Ý NGHĨA THÁP CHÙA (1).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài). 

Ý NGHĨA CỦA THÁP CHÙA.

 (phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

 

Ta đã biết Vũ Trụ giáo là một thứ tín ngưỡng lâu đời nhất của loài người kế tiếp theo sau sự tôn thờ sinh thực khí. Vũ Trụ giáo còn để lại nhiều ảnh hưởng trong các tôn giáo lớn ngày nay như Ấn-Độ giáo, Phật giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo (xem những bài viết riêng).

Phật giáo bị ảnh hưởng của Vũ Trụ giáo trực tiếp hay có thể qua Ấn giáo. Dù gì thì Vũ Trụ giáo có mặt rất rõ trong Phật giáo và dĩ nhiên cũng biến thể đi ít nhiều giống như trong các tôn giáo khác.

Tháp là một kiến trúc chính yếu và đặc thù thường thấy ở những chùa chiền. Tôi gọi đây là tháp chùa hay tháp Phật. Trong Phật giáo nguyên thủy (Thevada), nhiều khi tháp còn nổi trội và là khuôn mặt chính yếu của chùa chiền ví dụ như thấy ở các chùa ở Tích Lan, Myammar, Thái Lan, Campuchia. Do đó tháp Phật mang một ý nghĩa biểu tượng của triết thuyết Phật giáo.

Hiện nay các nhà nghiên cứu Phật giáo chỉ nhìn tháp chùa theo con mắt nhà Phật, đạo Phật. Tháp Phật được hiểu theo các tượng đài vốn mang ý nghĩa tín ngưỡng thờ phượng chồng lấp với Ấn giáo. Vì vậy tháp được cho là mang hình ảnh núi Meru thấy có mặt trong Phật giáo và trong Ấn giáo. Núi Meru là Núi Vũ Trụ, Trụ Thế Gian, trong có Trục Thế Giới. Núi Meru là nhà của thượng đế, các vị thần linh và có một khuôn mặt là đỉnh vũ trụ. Núi Vũ Trụ Meru mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh của vũ trụ giáo. Vì thế theo thời gian tháp mang ý nghĩa biểu tưởng cho vũ trụ quan của Phật giáo.

Theo tôi muốn hiểu thấu đáo, minh bạch, có qui củ và có hệ thống ta phải nhìn tháp chùa tới tận nguồn gốc tận cùng là dưới lăng kính Vũ Trụ giáo.

Bây giờ ta hãy tìm hiểu ý nghĩa tháp chùa theo khuôn khổ Vũ Trụ giáo. Trước tiên ta hãy tìm hiểu kiến trúc của một tháp chùa. Kiến trúc của tháp hiển nhiên chuyên chở ý nghĩa biểu tượng của tháp chùa tức vũ trụ quan của Phật giáo.

Tháp là gì?

Tháp Phật Anh ngữ gọi là stupa, Ấn-Độ, Nepal là chaitya, Tây Tạng là chorten, Tích Lan là dagoba (từ này đẻ ra từ pagoda vì thế ở nhiều nơi gọi tháp là pagoda như ở Đại Hàn và nhiều pagoda làm theo hình tháp Phật), Thái Lan là chedi, Việt ngữ là tháp, Lào là thâat, Nhật Bản là to, Hán Việt là ta, Đại Hàn là t’ap…

Tháp có gốc từ Phạn ngữ stupa có nghĩa là nấm mồ vào thời cổ ở Ấn-Độ. Stupa có trước thời Phật giáo sau đó du nhập vào Phật giáo thành tappa rồi thành tap.

Stupa với nghĩa nấm mồ ruột thịt với ruột thịt với caitya, chaitya. Caitya có nghĩa là gò đống, đài, tháp Phật (stupa), trụ kim tự tháp nơi chôn tro than người chết, liên hệ với chôn cất, mai táng. Còn Chaitya, có gốc Phạn ngữ Chita là pyre (lửa, dàn hỏa táng) hay ‘pile of as’h (đống tro than). Như thế ta thấy rõ chai– ruột thịt với Việt ngữ cháy (cháy có lửa, có tro than). Như vậy chaitya nguyên nghĩa là lửa, hỏa táng, tro than ruột thịt với đống, gò, mộ, mả caitya.

Cuối cùng Chaity chỉ nơi thờ tự người chết, làm nơi dùng thờ Phật, tụng niệm, tĩnh tâm và thiền định, là đền, chùa, chiền, tự. Thấy một kiến trúc Phật giáo có tháp Phật thì đó là một chaitya. Theo biến âm ua = ai thấy qua kiểu biến âm từ đôi, từ láy như của cải, đưa đãi, thừa thãi)… Ta có Chùa = Chai. Việt ngữ Chùa có thể ruột thịt với Chaitya.

Tóm lại trong Phật giáo chaitya có nghĩa gốc là chỗ thờ tro than và xá lợi Phật chôn trong các gò đống, đài, tháp stupa. Tháp trở thành một kiến trúc thờ phượng thiêng liêng.

Sau đó, ở những nơi không có được tro thân Phật, tháp được dùng để các tượng Phật ví dụ như các tháp ở Borobudur, Java, Nam Dương có vòm bầu trống rỗng hình mạng lưới bên trong có tượng Phật ngồi.

Untitled-1 copyTháp hình chuông có cán  trong có tượng Phật ở Borobudur, Java Nam Dương. 

Tháp cũng dùng để cất giữ những bảo vật linh thiêng của Phật giáo như kinh Phật. Tại Myanmar ngôi chùa Kuthodaw ở Madalay có 729 tháp nhỏ gọi là pitaka, mỗi tháp chứa một bia đá khắc một trang kinh của bộ kinh Phật thiêng liêng Tam Tạng Kinh Tripitaka.

Untitled-1 copy

Chùa Kuthodaw ở Madalay, Myanmar có 729 tháp nhỏ, mỗi tháp chứa một bia đá khắc một trang kinh của bộ kinh Phật thiêng liêng Tam Tạng Kinh Tripitaka.

Trong tháp Seokgatap Đại Hàn có chứa bộ kinh Pure Light Dharani, được coi là một tác phẩm mộc bản cổ nhất thế giới vào khoảng năm 704 và 751 Sau Tây Lịch.

Và tháp để cất giữ tro, thân của các vị cao tăng. Ngày nay tại Lào, tro thân của các vua chúa, vương giả cũng còn được chôn cất trong các tháp chùa.

Ý Nghĩa Tổng Quát Của Tháp Phật.

Hiện nay tổng quát tháp được hiểu là biểu tượng cho vũ trụ quan của Phật giáo.

Vòm tháp biểu tượng cho vòm hư không, vòm trời, Thượng Thế. Đế vuông biểu tượng cho cõi giữa trần gian, Trung Thế và phần hầm biểu tượng cho Hạ Thế. Trục tung thẳng đứng và trục hoành nằm ngang biểu tượng cho các trục vũ trụ. Trục đứng mang hình ảnh của Núi Trụ Chống Trời, Trụ, Cột, Cây và Con Người Nguyên Khởi (sinh ra từ Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Trong Phật giáo, Phật cũng được diễn tả là Trụ Lửa (fiery pillar) (xem dưới) và trục đứng là đường lên Nĩết Bàn.

Giao điểm của hai trục là tâm vũ trụ. Bốn mặt tháp và cửa tháp (nếu có) ứng với bốn phương trời biểu tượng cho tứ tượng. Chỏm tháp biểu tượng cho đỉnh vũ trụ.

Ta thấy rõ tháp chùa mang trọn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo.

 Kiến Trúc Bên Ngoài Của Tháp Chùa và Vũ Trụ Giáo.

Bây giờ ta tìm hiểu ý nghĩa hình dạng bên ngoài của một tháp chùa theo triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. Hình dạng của tháp thay đổi theo thời gian, theo giáo phái của đạo Phật, theo Phật giáo địa phương (đã bị ảnh hưởng thêm của tín ngưỡng, văn hóa địa phương). Tháp có thể có hình cầu tròn, hình trụ tròn hay hình kim tự tháp. Các tháp chùa Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và các nước khác có thể có các dạng biến thể khác.

Tóm tắt như đã biết, Vũ Trụ giáo có Vũ Trụ Tạo Sinh dựa trên nguyên lý nòng nọc, âm dương, dịch lý. Qui trình của Vũ Trụ Tạo Sinh gồm những giai đoạn hư vô, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, vũ trụ tam thế, sinh tử, tái sinh và hằng cửu. Sinh tử tái sinh hằng cửu là điểm chấm dứt, cuối cùng và cũng là điểm trở về chỗ khởi đầu là hư vô, vô cực của vòng vũ trụ tạo sinh.

Ta hãy quan sát hình dạng tháp qua các lăng kính này.

.Hư vô

Hư vô, hư không chỉ vũ trụ khi còn là một cái bọc rỗng không, còn trung tính gọi là vô cực. Lúc này hư vô được diễn tả bằng một hình cầu hay một vòng tròn đứt đoạn hay bằng một vòng tròn liền khi tiến vào giai đoạn định hình.

Thoạt khởi đầu các nấm mồ thường đơn giản chỉ là những mô, đống đất, những mộ hình cầu tròn như còn thấy qua những nấm mộ của vua chúa và thường dân Đại Hàn ngày nay. Các ngôi mộ này còn giữ dạng hư vô có hình cầu tròn (xem Tương Đồng Với Cổ Sử Đại Hàn 2).

TEXT

Mộ gò đồng hình cầu tròn chôn các vua Triều Tiên tại Khánh Châu (Gyeongju), đế đô của Tân La, Silla (ảnh của tác giả).

Tháp nguyên thủy là một ngôi mộ vì thế các tháp chùa nguyên thủy có hình cầu tròn cũng mang nghĩa biểu tượng cho hư vô. Điều này dễ hiểu, con người sinh ra từ hư vô, khi chết được chôn trong các mồ hình cầu tròn hư vô để trở về hư vô. Tháp càng cổ càng có hình này. Ví dụ điển hình nhất là ngôi tháp cổ (dĩ nhiên là) ở Ấn-Độ, nơi Đức Phật lìa thế gian. Tro thân của ngài được chôn cất trong các bảo tháp gọi là Paltap và được gởi đến 8 vùng khác.

.Bảo tháp cổ nhất xây cất vào năm thứ nhất Trước Tây Lịch hiện còn tồn tại ở phế tích Sanchi ở Madhya Pradesh có hình vòm cầu tròn, hình bán cầu úp có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô, bầu vũ trụ, bầu không gian.

Untitled-1 copy

Đại tháp Sanchi ở Ấn-Độ (nguồn A Field Guide to History Gyeongju).

Phần chỏm tháp hình lọng dù ba tầng biểu tượng cho Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống. Tháp diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ Tạo Sinh từ hư vô cho tới Tam Thế biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

.Đại tháp hình cầu tròn ở Amaravati, thế kỷ thứ 3 Sau Tây Lịch tại Andhra Pradesh, Ấn-Độ:

img_8076

Một tấm đá khắc nổi cho thấy hình Đại Tháp ở Amaravati, thế kỷ thứ 3 Sau Tây Lịch ở Andhra Pradesh, Ấn-Độ (Bảo Tàng Viện Anh).

.Chùa Đá Vàng Kyaiktiyo (Golden Rock Pagoda) (thật ra là tháp) ở tiểu bang người Mon, Myanmar có hình tháp. Phần chính của tháp là tảng đá tròn nằm vắt vẻo một phần nhỏ trên một nền là một tảng đá khác. Phần bầu tảng đá của tháp biểu tượng cho hư vô. Phần chóp trên diễn tả Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Tháp diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ Tạo Sinh từ hư vô cho tới Tam Thế biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ.

IMG_1000

Chùa Đá Vàng Kyaiktiyo (Golden Rock Pogoda) ở tiểu bang người Mon, Myanmar.

Theo truyền thuyết tảng đá nằm trên một sợi tóc Phật nên được sợi tóc giữ lại không lăn xuống vực sâu.

.Tháp quả dưa hấu makmo ở ngôi chùa Visounnarat cổ nhất ở Luang Prabang, Lào.

IMG_3981

Tháp quả dưa hấu makmo ở ngôi chùa Visounnarat cổ nhất ở Luang Prabang, Lào (ảnh Michelle Mai Nguyễn).

Vua Vixoun được chôn trong tháp hình dưa hấu hình cầu tròn này để được trở về Hư vô.

 .Thái Cực hay Trứng Vũ Trụ.

Hư vô cực hóa thành nòng nọc, âm dương nhưng nòng nọc, âm dương vẫn còn quện vào nhau. Lúc này thường được diễn tả bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ vòng tròn có chấm (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ chấm-vòng tròn), trong triết thuyết tín ngưỡng là đĩa Thái cực hay Trứng Vũ Trụ.

Những tháp chùa diễn tả giai đoạn này của Vũ Trụ Tạo Sinh có hình trứng. Ví dụ

.Tháp hình quả bầu Buphaya ở Bagan, Myanmar.

buphaya

Tháp hình quả bầu Buphaya ở Bagan.

Theo huyền thoại thì vua Pyusawhti, vị vua thứ ba của triều đại Bagan cho xây tháp hình qủa bầu này sau khi chiến thắng diệt được cây bầu khổng lồ có dây đan chằng chịt khắp cả đất Bagan. Dĩ nhiên đây chỉ là truyền thuyết dân dã. Thật sự phải hiểu theo triết thuyết tín ngưỡng, hình quả bầu thon dài hình trứng này diễn tả bầu vũ trụ, bầu trời ứng với trứng vũ trụ, thái cực mang nghĩa sinh tạo, tạo hóa.

Về sau này, trong các kiến trúc tôn giáo, trong đó có Phật giáo, tháp thường có hình dạng quả bầu nậm nòng nọc, âm dương. Tháp hình quả bầu nậm âm dương có phần trụ nhọn (spire) phía trên biểu tượng cho nọc, dương, phần vòm (dome) bầu ở dưới biểu tượng cho nòng, âm. Nhìn dưới dạng nhất thể đây là tháp nòng nọc, âm dương còn quyện vào nhau ở giai kỳ thái cực hay trứng vũ trụ trong Vũ Trụ Tạo Sinh.

Ví dụ như tháp Dhamekh ở Lộc Uyển, Sarnath, Ấn Độ xây vào thế kỷ thứ 5 Sau Tây Lịch. Đây là nơi Đức Phật Tổ Siddharta Gautama thuyết pháp đầu tiên sau khi ngài thành đạo vào năm 528 Trước Tây Lịch. Ngài thuyết giảng cho năm vị môn đồ. Đây là nơi khai sinh ra Phật giáo.

MADESH

Tháp Dhamekh ở Lộc Uyển (Deer Park) Sarnath Ấn Độ.

Tháp này trông tương tự như một quả bầu nậm khổng lồ có phần trên hình trụ nọc và phần dưới hình bầu vòm nòng mang nghĩa bầu âm dương.

Về sau nữa, tháp bầu nậm biến dạng thành hình chuông có cán nòng nọc, âm dương (phần nọc chỏm tháp là nọc dương, phần bầu tròn ở dưới là nòng âm).

PRAYER BELL

Chuông cầu nguyện hình bầu nậm Tây Tạng (kỷ vật tác giả mua ở Tibet).

Đức Dalai Lama thường lắc chiếc chuông có cán hình bầu nậm này khi cầu nguyện, tế lễ. Nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ giáo, lắc chuông bầu nậm nòng nọc, âm dương này là khơi động sự liên tác giữa nòng nọc, âm dương khởi đầu cho quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh…

Ví dụ như tháp Shwewadon ở Yangon, Myanmar:

IMG_0642

Tháp  Shwewadon ở Yangon, Myanmar.

.Lưỡng nghi

Thái cực phân cực thành hai cực âm và dương.

Có hai dạng:

Một là có hai tháp mang tính nòng nọc, âm dương riêng rẽ đi đôi với nhau. Tháp diễn tả cực âm có hình cầu tròn giống như tháp hư vô. Phải dựa vào các chi tiết khác để phân biệt.

Tháp diễn tả cực dương có hình trụ tròn.

Nhiều khi ở nhiều nơi hai tháp nòng nọc, âm dương này tổng quát trông giống nhau, chỉ có các chi tiết diễn tả nòng nọc, âm dương khác nhau. Ví dụ như ở Phật Quốc Tự, Đại Hàn, có hai tháp cái, âm và đực, dương đều có hình tổng quát hình trụ vuông nhỏ dần khi lên cao. Đó là tháp đá, đực, dương Dabotap ở phía Đông bên phải (lưu ý, phía Đông, bên phải là phía dương, ở đây là phía Đông mặt trời mọc nên tháp mang dương tính).

Tháp đá đực Dabotap, Phật Quốc Tự, Nam Hàn.

Tháp gọi là tháp dương có chỏm tháp hình trụ nọc nhọn cường điệu ở trên một đế hình bát giác. Số 8 là số Khôn tầng 1 có một khuôn mặt là bầu trời, không gian. Phần nọc nhọn là nọc dương, Càn. Chỏm tháp mang nghĩa Càn Khôn. Ta thấy chỏm tháp là dạng dương hóa của chỏm hình bầu nậm nòng nọc, âm dương Càn Khôn. Dabotap là tháp Đa Bảo (Many Treasure Pagoda) cao 10.4 m và để hiến dâng cho Đa Bảo Phật nói trong Kinh Liên Hoa. Dabotap trang trí rất tinh tế, thẩm mỹ làm vào thời đầu của Silla Thống Nhất, khác hẳn với các tháp trước đó.

Tháp có ba tầng không kể chỏm tháp và phần chân tháp (lưu ý nhìn tháp thấy có bao nhiêu mái thì biết tháp có bấy nhiêu tầng).

Tầng thứ nhất ở dưới có mái vuông vững chắc bề thế biểu tượng cho cõi Đất. Tầng 2 có mái tám cạnh thon gọn, nhẹ nhõm. Số 8 là số Khôn tầng một. Khôn có khuôn mặt là Khôn âm Chấn đại diện. Tầng này biểu tượng cho Nước dương. Tầng 3 có mái tròn dịu dàng, thanh thoát. Hình tròn biểu tượng cho bầu vũ trụ, bầu trời. Tầng này biểu tượng cho cõi Khí Gió. Ba tầng tháp biểu tượng cho ba cõi, ba tiểu thế.

Nhìn tháp thấy có nhiều nét cứng, càng đi lên càng mềm dịu đi.

Có bốn con sư tử đá ngồi ở bốn mặt tầng 1. Sư tử liên hệ với Phật Thích Ca thuộc dòng họ Sư Tử. Hiện nay chỉ còn lại một con. Trang trí cho thấy chúng được làm sau này và được đặt thêm vào.

Tháp cái, âm Seokgatap ở phía Tây, bên trái (phía Tây bên trái là phía âm, ở đây tháp nằm ở phía Tây mang âm tính).

THAP CAI

Tháp cái Seokgatap (ảnh của tác giả).

Tháp âm có chóp tháp có đáy hình vuông (giống yoni của Ấn giáo có hình vuông).  Phần chóp nọc nhọn là nọc, dương, lingam và đáy hình vuông là nòng, âm, yoni. Chỏm tháp cũng diễn tả nòng nọc, âm dương. Tháp cũng là tháp ba tầng nhưng hìnhh dáng và cấu trúc, trang trí đơn giản hơn nhiều.

Trong lúc sửa chữa vào năm 1966, tình cờ tìm thấy một hộp đựng Sarira và tập  kinh Pure Light Dharani, được coi là một tác phẩm mộc bản cổ nhất thế giới vào khoảng năm 704 và 751 STL. Hiện tập kinh in trên giấy làm bằng vỏ cây dâu tằm này được trưng bầy tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia Khánh Châu.

Hai tháp đá nòng nọc, âm dương này đi cặp với nhau rất hiếm thấy, thường mỗi chùa ở Đại Hàn chỉ có một tháp. Hai tháp được làm, đặt tên và để ở vị trí trái, phải theo nòng nọc, âm dương cũng như cấu trúc theo Tam Thế của chùa cho thấy thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, dịch hiện lên rất rõ nét trong Phật giáo Đại Hàn.

Dạng thứ hai là các tháp hình bầu nậm, hình chuông có cán nòng nọc, âm dương như đã nói ở trên nếu nhìn theo diện lưỡng nghi có hai cực tách biệt thì có phần cổ hình nọc ở trên biểu tượng cho nọc, dương và phần bầu biểu tượng cho nòng âm riêng rẽ, biểu tượng cho hai cực nòng nọc, âm dương riêng rẽ.

.Tứ Tượng

Có hai trường hợp: một là tháp duy nhất có thể diễn tả tứ tượng, hai là bốn tháp riêng rẽ biểu tượng cho tứ tượng. Một tháp duy nhất có các chi tiết diễn tả tứ tượng. Ví dụ như bốn cửa ứng với tứ phương diễn tả tứ tượng. Trong trường hợp thứ hai diễn tả bằng bốn tháp ở tứ phương gồm có tháp trụ nọc tượng Lửa như Tháp Bút ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh; tháp nóc hình nồi úp biểu tượng cho tượng nước, tháp hình lọng, dù biểu tượng cho tượng gió và tháp hình gò đất, núi lửa miệng tròn biểu tượng cho tượng lửa. Nhiều khi bốn tháp này tổng quát cũng có hình dạng như nhau nhưng có các chi tiết ứng với tứ tượng khác nhau.

Ví dụ diển hình thấy ở chùa ở Đền Khỉ Swoyambhunath ở Kathmandu, Nepal. Cây tháp chính ở giữa mang hình ảnh tháp cây vũ trụ tam thế hay trục thế giới có bốn cây tháp nhỏ ở bốn hướng diễn tả tứ tượng: tháp nhỏ Vasupura, biểu tượng cho Tượng Đất (Vas- = vách, có một nghĩa là đất, vách đất và pura là búa, bản, buôn, phường, phỗ, chỗ ở. Vaspura là chỗ ở của Đất), tháp nhỏ Vayupura, biểu tượng cho Tượng Gió (Vay- biến âm với bay, liên hệ với gió, với Phạn ngữ vâta, gió), tháp nhỏ Nagpura, biểu tượng cho Tượng Nước (Nag- = Nác, nước) và tháp nhỏ Agnipura, biểu tượng cho Tượng Lửa (ag- = ác, có nghĩa là lửa, mặt trời, chim ác là chim biểu của mặt trời như ác tà rồi thỏ ngậm sương, agni phiên âm qua Việt ngữ là ái nghi, tên nhân vật liên hệ với lửa).

.Tháp Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống)

Tứ tượng âm và dương liên tác tạo ra vũ trụ chia ra làm ba cõi gọi là Tam Thế và được biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Hầu hết các tháp Phật hay phần chỏm của tháp Phật đều mang biểu tượng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Hãy lấy làm ví dụ một tháp chùa ở Nepal.

IMG_8548

Tháp có hình chuông có cán một biến thể của bầu nậm nòng nọc, âm dương. Nhìn tổng quát nòng nọc, âm dương sinh ra tam thế biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống), vũ trụ. Rõ như ban ngày tháp mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).  Nhìn ở diện khác. Phần bầu dưới diễn tả hư vô. Phần trên có chóp lọng diễn tả Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) (xin nhắc lại cây dù Payong của người Dayak là Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống; núi Tản Viên hình tán lọng có một khuôn mặt là Cây Tam Thế, Núi Vũ Trụ, Tam Thế nên còn có tên là Núi Tam Từng). Tháp diển tả qui trình Vũ Trụ Tạo Sinh từ hư vô tới vũ trụ, tam thế biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ.

Bảo tháp Phật Tây Tạng diễn tả Cây Cây Tam Thế theo một diễn tả khác thấy rõ qua sơ đồ:

thap Tibet

Phần chỏm bầu tròn âm, nòng có chóp nhọn mũi mác ^ dương, nọc là bầu nòng nọc (âm dương có một nghĩa như bầu nậm) là bầu vũ trụ, càn khôn, bầu tạo hóa có những khuôn mặt hư vô, thái cực (nhìn dưới dạng nhất thể), lưỡng cực, lưỡng nghi (nhìn dưới dạng phân cực).

Lưỡng nghi. lưỡng cực liên tác sinh ra tứ tượng: Phần nửa vòng tròn hình đĩa (một vật đựng chất lỏng) biểu tượng tượng Nước thái âm.  Phần tam giác thuận do ba nọc que III ghép lại là quẻ Càn III, lửa thái dương biểu tượng cho tượng Lửa thái dương. Vòng tròn có một khuôn mặt biểu tượng cho không gian biểu tượng cho tượng Gió thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió và hình vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho Đất (vuông) thiếu dương Li.

Tứ tượng dương và âm (bát tượng, tám quẻ, bát quái) sinh ra tam thế: tam giác thuận có thêm một khuôn mặt biểu tượng cho cõi trời Lửa. Vòng tròn theo duy âm có thêm một khuôn mặt biểu tượng cho cõi nước và hình vuông có thêm có một khuôn mặt biểu tượng cho cõi đất. Ta có thêm tam thế.

Như thế tháp diễn tả nòng nọc, âm dương, lưỡng nghi, tứ tượng sinh ra tam thế biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Tháp mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

.Tháp Trục Thế Giới

Vì tháp nguyên thủy là một ngôi mộ nên tháp phải có Trục Thế Giới để hồn người chết đi về ba cõi nhất là cõi trên Thượng Thế. Tháp Phật vì vậy phải có một khuôn mặt là Trục Thế Giới.

Đức Phật cũng được tôn thờ như một trụ lửa biểu tượng cho Trục Thế Giới, Trục Vũ Trụ.

IMG_8028

Tôn thờ Phật như một trụ lửa biểu tượng cho Trục Thế Giới, Trục Vũ Trụ(Gummadhidurru, thế kỷ thứ 3, Ấn-Độ, Archaeological Survey of India, New Dhelhi), (ảnh của tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Văn Minh Á Châu Singapore).

Đây là tảng đá ở chân Đại Tháp ở Amaravati, Ấn-Độ có hình cầu tròn đã nói ở trên. Trên đỉnh trụ lửa có hình Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Dưới chân trụ có hình dấu chân Phật ở chỗ gác chân trước chiếc ngai trống biểu tượng cho sự có mặt của Phật. Trên ngai có hai chiếc gối biểu tượng cho nòng nọc, âm dương, có hai chữ vạn chuyển động biểu tượng cho tứ hành nòng nọc, âm dương ứng với bát tượng vận hành, bát quái.

Như thế tháp có hình cầu tròn mang biểu tượng cho hư vô, có thêm chỏm nọc nhọn mang nghĩa thái cực, lưỡng nghi, có gối tứ tượng, có Tam Bảo ứng với ba cõi Phật, có trụ lửa Trục Thế Giới nghĩa là tháp mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh Vũ Trụ giáo.

Bên cạnh có hình hai con hươu biểu tượng cho buổi thuyết pháp đầu tiên ở vườn Lộc Uyển. Xung quanh có các tín hữu Phật giáo.

Tháp biểu tượng cho Trục Thế Giới có thể có hình trụ tròn, hình trụ vuông hay hình kim tự tháp. Tháp Bút ở chùa Bút Tháp (Ninh Phúc), Bắc Ninh; Tháp Phong Hòa hình trụ vuông ở chùa Dâu, Bắc Ninh giống tháp chùa Đại Bạch Nga (Great White Wild  Goose) ở Tây An, Sơn Tây được xây vào đời Đường của Trung Hoa có thể có một khuôn mặt Trục Thế Giới mang tính chủ.

Tháp hình kim tự tháp có một khuôn mặt trục thế giới vì các kim tự tháp là những ngôi mộ chôn các vua chúa cũng chính là một thứ ‘tháp’ mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) trong đó có Trục Thế Giới (xem Trăng Thu Kim Tự Tháp). Kim tự tháp nhất là loại có cấp bậc là đường lên cõi trên, là Trục Thế Giới. Ví dụ như một tháp chùa Việt Nam thấy qua hình một tháp gốm men xanh-trắng thế kỷ 14-16.

IMG_8042

Gốm men xanh-trắng tháp chùa Việt Nam thế kỷ 14-16 tại Bảo Tàng Viện Văn Minh Á Châu Singapore (ảnh của tác giả).

Tháp nhiều tầng mang hình ảnh kim tự tháp có mái hình nấc thang, có một khuôn mặt Trục Thế Giới thông thương ba cõi, có đường lên cõi Thượng Thế.

.Tháp Sinh tử tái sinh, hằng cửu

Hiển nhiên tháp Cây Vũ Trụ Cây Tam Thế có một khuôn mặt là Cây Đời Sống, trên các tháp này có những chi tiết diễn tả sinh, tử, tái sinh hằng cửu. Nếu không được về miền hằng cửu, vĩnh hằng thì hồn người còn trong vòng luân hồn sẽ tái sinh vào một kiếp khác. Nếu thoát ra được vòng luân hồi thì trở về miền vĩnh hằng.

Trong Phật giáo cõi hằng cừu, vĩnh hằng là Nát Bàn, nơi con người thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử, tử sinh (xem phần chi tiết tháp Phật).

Những Hình Dạng Biến Thể Khác Của Tháp.

Như đã biết các hình dạng của tháp thay đổi tùy theo từng giai kỳ của Vũ Trụ Tạo Sinh trong Vũ Trụ giáo. Càng nguyên thủy càng cổ càng có hình dạng ứng với hình cầu tròn hư vô, vô cực, hình trứng, quả bầu, dưa hấu ứng với thái cực nhất thế và lưỡng nghi. Những tháp trụ vuông có thể có một khuôn mặt tứ tượng hay Trục Thế Giới mang dương tính. Những tháp trụ Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) ứng với tam thế mang trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh…

Tùy theo giáo phái hình dạng của tháp cũng thay đổi. Phật giáo nguyên thủy trước đây gọi là tiểu thừa (Thevada) thường tháp có hình chuông có cán như thấy ở các chùa ở Tích Lan, Myanmar, Thái, Lào, Campuchia… Phật giáo đại thừa, tháp thường có hình trụ tròn hay vuông nhiều tầng thường thấy ở Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam. Như đã nói ở trên, ở Việt Nam có tháp vuông Hòa Phong ở chùa Dâu,

250px-Dau_pagoda. thap hoa phong

Tháp Phong Hòa chùa Dâu Bắc Ninh (Vi.Wikipedia).

Tháp Bút (Bảo Nghiêm) hình trụ tròn ở chùa Bút Tháp (Ninh Phúc), Bắc Ninh.

200px-Bao_Nghiem_Tower_2

Tháp Bút ở chùa Bút Tháp (Ninh Phúc), Bắc Ninh.

Nhìn vào hình dạng của tháp ta có thể biết ngay một chùa nào đó thuộc phái nguyên thủy hay đại thừa. Trong Phật giáo nguyên thủy tháp chùa là khuôn mặt chính còn chùa chỉ là phụ, ngược lại trong Phật giáo đại thừa chùa là chính và tháp là phụ.

Như đã biết chùa cũng làm theo hình dạng của tháp nên tháp và chùa đôi khi mang nghĩa như nhau, như đã nói ở trên, tháp ở Tích Lan gọi là dagoga đẻ ra từ pagoda và ở Đại Hàn t’ap dịch sang Anh ngữ là pagoda. Nhiều chùa làm theo hình tháp vì chùa cũng như tháp sau này chủ yếu mang nghĩa là nơi tồn trữ các di tích Phật và Phật giáo, nơi để các xá lợi Phật, tượng Phật, kinh Phật… tức là nơi linh thiêng để thờ phượng của Phật giáo.

Ngoài hình dạng cầu tròn, hình bầu, hình chuông úp, còn có các hình dạng khác như

-Hình kim tự tháp

Tháp hình kim tự tháp thường có một chóp hình vòm, hình bầu nậm, hình chuông có cán biểu tượng cho vũ trụ, cho đỉnh núi Meru ở trên một nền vuông có nhiều tầng biểu tượng cho cõi đất thế gian. Nghĩa là cả tháp mang hình ảnh Núi Trụ Thế Gian Meru trong có Trục Thế Giới thông thương ba cõi.

Ví dụ điển hình là đền Phật giáo nổi tiếng Borobudur ờ Java xây vào thế kỷ thứ 9 Sau Tây Lịch có hình kim tự tháp có cấp bậc.

IMG_8074

Đền Phật giáo Borobudur ở Java (ảnh của tác giả chụp lại hình tại Bảo Tàng Viện Văn Minh Á Châu Singapore).

Phần chóp có hình bầu nậm, hình chuông úp.

Chùa Đại Bồ Đề Mahabodhi ở Bagan, Myanmar.

  MAHABODHI GUPHAYA

Chùa Đại Bồ Đề ở Bagan, Myanmar.

Chùa làm bắt chước theo chùa Đại Bồ Đề ở Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya), Ấn-Độ do vua Nadaungmya xây vào thế kỷ 13. Tháp ở chùa này hình kim tự tháp cao mang hình ảnh núi Vũ Trụ Meru.

-Tháp cao nhiều tầng

Ví dụ cổ nhất là tháp Magabodhi ở Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya) Ấn-Độ, nơi Đức Phật đạt tới giác ngộ. Cấu trúc của tháp mang ảnh hưởng kiến trúc của Ấn-Độ giáo. Một tấm thạch bản cho thấy hình dạng nguyên thủy của tháp có chóp tháp hình cầu tròn biểu tượng cho hư vô, bầu vũ trụ, không gian.

IMG_8049

Ở Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam cũng thấy nhiều tháp nhiều tầng loại này. Ví dụ như chùa Thiên Mụ ở Huế của Việt Nam có hình tháp trụ tròn thon nhọn.

Ngoài các hình tháp như đã thấy, hình dạng cũng có thể thay đổi ít nhiều theo tín ngưỡng, văn hóa địa phương. Ví dụ tháp chùa phái nguyên thủy có hình chuông có cán có những hình dạng khác nhau ít nhiều thấy ở Tích Lan. Myanmar, Thái, Lào, Campuchia… và ngay cả ở một quốc gia.

Tóm lại về hình thể bên ngoài tháp Phật diễn tả trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo qua hình dạng cầu tròn, quả bầu, dưa hấu tròn trên có chỏm nọc dương hay cây vũ trụ, hình bầu nậm, chuông có cán nòng nọc, âm dương, hình kim tư tháp (thường diễn tả Núi Meru, Núi Vũ Trụ) hay các dạng tháp hình trụ tròn, vuông, nhiều tầng với khuôn mặt Trục Thế Giới mang tính chủ.

Nhìn vào hình dạng tháp ta có thể biết tuổi của tháp, biết giáo phái Phật, biết thêm các văn hóa địa phương. Một chùa có tháp cầu tròn thường là tháp cổ, một chùa có tháp là khuôn mặt chính là chùa thuộc phái nguyên thủy. Một chùa có tháp hình chuông có cán thường thuộc phái nguyên thủy…

Kiến Trúc Chi Tiết Của Tháp Chùa Nhìn Theo Lăng Kính Vũ Trụ Giáo.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: