THẠP ĐỒNG ĐÀO THỊNH

 (*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

 THẠP ĐỒNG ĐÔNG SƠN

(1).

 THẠP ĐÀO THỊNH.

Nguyễn Xuân Quang

Tổng quát

Thạp nói chung là một vật đựng làm bằng đất nung, sành sứ, kim loại, có hay không có nắp, có chân (3 hay 4 chân) hay không có chân và có nhiều hình dạng khác nhau.

Về ngôn ngữ học thạp biến âm với tháp, Đại Hàn ngữ tap, Hán Việt ta tất cả có gốc từ Phạn ngữ stupa, có nghĩa là  mồ mả (Ý Nghĩa Của Tháp Phật). Ta cũng thấy rất rõ tháp (kim tự tháp) dùng làm mộ cho giới vương quyền ví dụ như Ai Cập cổ, Thổ dân Mỹ châu (Aztec, Maya) chẳng hạn. Điều này cho thấy thạp có một khuôn mặt liên hệ với chôn cất, mai táng.

Anh ngữ jar (thạp, chum, vại, bình) do gốc Phạn ngữ gar-, dạ, túi bọc, ví dụ Phạn ngữ garbha, yauna, womb, dạ con (túi đựng con), gốc Hy Lạp ngữ gastro-, dạ dầy (túi đựng thức ăn) . Gốc gar- = jar- = dạ. Jar chính là Việt ngữ dạ. Theo j = d (xe jeep = xe díp) jar = dap = thạp. Theo j = ch (Java = Chà Và), jar = chum. Ở Lào có Cánh Đồng Chum Anh ngữ gọi Fields of Stone Jars.

Như thế thạp là jar là dạ có một nghĩa liên hệ với dạ con. Thạp có một khuôn mặt là dạ con của vũ trụ vì thế mới dùng trong mai táng trong Vũ Trụ giáo. Người chết chôn trong túi vũ trụ, dạ con vũ trụ, trở về với nguồn cội vũ trụ sinh tạo, để được tái sinh hay về miền hằng cửu.

Thạp dùng trong mai táng tương đương với vò chum, thạp đất nung (Sa Huỳnh), đá (Cánh Đồng Chum), kim loại (văn hóa Đông Sơn), thạp gỗ mạ vàng (của vua chúa Myamar, Thái Lan, Lào…) dùng trong mai táng (Lào: Vén Màn Bí Mật Cánh Đồng Chum).

Bài viết này có chủ đích nói về các thạp đồng Đông Sơn.

Cho tới năm 1975, số thạp đồng tìm thấy ở Việt Nam vào khoảng 30 chiếc, nếu kể cả ở phần đất Nam Trung Hoa của Bách Việt cũ thì có 86 chiếc (Trịnh Sinh).

Ý Nghĩa và Chức Vụ Thạp Đồng

Như đã nói ở trên, thạp nói chung là một vật đựng làm bằng đất nung, sành sứ, kim loại, có hay không có nắp, có hay không có chân và có nhiều hình dạng khác nhau, vì thế ý nghĩa và chức vụ của các thạp khác nhau.

Ở đây chỉ nói về các thạp đồng Đông Sơn loại dùng trong dịch vụ mai táng.

Qua tác phẩm Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á ta đã biết thạp đồng của đại tộc Đông Sơn (có hình mặt trời ở tâm nắp và các trang trí theo văn hóa Đông Sơn) là khuôn mặt âm của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Khi lật ngược một trống đống (dương) lên ta một vật mang tính âm như chiếc cồng (loại hình nồi), chiếc cối hay vật đựng như chum vại, thạp, bát hương… Đặc biệt ta thấy rõ nhất là trống đồng nòng nọc, âm dương loại Nguyễn Xuân Quang V hay Heger II hình nón cụt khi lật ngược lên ta có hình một chiếc thạp loại thạp Đào Thịnh (xem dưới).

Như thế ta suy ra ngay thạp đồng của đại tộc Đông Sơn mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh trong Vũ Trụ giáo nhưng nghiêng về phía âm, về cõi âm, ngược với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Như đã biết, các trống đồng được dùng trong các nghi thức tin ngưỡng cho người chết như trong các lễ nghi tang ma, dùng đựng tro than, phần thân người như đầu sọ, dùng làm vật tùy táng, làm bùa phù hộ, làm thông hành, làm la bàn giúp hồn người chết về cõi vĩnh cửu để sống đời đời hay tái sinh, v.v… Vì con người là tiểu vũ trụ sinh ra từ hư vô, đại vũ trụ, từ tạo hóa khi chết trở về lại nguồn cội, để được tái sinh. Thạp đồng cũng vậy.

Chủ yếu nhất của thạp đồng là biểu tượng cho

-Sống, Chết, Sinh Sản, Mắn Sinh, Phồn Thực.

Thạp cũng như các trống lớn và trung. Trống cùng âm với sống. Sống có một nghĩa ngược với chết. Sống là sinh sống, đời sống, sinh tạo. Như thế trống mang ý nghĩa và biểu tượng chính cho sự sống, con người. Trống đồng vì vậy được dùng trong mọi nghi thức cúng tế liên hệ tới sự sống, đời sống, tới cuộc đời trước khi sanh và cuộc đời sau khi sanh và sau khi chết của con người. Thạp đồng, như đã nói ở trên, nghiêng về phía âm, ngược với trống. Trống liên hệ với sống (ta có biến âm gà trống = gà sống) còn thạp liên hệ với chết (thạp biến âm với tháp, mồ mả).

-Tái Sinh, Hằng Cửu.

Cũng như trống lớn, thạp có một khuôn mặt dùng làm dạ con của vũ trụ, làm nơi linh hồn người trút bỏ thân xác phàm tục, thanh khiết hóa để về được Thượng Thế và làm quan tài sinh tạo (Thạp Đồng Hợp Minh).

Những thạp đồng nhỏ được chôn theo người chết làm vật tùy táng, ngoài việc được dùng làm vật đựng các đồ tế lễ, thực phẩm cũng có thể tham dự vào các qui trình tế lễ cho tái sinh, hằng cửu và dùng làm tài vật cho người chết.

Hiển nhiên thạp đồng của đại tộc Đông Sơn cũng mang trọn ý nghĩa biểu tượng cho triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo nhưng là của phía nòng âm.

Vì thế chức vụ và ý nghĩa của thạp đồng của đại tộc Đông Sơn có cùng chức vụ và ý nghĩa của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn nhưng mang tính nòng âm, liên hệ nhiều với cõi sinh tạo, cõi âm (xem Ý Nghĩa và Chức Vụ Trống Đồng).

Thạp đồng dùng mai táng là một thứ chum vò mai táng bằng đồng trong thời Đồ Đồng.

Thạp đồng của đại tộc Đông Sơn có thể có hai khuôn mặt trong văn hóa lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng của Bách Việt. Văn hóa lưỡng hợp Bách Việt có hai ngành:

.Nọc, trống, dương, mặt trời Trụ của vũ trụ có một biểu tượng là trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

.Nòng, cái (cối, cồng, chum, thạp), âm, không gian Vũ của vũ trụ có một biểu tượng là cối, cồng, thạp mà các chum đá ở Cánh Đồng Chum là tiêu biểu (Lào: Vén Màn Bí Mật Cánh Đồng Chum).

Vì thế:

.Nếu nhìn thu hẹp giới hạn trong ngành nọc trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn thì thạp là khuôn mặt âm của trống đồng của ngành nọc, dương.

.Nhìn rộng ra trong văn hóa lưỡng hợp nòng nọc, âm dương của Bách Việt thì thạp đồng là khuôn mặt đồng của cả ngành nòng chum vò mai táng.

Thạp đồng dùng trong mai táng như những tiểu chôn cất (funeral urns) bằng đồng ruột thịt mẹ con với các thạp đá, chum đá ở Cánh Đồng Chum. Văn hóa trống đồng Đông Sơn nối kết với văn hóa chum đá Cánh Đồng Chum thấy rõ nét qua thạp đồng và chum đá.

Thật vậy, chiếc chum ở Bản Ang với nắp có hình giống mặt trời nọc tia sáng nằm trong không gian chính là hình bóng của thạp đồng Đào Thịnh (Lào: Vén Màn Bí Mật Cánh Đồng Chum).

.Untitled-1 copy

 Chum đá có nắp hình mặt trời và thạp đồng Đào Thịnh  Đông Sơn giống nhau. 

Văn hóa trống đồng (có cả thạp đồng) Đông Sơn và văn hóa chum đá Xiêng Khoang, Lào là hai nét cốt lõi lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng của hai ngành Nòng Việt và Nọc Việt của Bách Việt.

. Kích thước

Thạp có kích thước to nhỏ khác nhau được dùng trong các chức vụ khác nhau và mang ý nghĩa biểu tượng khác nhau.

Những thạp lớn dùng làm dạ con của vũ trụ, làm nơi linh hồn người trút bỏ thân xác phàm tục và thanh khiết hóa để về được Thượng Thế nên có thể dùng như một thứ quan tài đồng (xem Thạp Hợp Minh). Những thạp cỡ trung và nhỏ dùng đựng các phần thân thể quan trọng như đầu (trong một thạp đồng còn tìm thấy sọ người, Davidson, l.c), tro than và các phần thân thể không cháy hết như răng, xương. Các thạp trung và nhỏ cũng có thể dùng làm vật đựng tế lể, vật dâng cúng hay dùng làm tài vật cho người chết (xem Lào: Vén Màn Bí Mật Cánh Đồng Chum).

.Phân Lọai Thạp Đồng Đông Sơn Theo Hình Dạng.

Vì có khuôn mặt âm của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn và khuôn mặt nòng của chum vò thạp giống như chum đá Cánh Đồng Chum nên sự phân loại thạp đồng Đông Sơn cũng giống như sự phân loại trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (Cơ Thể Học Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á) và của chum đá Cánh Đồng Chum (Lào: Vén Màn Bí Mật Cánh Đồng Chum).

Như đã biết sự phân loại của trống đồng và chum đá Cánh Đồng Chum đều dựa theo triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. Hiển nhiên sự phân loại thạp đồng nói chung cũng phải dựa theo triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo.

Ta suy ra ngay thạp đồng cũng có 6 loại tương ứng với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn và với các chum đá Cánh Đồng Chum.

.Thạp hư vô, hư không có hình cái vò tròn biểu tượng cho hư vô, vô cực.

Những thạp này trông giống như những cái vò bằng đồng trơn hay có những trang trí là những vòng tròn diễn tả hư không.

Nhiều khi có những dạng biến đổi thành những chiếc bình hình bầu tròn dùng đựng tro than.

Nếu bình này tìm thấy trong các cổ mộ hay nhất là có chứa tro than thì đây chắc chắn là một thứ thạp nhỏ biểu tượng cho hư không hay tộc nước tùy theo tính chất của trang trí (xem dưới).

.Thạp trứng vũ trụ có hình trứng biểu tượng cho nòng nọc, âm dương nhất thể, thái cực.

.Thạp lưỡng nghi biểu tượng cho lưỡng cực:

-Cực nòng, cái: thạp cũng có hình vò tròn như thạp hư vô. Phải dựa vào chi tiết để phân biệt.

-Cực nọc, đực: thạp có hình trụ ống có các chi tiết về lửa, dương thái dương ngành nòng âm.

.Thạp tứ tượng.

-/ tứ tượng đựơc diễn tả chung trên một thạp.

Ví dụ trên nắp thạp có hình hoa bốn cánh diễn tả tứ tượng.

-/ tứ tượng được diễn tả riêng mỗi thạp biểu tượng cho một tượng.

a. Thạp tượng nước hình âu, hình nồi, hình cầu tròn.

nếu chúng được dùng làm vật mai táng và có trang trí phù hợp với nước.

Ví dụ như một vật đựng dưới đây được cho là chiếc chậu (basin).

IMG_3887

Chậu hay nắp thạp của đại tộc Đông Sơn? (Bảo Tàng Viện Lịch Sử Việt Nam ở Hà Nội, ảnh của tác giả).

Theo các trang trí ở mặt và hình các người chim-mặt trời thì vật này phải để úp mới thuận tức nghiêng về một chiếc nắp của một chiếc thạp. Nếu là chậu thì những người này ở vị thế lộn đầu xuống đất và phần đáy để xuống dưới không thấy mặt được chạm khắc tuyệt mỹ (thật là uổng phí) và bị ma sát làm hư hại.

Nếu quả đúng là một nắp thạp ta thấy rõ mặt trời có 8 nọc tia sáng Khôn tầng 2 Chấn-Đoài.

Những con cò bay có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình sóng nước ở cánh (giống như hình cò ở trống Hữu Chung) là cò nước, cò Lạc. Những người chim-mặt trời có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm là những người thuộc tộc mặt trời-nước Chấn ứng với Lạc Long Quân.

Nếu là nắp thạp thì đây là thạp tượng nước-lửa Chấn (nghiêng nhiều về tượng hơn là cực âm vì có hình người tức cõi thế gian).

Dù cho đây không phải là nắp thạp đi nữa thì đây cũng là một ví dụ dùng để soi sáng về thạp tượng nước.

b. Thạp tượng lửa hình trụ ống giống thạp cực dương. Cần phải dựa vào chi tiết để phân biệt.

Ví dụ như chiếc thạp dưới đây.

IMG_8104

Một thạp Đông Sơn hình trụ ống có nắp và ba chân (ảnh của tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Văn Minh Á Châu, Singapore).

Thạp có vành sóng cuộc hình thoi nhọn đầu mang nghĩa sóng nước dương vận hành Chấn (thường thấy trên trống sấm mưa cóc/ếch và có hình mặt nạ thủy quái mà người miền nam gọi là con nạ ở chỗ quai cầm. Con nạ có hai mắt hình hai giọt nước và có hai sừng cong mang nghĩa hai nọc âm, thái dương âm. Mặt nạ có một khuôn mặt lửa-nước thái dương Chấn, lửa thái dương phía âm.

c/Thạp tượng gió hình bầu cổ dài như cái ngỗng rượu. Đọc theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, vì là phía âm, ta phải đọc theo âm trước tức từ phía âm miệng thạp có lỗ, nên đọc từ trên xuống, ta có cổ bình hình nọc (I) và đáy bình hình bầu nòng (O). Gộp lại ta có IO, thiếu âm khí gió ngành nòng.

d/ Thạp tượng đất có trụ tròn có phần trên phình to ra (hình phần thân con vụ thon trỏn  nếu có nắp hay hình cối giã gạo trụ tròn thon lại ở dưới nếu không c1o nắp). Đọc theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, vì là phía âm, ta phải đọc theo âm trước tức từ phía âm miệng thạp có lỗ tức phần trên bầu phình có miệng O và phần dưới thạp hình trụ ống nọc I. Gộp lại thạp này  mang nghĩa thiếu dương OI, đất lửa âm.

Chúng ta biết trong núi đất có Trục Thế Giới. Con người chôn trong các thạp này có Trục Thế Giới để đi lại ba cõi nhất là về Thượng Thế. Thạp Đào Thịnh là một ví dụ điển hình (xem dưới).

.Thạp Tam Thế

Có thể có những trang trí chi tiết diễn tả Tam Thế hay Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) hoặc có hình Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) ngược.

.Thạp Tái Sinh, Hằng Cửu

Loại này có hình tròn hư vô, hình dạ con vũ trụ hay trứng vũ trụ sinh tạo, tạo hóa, nòng nọc, âm dương nhất thể hay có thể có các trang trí diễn tả qui trình tử sinh, tái sinh hằng như thuyền vong, thuyền phán xét linh hồn (xem dưới).  Mặt trời trên nắp thạp cũng cho biết tính sinh tạo, tái sinh, hằng cửu ví dụ như một chiếc thạp trên nắp có hình mặt trời 6 nọc tia sáng. Mặt trời 6 nọc tia sáng gồm Lưỡng Nghi (2), Tứ tượng (4) mang nghĩa sinh thành, sinh tạo.

mt 6 thapMột nắp có hình mặt trời 6 nọc tia sáng.

.Thạp trục thế giới.

Thạp có thể có hình trụ ống giống như loại thạp cực dương và tượng lửa nhưng các chi tiết cho biết có khuôn mặt Trục Thế Giới mang tính chủ. Ví dụ thạp diễn tả cảnh tế lễ, dâng hiến có sự hiện của các vị lãnh đạo tinh thần như ông mo, pháp sư, bà đồng, các thú vật hy sinh, các đồ dâng cúng…

Tôi nhận thấy thạp đồng hình trụ tròn có phần trên phình to ra hình thân con vụ thon tròn (nếu có nắp) hay hình cối trụ tròn đáy thon lại mang hình ảnh núi trụ ngược  và thạp hình trụ ống mang hình ảnh Trục Thế Giới là hai dạng thấy nhiều nhất trong mai táng.

IMG_3855Hai loại thạp đồng Đông Sơn thường thấy đang được trưng bầy tại Bảo Tàng Viện Lịch Sử Việt Nam ở Hà Nội (ảnh của tác giả).

GIẢI ĐỌC MỘT VÀI THẠP ĐỒNG TIÊU BIỂU.

A. Thạp Đào Thịnh

Thạp Đào Thịnh được khám phá vào năm 1961 tại thôn Đào Thịnh tỉnh Yên Bái. Bên trong thạp chứa nhiều than tro và răng người.

Hiện nay thạp được trưng bầy tại Bảo Tàng Viện Lịch Sử Việt Nam ở Hà Nội.

IMG_3839

Thạp đồng Đào Thịnh hiện đang được trưng bầy tại Bảo Tàng Viện Lịch Sử Việt Nam ở Hà Nội (ảnh của tác giả).

Niên đại

 Có tuổi khoảng 500 năm Trước Tây Lịch, có tuổi xấp xỉ với trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Kích thước

Thạp Đào Thịnh là chiếc thạp có kích thước lớn nhất phát hiện từ trước cho đến nay. Thạp có đầy đủ cả thân và nắp. Cao: 96 cm, đường kính nắp: 64 cm, đường kính đáy: 60 cm, đường kính thân nơi rộng nhất: 70 cm.

Hình dạng

Thạp Đào Thịnh hình trụ tròn có phần trên bầu phình và phần dưới chân thon nhỏ lại, với nắp đậy có hình phần thân con vụ thon tròn. Ta dã biết trống đồng lật ngược lên ta có một chiếc cối, cồng, thạp, vậy nếu ta lật ngược thạp đồng Đào Thịnh lên ta có một dạng trống tương ứng.

thapdongdaothinh.lật nguoc

Thạp đồng Đào Thịnh không có nắp lật ngược lên thành trống hình tháp trụ  tròn cụt đầu Nguyễn Xuân Quang V (Heger II).

 Đây chính là loại trống Nguyễn Xuân Quang Loại V tức trống tượng Đất Dương, trống Núi Nổng, trống Trụ Chống Trời,  trống Lửa Thế Gian, trống thiếu dương, trống Li, trống Trục Thế Giới (Heger II). Trống loại này có hình trụ chống, hình tháp nón cụt có thân và đáy xoạc ra trông giống như cây trụ cắm trên cái đế lớn.

Trống hình trụ nón cụt NXQ V Làng Vạc II, Hà có thân và đế choãi ra.

Trống loại này có khuôn mặt chính là biểu tượng cho đất dương, núi dương tức núi nhọn đỉnh, Núi Trụ Thế Gian (dương trần, thế gian, Cõi Giữa), núi lửa, lửa thế gian, thiếu dương, Li  ví dụ như trống Làng Vạc II Hùng Kì (xem trống này).

Như thế, ta thấy rõ thạp đồng Đào Thịnh có một khuôn mặt chính là núi tháp trụ tròn  ngược, âm  nhất là có một khuôn mặt Trục Thế Giới âm thông thương ba cõi. Điều này ăn khớp trăm phần trăm với chúc vụ của thạp dùng trong mai táng. Nhờ thân xác, tro than người chết chôn trong thạp, hồn người chết có Trục Thế Giới âm đi lại ba cõi.

Loại tháp có hình dạng này vì thế được dùng nhiều và thấy nhiều. Ngay cả các đồ gốm đựng đồ vật của Việt Nam hiện nay gọi là thạp cũng có dạng hình này.

Giải Đọc

Thạp đồng Đào Thịnh có những trang trí theo phong cách của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn nên ta có thể dựa vào cấu trúc cơ thể học của trống đồng nòng nọc, âm dương làm khung sườn để giải đọc.

Dao Thing jarHình vẽ chi tiết thạp đồng Đào Thịnh.

Nắp Thạp

Nắp đậy hình nón có thể coi như tương đương với một mặt trống đồng nghĩa là gồm vùng thượng thế ở tâm và vùng đất ở ngoài. Ở thạp, nắp hình vòm biểu tượng cho vòm vũ trụ, vòm trời. Ta thấy rất rõ mặt trống đồng (tương đương với nắp thạp) có vòm vũ trụ, vòm trời đập dẹp xuống hay chiếu xuống hình mặt bằng mặt trống. Nắp thạp có hình vòm vũ trụ, vòm trời cho thấy thạp mang hình ảnh túi, dạ con hư vô, vũ trụ.

Nắp có hai quai tương ứng với hai quai ở phần trên thân thạp. Quai dùng để cầm hay dùng để cột với hai quai ở phần trên thân thạp để giữ cho nắp đậy được chặt và không rơi ra.

Thượng Thế

 Gồm có:

Hư vô, Vô Cực

Diễn tả bằng vòng tròn đậm nét mang âm tính. Hư vô  âm chuyển qua không gian âm trước.

 Untitled-1 copy

Mặt trời trên thạp đồng Đào Thịnh có 20 tia sáng.

Trứng vũ trụ, thái cực.

Gồm không gian có vỏ đậm nét mang âm tính và mặt trời nhiều nọc tia sáng mang âm tính. Thái cực của ngành nòng âm, cõi âm.

Lưỡng nghi

-Cực dương

Ở chỏm nắp thạp Đào Thịnh có hình mặt trời 20 nọc tia sáng.                                

Như đã biết mặt trời số tia sáng càng nhiều càng hường về cõi nước, cõi dưới, âm thế. Theo chính thống mặt trời có số nọc hay vòng sáng bằng hay dưới 7 là mặt trời cõi trên, vũ trụ. Mặt trời có số nọc hay vòng sáng bằng hay trên 8 đến 15 là mặt trời cõi dương thế gian. Mặt trời có số nọc hay vòng sáng bằng hay trên 15 đến 23 là mặt trời cõi nước, cõi trời âm thế gian và mặt trời có số nọc hay vòng sáng bằng hay trên 24 đến 31 là mặt trời cõi âm thế, âm ty (Ý Nghĩa Hình Ngữ Mặt Trời trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Ta thấy rõ như ban ngày là mặt trời trên thạp đồng có 20 nọc tia sáng nghĩa là mặt trời của Cõi Nước, Cõi Âm.

Số 20 là số Cấn, non (núi âm) tầng 3 tức tầng nước, cõi âm trời thế gian. Rõ như ban ngày thạp Đào Thịnh như đã nói ở trên, có hình núi âm non tượng đất lửa âm hình trụ tròn phình to ở phần trên, khuôn mặt này ngược với núi trụ đất dương Li. Ta cũng thấy Cấn (Âu Cơ)  hôn phối với Chấn, theo duy dương Chấn có một khuôn mặt là nước dương, biển, mặt trời nước (Lạc Long Quân có một khuôn mặt là  Biển, Thần Biển) và theo duy âm có một khuôn mặt là mặt trời Cõi Âm (Lạc Long Quân có một khuôn mặt là mặt trời Cõi Âm có thủy phủ ở vịnh Hạ Long). Ở đây trên thạp đồng mặt trời này có khuôn mặt là mặt trời cõi nước và cả cõi âm, âm ty.

Ta thấy rõ những tia sáng nọc mũi mác ở đây ngắn, mập, ít sắc bén trông nguội lạnh mang nhiều âm tính.

Mặt trời cõi âm có rất nhiều tia sáng mang âm tính cũng thấy rõ ở Thần Mặt Trời Cõi Âm của Maya, Trung Mỹ Châu (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

-Cực âm

Khoảng không gian giữa tia sáng có hình thái đồng nhất gồm những sọc song song diễn tả không gian. Ở đây không gian mang âm tính vì vỏ không gian đậm nét,

Như thế thượng thế là hư không, trứng vũ trụ, mặt trời-không gian, vũ trụ mang âm tính của phía nòng âm của cõi trời âm.

Trung Thế

./Vùng đất

Là phần còn lại của mặtthạp.Vùng đất chia ra làm hai vùng: vùng đất dương và vùng đất âm.

.Vùng đất dương

Dao Thing jar nap

 Hình nắp thạp.

Phần đất âm có vành 8 cò bay chia thành bốn đôi bay ngược chiều kim đồng hồ và chim đứng. Cò có mỏ dài và thanh tao mang tính dương của âm tức thiếu âm khí gió. Bờm thẳng bằng ngang theo chiều gió. Cánh hình cánh diều gió. Thân dài thon trong có vẽ hình lông chim trông như một chiếc lông chim lớn. Lông chim biểu tượng cho gió. Như thế con cò này mang tính khí gió là con cò gió thiếu âm Đoài.

Con chim đứng trên mặt đất biểu tượng cho bầu trời cõi đất thiếu dương Li, không có đuôi, mỏ ngắn nhọn mang dương tính phía âm. Âm của dương là thiếu dương Li, đất.

Vành cò bay và chim đứng này diễn tả lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu âm gió cò và thiếu dương đất chim đứng tương tự như vành cò bay và chim đứng ở trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Bắc ngang qua vành chim này có bốn tượng cặp nam nữ đang làm tình ở vị trí chia đều cách nhau trên mặt thạp.

Trai thì xõa tóc, ngang hông đeo dao găm, đóng khố. Gái thì bận váy ngắn. Bộ phận sinh dục của nam giới được thể hiện rất rõ.

IMG_3854

Một cặp nam nữ đang làm tình trên nắp thạp đồng Đào Thịnh (ảnh của tác giả).  

Lưu ý trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I ở vùng đất nhân gian có cảnh sinh hoạt nhân sinh với người nhẩy múa, nhà cửa… của dương thế, ở đây trên thạp đồng Đào Thịnh có cảnh bốn cặp trai gái làm tình biểu tượng cho sinh sản, tái sinh, hằng cửu liên hệ với thượng thế.

Ngoài biên nắp thạp có hai vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, rất tiếc ở hình này nhìn không rõ.

Vùng ‘Tang’ Thạp.

Phần trên cùng của thân thạp tương ứng với vùng nước tang trống. 

Dao Thing jar tang

Phần trên cùng của thân thạp tương ứng với vùng nước tang trống.

 Có 9 vành. Số 9 là số Chấn tầng 2 thế gian. Vành chủ yếu ở giữa khắc lớn, cường điệu là hai vành sóng nước nhọn đầu diễn tả nước-lửa vận hành sinh tạo ứng với Chấn. Ở chỗ lõm hai bên điểm nối hai đầu sóng có phụ đề các chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn có chấm. Nhìn dưới dạng nhất thể, vòng tròn có chấm mang nghĩa nòng nọc, âm dương nhất thể sinh tạo. Nhìn theo duy âm của thạp và đi với vành sóng nước thì mang nghĩa mặt trời nước sinh tạo Chấn (cùng nghĩa với Atum Ra Ai Cập cổ). Vành số 4 hình sóng răng cưa nhỏ nét diễn tả sóng nước dương, một khuôn mặt của Chấn.

Vành số 9 dưới cùng diễn tả nước chẩy >>>>> theo hướng tay phải chiều dương mang nghĩa nước dương, nước lửa vận hành cũng ứng với Chấn. Nước chẩy ở vành này êm đềm hơn nước sóng cuộn nhọn đầu vành số 4 ở trên. Đây là hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương của nước đương của hai khuôn mặt âm thiếu dương và âm thái dương của nước.

Vành số 1 và số 8 là hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là thái dương nhưng ở đây đỉnh nhọn quay ra ngoài mang âm tính, phía âm.

Bốn vành 2, 3, 6, 7 là những vành sóng vòng tròn có tiếp tuyến mang nghĩa nước chuyển vận.

Như thế 9 vành này chủ yếu diễn tả khuôn mặt nước-lửa, nước dương của khuôn mặt Chấn thái dương sinh tạo, tạo hóa (xin nhắc lại Chấn có một khuôn mặt là sấm và sấm có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa. Big Bang là tiếng sấm khai thiên lập địa). Hiển nhiên khuôn mặt sinh tạo này ăn khớp với chức vụ sinh tạo, tái sinh của thạp.

Vùng Trục Thế Giới của Thân Thạp

Phần dưới vùng nước là vùng thân thạp tương đương với eo trống, trụ trống. Phần này tương ứng với Trục Thế Giới thân trống. Chủ yếu là hình 6 chiếc thuyền.

images (6)

 

Có hai hình vẽ chi tiết về hai hình thuyền.

Thuyền bên phải có mũi thuyền trông như một loài thủy quái đang há miệng bên trong có con chim có mỏ lớn mang dương tính đậu ở phía trong hàm trên. So sánh thấy giống mũi thuyền Ngọc Lũ I ở dạng lưỡng hợp Chim-Rắn. Nhưng ở đây đã thể điệu hóa rất nhiều. Hàm dưới hợp với mầu sừng ở cổ trông như đầu con cá sấu đực gharial mũi có cục u ghar ở mõm. Cá sấu cũng có một khuôn mặt liên hệ với cõi âm như con cá sấu phụ tá thần cò Thoth trong công cuộc phán xét linh hồn của Ai Cập cổ.

Mũi thuyền dù sao cũng diễn tả lưỡng hợp đại vũ trụ thái âm rắn nước với thái dương chim giống như ở mũi thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Đuôi thuyền hình mỏ chim cắt thiếu dương giống như ở đuôi thuyền trên trống Đồi Ro (xem trống này). Phía trên đuôi thuyền có hình phướn hai nọc cong diễn tả thái dương (II) âm (O) tức thiếu âm IIO, khí gió. Đây là biểu tượng của đầu chim bổ nông. Đuôi thuyền là dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu dương bồ cắt với thiếu âm bổ cắt giống như ở đuôi thuyền trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Thân thuyền nửa phía trước có viết chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  hình nước chẩy >>>> . Những chữ này nói rõ cho biết phía nửa thuyền phía trước thuộc đại tộc thái âm nước nên có mũi thuyền hình đầu rắn nước đang há miệng. Nửa thân thuyền phía sau có viết những chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn có chấm có một nghĩa là mặt trời, lửa. Những chữ này nói rõ cho biết phía nửa thuyền phía sau thuộc đại tộc thái dương lửa nên có đuôi thuyền hình đầu chim cắt.

Như thế con thuyền này là con thuyền mặt trời nước, lửa-nước Chấn.

Người trên thuyền ngoại trừ người chèo thuyền ở cuối thuyền đứng, tất cả đều ngồi. Ngồi là âm. Trang phục đầu của những người ngồi có hình cặp sừng mang nghĩa lửa, thái dương.

Người thứ 5 sau người ỡ mũi thuyền đang đánh trống. Trống là đực là nam.

Những người ngồi này thuộc đại tộc nước âm thái dương phía nam Chấn. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt  ứng với Lạc Long Quân.

Người chèo thuyền có tay chèo phía dưới có hình con cá sấu. Cá sấu cùng loài bò sát với rắn là biểu tượng của tộc nước, đất âm và cũng liên hệ với âm thế. Cá sấu thần thoại hóa thành giao hay dao long. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là biểu tượng của Giao Việt của đại tộc Lạc Việt Lạc Long Quân. Trong thần thoại Mường, Lạc Long Quân có một khuôn mặt là con cá sú Lường Vường (cá sấu Long Vương) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Như đã biết, tay chèo của thuyền là mấu chốt quan trọng để nhận diện con thuyền (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Như thế con thuyền này thuộc tộc Chấn thái dương Giao Việt, Lạc Việt.

Dưới thuyền phía trước có hình phần sau của con cá sấu. Cá sấu đứng dưới mũi thuyền cũng cho biết thuyền có khuôn mặt ngành âm nước cá sấu, rắn mang tính chủ. Phía sau có hình chim đứng. Chim và cá sấu cũng mang nghĩa lưỡng hợp nòng nọc, âm dương.

Tóm lại con thuyền này là thuyền nước-lủa Chấn thái dương của đại tộc mặt trời nước Chấn thái dương ứng với Lạc Long Quân, mũi thuyền diễn tả lưỡng hợp đại vũ trụ và đuôi thuyền diễn tả lưỡng hợp tiểu vũ trụ. Thuyền rõ ràng mang biểu tượng sinh tạo, tạo hóa.

Con thuyền thứ 2 phía sau bên trái.

Dao Thing lật ngược

Thuyền thứ 2 phía sau bên trái.

Mũi thuyền có hình rắn nước há miệng không có hình chim trong miệng. Đuôi thuyền hình chim có mỏ rất lớn. Đây là chim rìu, chim cắt. Như thế thuyền ở dạng lưỡng hợp đại vũ trụ thái âm rắn nước với thái dương chim cắt giống như thuyền trên trống Sông Đà. Ở đây thuyền không có lưỡng hợp tiểu vũ trụ mà chỉ có dạng lưỡng hợp đại vũ trụ đầu và đuôi thuyền. Thuyền này chỉ mang tính sinh tạo ở cõi tạo hóa.

Trên thân thuyền có viết chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn có chấm có nghĩa là thiếu âm Đoài hay thiếu dương Li. Ở đây trên thuyền đầu rắn mang âm tính nên có nghĩa là thiếu âm khí gió Đoài vũ trụ.

Những người trên thuyền đều đứng ngoại trừ một người  ngồi ở phía trước người chèo thuyền ở đuôi thuyền. Đứng là dương. Dương của ngành âm là thiếu âm khí gió. Trang phục đầu của những người này có hình phướn cong theo gió tạt.

Đặc biệt có một người đang giã chầy cối tay cầm chầy có đầu chầy hình phướn gió cường điệu, cao nhất thuyền. Như đã biết cối biểu tượng cho nòng âm, nữ. Cảnh giã chấy cối này mang ý nghĩa tộc gió phía âm nữ tức gió âm Tốn. Người ngồi  có dáng dấp là một người nữ đang cầm quyền trượng (ngồi là âm, thích hợp với nữ). Đây là một nữ vương hay một nữ lãnh đạo tinh thần như bà đồng…  Khuôn mặt nữ này ăn khớp với gió Tốn sinh tạo.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là hình bóng Âu Cơ có một khuôn mặt Tốn sinh tạo đẻ ra bọc trứng chim 100 Lang Hùng.

Người chèo thuyền ở đầu tay chèo có hình chim bay cũng cho biết thuyền thuộc tộc gió.

Ta cũng thấy trên thuyền có một đàn 7 con chim bay. Số 7 là số Càn, lửa vũ trụ  tầng 1 vũ trụ. Con thuyền này thuộc ngành lửa thái dương. Âu Cơ là Nàng Lửa, Thái Dương Thần Nữ thuộc ngành nọc lửa thái dương Viêm Đế-Đế Minh-Kì Dương Vương.

Những người ở thuyền sau này thuộc đại tộc khí gió Tốn ngành nữ trong khi những người ở thuyền trước thuộc đại tộc nước thái âm Chấn ngành nam.

Dưới thuyền ở phía mũi tức phía dương có một con chim đuôi dài mang dương tính. Con chim biểu tượng dương của âm nước cũng biểu tượng cho thiếu âm khí gió. Con chim đứng ở đầu mũi thuyền cho thấy thuyền có khuôn mặt chim mang tính chủ.

Ta thấy rõ ở thuyền thứ nhất, đầu thuyền có cá sấu ỡ dưới mũi thuyền. Cá sấu có một khuôn mặt đất âm thế gian của rắn nước. Ở thuyền thứ hai, dưới mũi có con chim nước. Hai thuyền này rõ ràng ở dạng lưỡng hợp chim-cá sấu, Chim-Rắn, Tiên Rồng.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt  hai thuyền này biểu tượng cho Lạc Long Quân Chấn và Mẹ Âu Cơ Tốn.

Sự lưỡng hợp, hôn phối Chấn Tốn thấy trong Tiên Thiên Bát Quái (Dịch tạo hóa). Thuyền chồng Lạc Long Quân đi trước thuyền vợ Âu Cơ theo sau.

Một bằng chứng xác thực vững chắc trăm phần trăm là giữa hai thuyền có hình hai con giao long ôm nhau. Không thể sai trật là hai con thuyền này của đại tộc rắn nước, cá sấu Chấn. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là Giao Việt của Lạc Việt Lạc Long Quân-Mẹ Âu Cơ.

Rất tiếc là không có hình vẽ chi tiết của các thuyền còn lại.

Những con thuyền này không phải là thuyền phán xét linh hồn như các thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Nhưng chúng diễn tả trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo qua lưỡng hợp đại và tiểu vũ trụ, trong đó có các qui trình sinh tử, tái sinh, hằng cửu và chúng ở trên phần giữa thân thạp tức là vùng tương ứng với eo trống có một khuôn mặt là Trục Thế Giới, vì thế chúng có thể là những thuyền vong hay thuyền tang.

Dưới thuyền là ba vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que gồm hai vành sóng vòng tròn tiếp tuyến diễn tả nước chuyển động kẹp ở giữa vành chấm lửa.

duoi thuyen

Ba vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que dưới thuyền.

Ba vành này diễn tả lửa nước ứng với Chấn.

Vùng Chân Thạp                                   

Có 9 vành. Vành chủ yếu ở chính giữa là vành có hai hình sóng nươc hình thoi nhọn đỉnh đan vào nhau và có hai hàng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn có chấm giống như ờ phần trên thân trống. Còn lại 8 vành chia ra làm hai nhóm bốn vành giống nhua ở hai bên vành chính giữa vừa nói. Mỗi nhóm 4 vành gồng hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang nghĩa thái dương nhưng ở đây đỉnh nhọn quay ra ngoài tức thái dương ngành âm. Hai vành thái dương này kẹp giữa hai vành sóng nước chuyển hành vòng tròn có tiếp tuyến. Bốn vành mang nghĩa nước thái dương ngành âm.

 Tóm lại

Thạp đồng Đào Thịnh là một thạp mai táng lớn nhất hiện nay. Thạp có hình dáng lật ngược của trống Nguyễn Xuân Quang V tức trống tượng Đất Dương, trống Núi Nổng, trống Trụ Chống Trời,  trống Lửa Thế Gian, trống thiếu dương, trống Li, trống Trục Thế Giới (Heger II). Thạp đồng Đào Thịnh vì thế cũng có một khuôn mặt Trục Thế Giới.

Nắp thạp có thượng thế là vũ trụ-không gian âm thuộc cõi nước, cõi âm. Vùng đất có tượng người làm tình biểu tượng cho sinh tạo, tái sinh, phồn thực, có vành cò bay và chim đứng là chim biểu của bầu trời thế gian sinh tạo ứng với Hùng Vương sinh tạo thế gian của liên bang Văn Lang. Thân có thuyền có thể là thuyền vong, thuyền tang của hai nhánh Rắn Chim, Nước Lửa, Chấn Tốn ứng với Âu Cơ Lạc Long Quân. Thuyền diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. Các hoa văn chữ viết nòng nọc vòng tròn-que phần lớn mang nghĩa theo dòng nòng, nước Chấn. Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que viết theo ngữ pháp của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que rất chuẩn và tuyệt hảo.

Nhìn tổng thể tất cả các chi tiết của thạp ăn khớp với khuôn mặt tử sinh, tái sinh, hằng cửu, ăn hớp tuyệt vời với chức vụ và ý nghĩa của một chiếc thạp dùng trong mai táng.

Thạp đồng Đào Thịnh là một bảo vật đứng nhất nhì đầu về phía âm trong khi trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là một tuyệt tác phẩm đứng hàng đầu về phía trống, dương.

(xem tiếp Thạp Đồng Hợp Minh).

 

 

2 comments

  1. Nhung trong dong tim thay o DongSon deu co nien dai som khoang 1000 nam-Cac trong dong/thap dong o chau tho song Hong deu co nien dai rat co, 2000 nam. Toi nghi nen lay ten Van Minh song HONG de tranh nham lan-Co 1 vi TS ở Pháp nghi lầm lẫn là tat ca tu DongSon phat xuat ra !

    1. Quang Nguyen · · Reply

      Trước hết xin cám anh đã góp ý.

      .Xin nói với anh là tôi dùng nhóm từ trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, chứ không dùng riêng nhóm từ Trống Đông Sơn, nên không có ý chỉ riêng những trống chỉ tìm được ở Đông Sơn.

      .Nhóm từ Trống Đồng Đông Sơn các nhà khảo cổ Việt Nam chỉ loại trống Heger I (Nguyễn Xuân Quang VI) vì loại này tìm thấy nhiều nhất ở Việt Nam vì thế tôi chỉ dùng nhóm từ Trống Đồng Đông Sơn theo nghĩa chỉ loại trống này mà thôi.

      .Nhóm từ Trống Đồng Đông Sơn (the Dongson Bronze Drums) hiện nay cả thế giới chấp nhận và đang dùng đã thành nếp. Tên Đông Sơn theo tôi nên giữ lại, chỉ cần bổ túc thêm vào mấy chữ “của đại tộc” để tránh hiểu lầm là chỉ nói tới trống tìm được ở Đông Sơn như anh đã hiểu như vậy.

      .Nếu căn cứ vào niện đại của trống để gọi trống đồng Đông Sơn là trống Nền Văn Minh Sông Hồng thì tôi e rằng hiện nay người Trung Quốc viện cớ là họ tìm được trống Vạn Gia Bá ở Vân Nam có niện đại cổ nhất hiện nay, thì họ sẽ theo anh gọi trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là Trống Của Nền Văn Minh Vạn Gia Bá!

      .Trên thế giới có nhiều tên con sông gọi là Sông Hồng như ở vùng quần đảo miền Tâ Indies chẳng hạn.

      Nguyễn Xuân Quang
      .

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: