TRỐNG ĐÔNG SƠN MANG SẮC THÁI NAM DƯƠNG (2 và hết).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

Phải tuân thủ luật tác quyền.

Nhuận sắc lại 26-6-2020.

TRỐNG ĐÔNG SƠN Ở NAM DƯƠNG

(phần 2 và hết)

Nguyễn Xuân Quang

 .TRỐNG SALAYAR

 Trống đào tìm thấy ở đảo Salayar, ở bờ duyên hải phía đông nam đảo Sulawesi (Celebes), Nam Dương vào thế kỷ 19, hiện để tại bảo tàng viện địa phương.

coc  salayar 2

(nguồn: A.J. B. Kempers).

SALAYAR 1

Mặt trống Salayar (Đông Nam Dương) (nguồn: A.J. B. Kempers).

Hình dáng. 

Thuộc loại trống Nguyễn Xuân Quang loại VI tức Heger I, hình nấm vũ trụ.

Thượng Thế

salayar detail0002

 Hình vẽ mặt trống Salayar dẫn lại trong The Bronze Đông Sơn Drums (Compiled by Hà Thúc Cần).

   Xin lưu ý hình vẽ quá sơ sài và thiếu sót nhiều. Ví dụ như khoảng không gian giữa tia sáng có hình thái biểu tượng cho nhánh nòng Khôn Chấn diễn tả bằng hai giọt nước dương và Đoài diễn tả bằng bờm gió, ở hình vẽ lại để trông không.

Vỏ thượng thế rất mỏng mang tính siêu dương Càn. Đúng ra phải rất dầy mang tính thái âm vì là trống sấm mưa thấy rõ qua 4 tượng ếch (xem dưới). Phải chăng người làm trống có ý muốn diễn tả không gian mang tính siêu dương Càn để lưỡng hợp với mặt trời 16 nọc tia sáng  Khôn?

Mặt Trời.

Mặt trời 16 nọc tia sáng thuộc nhóm trống mặt trời thái âm cùng nhóm với trống Hoàng Hạ. Số 16 là số Khôn tầng 3 cho biết trống có một khuôn mặt nước dương thái âm Chấn giống như trống Hoàng Hạ.

Ngoài biên trống có vành sóng gầm sấm mưa (thay vì hai vành thanh thang như ở các trống chinh thống) cho biết mặt trời thuộc bộ tộc mặt trời êm dịu nọc âm thái dương.

Không gian

Như đã nói ở trên, khoảng không gian giữa các tia sáng đồng nhất có hình thái ngành biểu của ngành nòng Chấn Đoài có hình bờm, tua gió Đoài và hai giọt nước dương hình hạt hạnh nhân Chấn (như đã nói ở hình vẽ chi tiết để trống không). Hình thái ngành âm này cho biết trống chỉ là trống biểu tượng của một ngành.

Vùng tứ hành vận hành có bốn vành:

.Vành 1 và 4 là những vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang nghĩa nọc dương thái dương.

salayar tu hanh

 Bốn vành tứ hành và hai vành chim bay.

.Vành 2 gồm hai hình sóng nhọn đầu mang dương tính đan vào nhau thành chuỗi hình thoi biểu tượng cho nước động, nước dương Chấn.

.Vành 3 rất mờ. Trong hình vẽ chi tiết ở trên để trống. Trong Hà Thúc Cần cho biết đây là vành vòng tròn có chấm có tiếp tuyến. Nếu quả đúng như vậy, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình chấm vòng tròn có một nghĩa là thiếu âm khí gió Đoài. Vành này biểu tượng cho hành khí gió Đoài.

Như thế vùng vận hành thay vì thể diễn tả tứ hành chỉ diễn tả Chấn Đoài nọc âm thái dương, nghĩa là chỉ diễn tả ngành âm Khôn thái dương ăn khớp với hình thái biểu tượng cho ngành nòng Khôn Chấn Đoài ở khoảng không gian giữa tia sáng.

Trung Thế

.Vành chim bay có đuôi dải dài.

Những con chim này mang dáng dấp giống như con chim thần thoại, có cốt là chim dải cùi hay chim trĩ thấy trên trống Sangeang Malakamau. Như đã biết chim trĩ  thuộc loài gà sống nhiều trên mặt đất là chim chủ (host) của chim phượng Trung Quốc. Chim trĩ thần thoại hóa thành chim phượng. Chim trĩ lửa này là chim biểu lửa dương thái dương Càn thế gian ứng với Đế Minh như thấy rõ đậu trên mái nhà mặt trời tam thế trên trống Ngọc Lũ I và họ hàng.

Vành kế tiếp khó nhận diện. Ở hình vẽ chi tiết chỉ vẽ những đốm đen.

Nhìn trên mặt trống có hình chim có đầu to, đuôi ngắn, cánh hình diều đang liệng trong gió. Những con chim ở vành này bay theo chiều âm, chiều kim đồng hồ ngược với vành chim trĩ lửa nọc âm thái dương ở vành trên.

Chắc chắn những con chim này mang âm tính và có biểu tượng cho mang ý nghĩa ngược với tính lửa của chim trĩ. Nói một cách khác chúng là chim biểu của đại tộc nước. Chúng có thể là chim nông, ngỗng, vịt trời.

Vì hình không rõ nên tôi xin giữ thái độ dè dặt. Hy vọng có dịp đến tận nơi, nhìn tận mắt hay có được một hình vẽ chi tiết thật chính xác trong tương lai.

Tuy nhiên đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Đế Minh có một khuôn mặt sinh tạo lửa trời thế gian ứng với Càn có một chim biểu là trĩ lửa Việt và vợ là Vụ Tiên có một khuôn mặt là nước không gian ứng với Khôn có chim biểu là vịt trời le le (Vụ Tiên có nghĩa là vịt trời Le Le), như thế những con chim nước ở vành nàycó một khuôn mặt là  loài chim nước cùng loài vịt trời, le le.

Hai vành này không thấy trên các trống chính thống của đại tộc Đông Sơn ở trên đất liền. Đây là hai vành chim biểu mang tính nòng nọc, âm dương, càn khôn đối nghịch, lưỡng hợp của cõi trời sinh tạo vùng đất dương thế gian.

.Vành hình người.

Không rõ. Theo chính thống thì phải là người tộc nước Chấn.

.Vành sóng cuộn.

Vành hình sóng cuộn biểu tượng cho nước động, nước dương Chấn. Vành này tương ứng với vành sóng chữ S kép Chấn ở trống Hoàng Hạ. Ở đây là trống muộn sóng Chấn diễn đạt một cách đơn giản bằng hình sống chữ S kép thấy rất rõ, xác thực vành chữ S kép Chấn phức tạp ở trống Hoàng Hạ là vành sóng Chấn.

.Vành mũi mác.

Sau vành sóng chữ S kép Chấn là vành mũi mác Càn. Chấn lưỡng hợp với Càn dạng thái âm thái dương đại vũ trụ. Nước mưa Chấn liên tác với chớp Càn tạo ra sấm.

.Vành sấm gầm

Vành uốn khúc hình thoi có nọc nhọn là vành sấm gầm cho biết trống có một khuôn mặt sấm. Theo chính thống phải là sấm gầm sấm mưa hình tam giác ngược (tam giác ngược có một nghĩa là nước thái dương âm).

.Vành cò bay.

vanh co bay

 Hình cò bay.

 Có con đầu cổ cong chữ S mang tính nước. Bờm có nọc lửa và sọc ngang nước tức lửa-nước sấm. Cánh hình vòm dù che mưa. Hai đầu cánh có hai chỏm lông lửa-nước đặc thù của cò sấm mưa. Hình cò sấm mưa này thấy rõ trên trống  Hữu Chung (xem trống này):

CO

Cò sấm mưa trên trống Hữu Chung có cánh hình sóng nước và hai chỏm đầu cánh hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) lửa trong có sọc nước tức lửa-nước, sấm. 

Vành có 24 con (Hà Thúc Cần). Số 24 là số Khôn tầng 4 cõi thế gian nước.

Như thế những con cò này có một khuôn mặt sấm mưa mang tính trội.

.Bốn vành kế tiếp.

Gồm hai vành nọc mũi tên thái dương. Hai vành này kẹp ở hai vành lờ mờ giống như hai vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hai vòng tròn có chấm chuyển động ngược nhau. Nếu đúng như vậy chứng diễn tả Chấn thái dương.

.Vành ngoài cùng mặt trống.

Vành này lặp lại vành sấm gầm sấm mưa ở phía trên vành cò bay. Điểm này cho thấy người làm trống có ý nhấn mạnh khuôn mặt sấm mưa của trống.

Ta cũng thấy rõ qua sự kiện là bốn tượng ếch biểu tượng cho sấm mưa ngồi trên vành sấm gầm này.

Tóm lại mặt trống cho thấy rõ trống này có một khuôn mặt mang tính chủ là lửa nước  sấm mưa Chấn ngành nọc dương thái dương.

Tang trống:

SALAYAR 2

Trống Salayar nhìn phía bên (nguồn: A.J. B. Kempers).

Phía trên tang trống có bốn vành hoa văn chữ viết nòng nọc vòng tròn-que giống như bốn vành ở kề biên trống.

Khuôn mặt chủ yếu của tang trống là các hình thuyền chuyển động theo chiều dương tức theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời.  Rất tiếc là không biết rõ bao nhiêu thuyền. Điểm khác biệt đáng chú ý nhất của thuyền ở đây là đầu thuyền có hình chim.

salayarthuyền đầu chim

Mũi thuyền có hình đầu chim cắt mỏ rìu có mũ sừng.

Thuyền đầu chim ở đây thấy rõ chim có mỏ rất lớn hình rìu và đầu có sừng. Trong mũ sứng có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình chấm vòng tròn có một nghĩa là mặt trời, lửa vũ trụ sinh tạo. Chữ này là tên của chim. Đây là chim lửa vũ trụ có mỏ rìu, đầu có mũ sừng tức chim cắt (chim Việt, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế). Đây đích thị là thuyền có đầu thuyền hình đầu chim cắt.

Trong khi thuyền ở trống đồng âm dương Hoàng Hạ đầu thuyền là đầu rắn nước há miệng có hình chim mỏ rìu cắm vào miệng dưới rạng lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng dạng lưỡng hợp đại vũ trụ thái âm thái dương.

Rất tiếc đuôi thuyền nhìn không rõ, không biết có phải đuôi thuyền có hình đuôi chim cắt hay mỏ chim nông không? Theo chính thống đầu và đuôi thuyền phải có lưỡng hợp nòng nọc, âm dương.  Ví dụ như ở trống Hoàng Hạ đầu thuyền có dạng lưỡng hợp đại vũ trụ chim lửa-rắn nước, đuôi thuyền có dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ chim nông-chim cắt. Ở những trống muộn có lưỡng hợp nòng nọc, âm dương dạng đầu thuyền thái âm rắn nước và đuôi thuyền thái dương chim hay mỏ chim lửa như thấy ở thuyền trên trống Sông Đà có đầu thuyền rắn nước, đuôi thuyền đầu chim cắt (xem Chương Ý Nghĩa Hình Thuyền). Như thế ở đây theo chính thống đuôi thuyền phải có các yếu tố rắn nước để có dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương.

Tuy nhiên, ở Nam Dương đôi khi sự lưỡng hợp nòng nọc, âm dương này được diễn tả bằng hai loại thuyền rắn nước và thuyền chim cắt riêng rẽ gọi là thuyền vong hay thuyền linh hồn (soul boats and/or Boats of the Spirits).

Thuyền vong chở vong linh người chết về miền vĩnh cửu. Thuyền vong của người Ngaju, Dayak, Borneo, Indonesia gồm có thuyền Rắn Nước hay Thuyền Vàng (Watersnake or Gold-boat) chở vong linh phái nữ.

thuyen ran nuoc

và thuyền Bổ Cắt hay thuyền Châu Báu (Hornbill or Jewel-boat) dùng cho phái nam:

thuyen chim cat

Rất tiếc ở đây không có đủ hình tất cả các con thuyền nên không biết thuyền có hình đầu chim này còn có thuyền hình đầu rắn nước nào nữa không?

Trên thuyền có những người mặt trời thể điệu hóa hình chim.

Rõ ràng đây là thuyền vong chim bổ cắt của ngành nọc dương thái dương.

Ở đây các thuyền vong này xác thực các thuyền trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ, Ngọc Lũ I và các trống cùng nhóm là những thuyền liên hệ với cõi âm. Những thuyền trên các trống này là Thuyền Phán Xét Linh Hồn. Tuyệt nhiên không phải là thuyền chiến, thuyền lể ăn mừng chiến thắng vinh quang trở về. 

Giữa các thuyền có hình chim. Những con chim đuôi ngắn có hình giống họ nhà gà. Ở đây là vùng nước, chúng có thể thuộc loài ‘gà nước’ (water hen) chim quốc. Có những con chim đuôi dài được cho là chim công. Có một điều tôi thấy không đúng là đuôi các con chim ở đây có đầu bằng của loài trĩ trong khi duôi công hình vòm tròn, khi xòe lên có hình quạt như quạt giấy.

Nếu quả thật chúng là chim công thì đây là một lỗi lầm chết người vì công là chim biểu tượng cho nọc, dương, mặt trời chỉ thấy ở vùng trời, đất không bao giờ có ở vùng nước vì chim công không biết bơi.

Một điểm cần nói thêm nữa là chim công là chim biểu thường thấy nhiều trong văn hóa Ấn-Độ. Nếu quả thật là công thì đây là sự hiện điện của văn hóa Ấn-Độ trong văn hóa Nam Dương.

Ngoài chim, cũng còn có hình cá. Hai con cá trong hình cũng diễn tả theo cặp nòng nọc, âm dương. Một con phía sau có vi mang dương tính và con phía trước thon tròn không có vi mang âm tính.

Chân của tang trống có hình sấm gầm.

Hạ Thế

 Chân trống trang trí rất tỉ mỉ có những hình hoa văn và có cả hình chim thú. Trang trí ở đây cho thấy trống này là trống mất chính thống vì đã phá lệ là hạ thế là cõi tăm tối không có trang trí.

Trên và dưới chân trống có hai vành hình vỉ hình thoi. Hình thoi là khuôn mặt âm của hình vuông hay là dạng hình vuông đang chuyển động có một khuôn mặt biểu tượng cho cho gió chuyển động. Nhưng ở những trống muộn dạng thể điệu hóa hình thoi cũng biểu tượng cho nước chuyển động như đã thấy ở trên.

Vành ở giữa có hình voi. Voi không thấy trên các trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn tìm thấy ở Việt Nam nhưng thấy nhiều trên các trống muộn làm ở Lào, Thái, Myanmar. Ở Nam Dương có loài voi lùn (pygmy rất đặc biệt).

Ngoài ra còn có cây dừa, đây là hình ảnh đặc thù của hải đảo.

Trục Thế Giới

Trên đầu thân trống có vành sấm gầm và dưới chân thân trống có các vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que giống như ở tang trống.

Những nẹp đứng chia thân trống ra nhiều ô có 5 vành. Vành ở giữa là vành sấm gầm mang tính chủ.

Trong các ô có hình người chim thể điệu hóa cực độ.

Tóm lược

Đây là trống mặt trời 16 nọc tia sáng rạng ngời cùng nhóm với trống đồng âm dương Hoàng Hạ thuộc nhóm trống mặt trời thái âm Khôn, tầng 3 (mang nhiều âm tính hơn trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng Khôn dương Đoài).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt ứng với đại tộc Lạc Long Quân phía Thần Nông.

Trống này là dạng muộn, đơn giản hóa và ngược với trống Hoàng Hạ tuy cùng nhóm mặt trời thái âm.

.Trống Hoàng Hạ cũng là mặt trời thái âm 16 nọc tia sáng nhưng thuộc bộ tộc mặt trời chói sáng nọc dương thái dương có hai vành mũi mác ở ngoài biên trống. Trong khi trống Salayar thuộc bộ tộc mặt trời êm dịu có vành sấm gầm sấm mưa ngoài biên trống.

.Trống Ngọc Lũ I có khoảng không gian giữa các tia sáng mang nghĩa tứ tượng và vùng vận hành có tứ hành dương ở đây chỉ có hình thái của nhánh nòng Khôn Chấn Đoài và vùng vận hành chỉ diễn tả tộc Chấn.

.Trống đã muộn vì có nhiều lỗi lầm chết người.

.Trống có thể làm tại Nam Dương hay được đặt làm ở Việt Nam hay ở địa bàn của đại tộc Đông Sơn theo ý của chủ nhân ở Nam Dương vì có những yếu tố đặc thù của văn hóa Nam Dương như có thêm vành chim trĩ, ngỗng hay chim nông; ngoài tận cùng của biên trống có vành sấm gầm với các tượng ếch ngồi trên vành này; có thuyền vong chim cắt hay thuyền châu báu (Hornbill or Jewel-boat); chim công; đế trống có trang trí cây dừa…

 Kết Luận Về Các Trống Đông Sơn Mang Sắc Thái Nam Dương. 

 Ở đây rút tỉa ra được nhiều điều quí giá.

Những trống Đông Sơn mang sắc thái văn hóa Nam Dương thường là trống muộn, đôi lúc có những lỗi lầm chết người, chúng được diễn tả theo văn hóa địa phương nên cách diễn tả chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, dịch  thường bình dân, dễ hiểu hơn.

Chúng giúp chúng ta kiểm chứng và hiểu rõ thêm những khúc mắc ở các trống cổ chính thống của đại tộc Đông Sơn.

Ở đây trống Sangeang Malakamau và Salayar có thêm vành chim vật tổ họ nhà trĩ tương đương với chim phượng Trung Hoa. Trên nóc nhà ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I cũng có hình chim biểu trĩ. Điều này xác thực vật biểu chim cõi trời thế gian ngành lửa Đế Minh có chim biểu là chim trĩ lửa, trĩ Việt.

Ở trống Salayar lại có thêm vành chim âm, nước bay theo chiều kim đồng hồ họ nhà nông, ngỗng, vịt trời ứng với Vụ Tiên, vợ Đế Minh.

Hai vành này không thấy trên các trống chính thống của đại tộc Đông Sơn ở trên đất liền. Điểm này cho thấy khuôn mặt trời nữ, âm nam còn được tôn vinh vì họ là một thứ Lạc Việt Hải Đảo.

Vành người thể điệu hóa tối đa vì là trống muộn. Trống trống Hoàng Hạ là trống biểu của họ người mặt trời chim bồ cắt Chấn trong khi ở đây là trống biểu của một tộc Chấn với khuôn mặt là trống sấm mưa. Trống Salayar giống trống sấm mưa Hữu Đông Sơn Việt Nam nhưng làm theo sắc thái trống Nam Dương với diểm sai lệch truyền thống Đông Sơn.

Ở đây ta có thể rút ra một điều là vành cò bay thường thấy gần ngoài biên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là chim biểu của vùng trời đất âm mang tính thái dương II của phía nòng O tức Đoài IIO.

Cò Đoài là chim biểu của Tổ Lang có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa là bầu trời sinh ra từ bọc trứng thế gian đội lốt trứng vũ trụ.

Ta thấy rất rõ vành chim trĩ là vành chim thái dương (II) của ngành nọc Viêm Đế (I) tức Càn và cò là chim biểu thái dương (II) của ngành nòng Thần Nông (O) tức Đoài (IIO).

Hình ếch ngồi trên vành sấm gầm nhấn mạnh khuôn mặt sấm của vành uốn khúc hình thoi có mũi nhọn.

Sự hiện diện của ếch trên trống sấm mưa Salayar (trong khi không có mặt trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ) xác thực Chấn có một khuôn mặt là Thần Sấm. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Chấn Lạc Long Quân có một khuôn mặt thần sấm có nhà ở đầu non Âu Cơ.

Sấm cũng cho thấy Lạc Long Quân có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa.

Hình thuyền vong chim cắt là nét đặc thù trong văn hóa Dayak, Lạc Việt Hải Đảo. Các thuyền vong này xác thực các thuyền trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ, Ngọc Lũ I và các trống cùng nhóm là những thuyền liên hệ với cõi âm, chúng là nhữngThuyền Phán Xét Linh Hồn. Tuyệt nhiên không phải là thuyền chiến, thuyền lể ăn mừng chiến thắng vinh quang trở về.

Các thuyền vong ở trống Salayar này cũng giống thuyền vong của Dayak và Mường Việt (xem Ý Nghĩa Hình Thuyền).

Các trống Đông Sơn mang sắc thái Nam Dương giúp ta truy tìm, kiểm chứng, xác thực văn hóa cổ Việt Nam:

Chim cắt là chim rìu, chim Việt, chim nọc là chim biểu của Viêm Đế  di cặp với rắn nước là rắn nòng, rắn dòng, rắn rống, thú biểu của phía Thần Nông. Đây là  hai vật tổ sinh tạo của Bách Việt, Việt Nam ở cõi trên tạo hóa còn thấy rất rõ và rất nhiều ở Đa Đảo. Rồng Komodo cùng loài bò sát với rắn, cá sấu là một khuôn mặt của phía Thần Nông. Cốt lõi văn hóa Bách Việt là Chim-Rắn, sau này thần thoại hóa thành Tiên Rồng.

Chim trĩ, vịt trời chim biểu của Đế Minh Vụ Tiên ở cõi trên thế gian.

.Hươu sủa, mang gạc, muntjac tiếng Mã Lai là kijang chính là thú biểu đất thế gian của Hươu Nọc, Lộc Tục, Kì Dương Vương.

.Hình rồng Komodo trên trống Sangeang Malakamau xác thực sự liên hệ của tộc ở đảo Sangeang vùng Lesser Sunda với các tộc Ao Nga ở Assam, một thứ liên hiệp Âu Long, Âu Lạc họ cũng có vật tổ rắn, thằn lằm chim cắt, chim Việt. Người Ao cũng có chiếc nón thúng hình mặt trời như giống như chiếc nón cổ truyền (nón ba tầm, quai thao,) của phụ nữ Việt. Trước đây họ cũng có tục săn đầu người như các tộc ở Borneo Nam Dương, về sau tục này bị người Anh cấm (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Truyền thuyết và cổ sử Việt đã được các trống Nam Dương ghi khắc lại rành rành.

Sự hiện diện của các thú, cây cỏ đặc thù địa phương như rồng Komodo, cây dừa, chim công, voi xác thực trống làm tại địa phương hay được đặt làm từ cái nôi của văn hóa Đông Sơn .

.Đế trống có trang trí nhất là trang trí cảnh người và vật mang phong cách cõi âm ở trên trống Sangeang Malakamau xác thực đế trống là Hạ Thế, cõi âm.

.Ở Nam Dương trống được thờ phượng như một thần linh như trống Trăng Bali có riêng cả một ngôi đền nguy nga Pura Penataran Sasih ở gần thành phố văn hóa Ubud để thờ (xem dưới). Trống chỉ dùng trong các địch vụ tín ngưỡng. Điều này cho thấy trồng đồng của đại tộc Đông Sơn là trống thiêng liêng, trống thờ, trống biểu của vũ trụ giáo, không phải là một nhạc cụ bộ gõ. Việc dùng trống đồng để nhẩy múa trong các lễ lạc thấy ở Nam Trung Hoa, Lào, Thái, Myanmar… là hoàn toàn vong bản, bịa đặt.

Bên cạnh các trống Đông Sơn mang sắc thái Nam Dương này có một loại trống đặc thù của trống đồng Nam Dương là loại trống Pejeng (xem trống này).

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: