi theo chiều âm, cùng chiều với kim đồng hồ). Đây là lý do không trồng cây đa mang âm tính ở đền Quốc Tổ Hùng Việt Mặt Trời Thái Dương, thay vào đó trồng một cây mang dương tính biểu tượng cho ngành dương, mặt trời. Cây thông thuộc họ nhà cây dương mang dương tính vì cây có tàn hình nọc nhọn mũi mác, mũi lao, hình tam giác (trong họ này cũng có cây phi lao trông giống cây lao, một thứ khí giới) thích hợp với Tổ Hùng Mặt Trời Thái Dương mang dương tính. Trường hợp này giống như cây thông mang dương tính dùng làm cây giáng sinh cho chúa Trời (Thiên Chúa giáo là một tôn giáo duy dương). Cây thông giáng sinh nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ giáo mang hình ảnh Cây Vũ Trụ sinh ra vị Chúa Tể Loài Người là Chúa Christ (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt). Ở đây cây thông này lại được trồng ở Thượng Thế gần với bốn ngôi nhà thờ biểu tượng cho Tứ Tượng. Như thế nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ giáo và ở ngôi Đền Quốc Tổ Cây Tam Thế ở đây, cây thông cổ thụ này mang biểu tượng của Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế.

Bên phải, ở khoảng giữa Đền Trung và Đền Hạ, có Đền Giếng. Giếng thường có hình trụ tròn. Giếng đào sâu vào lòng đất tức ăn thông với cõi nước âm thế gian và với cõi âm Hạ Thế. Nhìn tổng thể giếng mang hình ảnh Trục Thế Giới nối liền ba cõi, Tam Thế với khuôn mặt thấy rõ nhất là thông thương với cõi nước, âm thế.

Tóm lược

Nhìn toàn diện thì:

.Núi Nghĩa Lĩnh là Núi Trụ Thế Gian, Núi Vũ Trụ tương đương với Núi Meru của Ấn giáo và Phật giáo có trục thế giới tương đương với Nọc, Cọc Hiến Tế, Núi Tạ Ơn các Lang, các vua Hùng, Vua Việt Mặt Trời Thái Dương.

Không còn gì để nói nữa, cấu trúc của đền Tổ Hùng ở Vĩnh Phú, Phú Thọ mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Việt Dịch Nòng Nọc dựa trên nòng nọc âm dương. Đền thờ Thần Tổ Hùng nghiêng nhiều về ngành Rắn Rồng Lạc Việt thờ chính Lạc Long Quân An Dương Vương còn Âu Cơ phía Chim Tiên để ở dưới chân núi mang một khuôn mặt thứ yếu ( xem bài viết Những Sai Sót của Các Đền Tổ Hùng Hiện Nay).

Một lần nữa, ta thấy rõ như dưới ánh sáng mặt trời Việt hừng rạng, qua cấu trúc của Đền Quốc Tổ Hùng ở Vĩnh Phú, một biểu trưng của văn hóa Việt Nam, cái cốt lõi của văn hóa Việt là Chim-Rắn, Tiên Rồng nguyên lý nòng nọc (âm dương) căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo và Việt Dịch Nòng Nọc.

Tài Liệu Tham Khảo

.Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Vinh, Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hiện ơœ Việt Nam, Viện Baœo Tàng Lịch Sưœ Việt Nam xuất baœn 1975.

.Phạm Trần Anh, Giỗ Tổ Hùng Vương, khoahoc.net, 19-4-07.

.Nguyễn Xuân Quang:

-Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt (Y Học Thường Thức, 1999).

-Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt (Y Học Thường Thức, 2002).

-Tiếng Việt Huyền Diệu (Hừng Việt, 2004).

-The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á (khoahoc.net 18 tháng 11 năm 2007).

-Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (Y Học Thường Thức, 2006).

-Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á (đã lay-out xong).

.Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua Beijing, 2004.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: