VÉN MÀN BÍ MẬT CÁNH ĐỒNG CHUM, LÀO (phần 4 và hết)

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

VÉN MÀN BÍ MẬT CÁNH ĐỒNG CHUM, LÀO.

(phần 4 và hết)

Nguyễn Xuân Quang

 

VĂN HÓA CHUM ĐÁ CÁNH ĐỒNG CHUM, XIÊNG KHOANG VÀ VĂN HÓA TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

Hãy so sánh văn hóa chum đá Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoang với văn hóa trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

.Trước hết các tộc người của của hai nền văn hóa đều thờ phượng Vũ Trụ giáo.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt cả hai thuộc chủng Người Vũ Trụ Bách Việt. Về vật thể, vũ trụ gồm có không gian và mặt trời. Người làm chum đá mai táng Cánh Đồng Chum ở Xiêng Khoang thờ chum dạ con vũ trụ thờ không gian-vũ trụ thuộc ngành nòng Khôn của Bách Việt ứng với Thần Nông. Các tộc thuộc phía nòng Khôn Thần Nông gồm Tầy, Thái, Lào, Âu (Ao) Naga, Dayak…

Người làm trống đồng Đông Sơn thờ trống vũ trụ thờ mặt trời-không gian thuộc ngành nọc Càn của Bách Việt ứng với Viêm Đế. Các tộc thuộc phía nọc Càn Viêm Đế gồm Việt (kể cả Lạc Việt thái dương), Mường, Điền…

.Cả chum đá Cánh Đồng Chum Xiêng Khoang lẫn thạp đồng Đông Sơn đều có cùng ý nghĩa và chức vụ như nhau.

Về phương diện liên hệ với sinh tạo, tái sinh, chúng diễn tả hư vô, trứng vũ trụ, thái cực, bọc vũ trụ, dạ con vũ trụ và được dùng trong mai táng làm bình, chum, thạp, các vật đựng tế vật, các vật tùy táng và thực phẩm hay làm bùa, thông hành…  cho người chết. Dĩ nhiên chúng có tính nòng nọc, âm dương khác nhau.

.Hiển nhiên các chum đá Xiêng Khoang của ngành âm không gian đối ứng với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn của ngành dương mặt trời.

Thật vậy, chiếc chum ở Bản Ang với nắp có hình mặt trời nọc tia sáng nằm trong không gian giống như mặt của một trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn diễn đạt vũ trụ. Chum có nắp này trông giống hệt như chiếc thạp đồng Đào Thịnh.

Untitled-1 copy

 Chum đá có nắp hình mặt trời và thạp Đông Sơn giống nhau. 

so sanh naaap

Mặt trời trên nắp chum và trên thạp đồng.

Mặt trời có nọc tia sáng trên chiếc nắp diễn tả mặt trời dương của phía dương của ngành nòng âm.

Mặt trời đĩa tròn trên nắp chiếc chum ở Thung Lũng Bada là mặt trời âm không có nọc tia sáng giống như mặt trời trên lá cờ Nhật, con cháu của thái dương thần nữ Amaterasu.

 yin sun

 Mặt trời đĩa tròn trên nắp chiếc chum ở Thung Lũng Bada là mặt trời âm không có nọc tia sáng tương tự như mặt trời đĩa tròn trên trống Đào Xá.

Mặt trời trên chiếc chum này giống mặt trời đĩa tròn trên trống Đào Xá, cả hai đều là mặt trời đĩa tròn của ngành nòng âm. Chỉ khác là mặt trời trên trống Đào Xá có 6 vòng áng sáng âm thái dương. Mặt trời trên trống Đào Xá là mặt trời âm thái dương của ngành nòng.

Ta cũng thấy rõ chiếc chum đá có nắp cò hình mặt trời không có nọc tia sáng ở Thung Lũng Bada là của ngành nòng âm trong khi nắp thạp Đào Thịnh có mặt trời có nọc tia sáng là biểu tượng cho nhánh âm của ngành nọc dương.

 Như đã nói ở trên, một nắp chum ở Thung Lũng Bada có hình tượng ếch quay mặt ra ngoài. Các con ếch này mang ý nghĩa biểu tượng cho mắn sinh, tái sinh chứ không phải là biểu tượng cho mưa, cho sấm mưa. Chiếc chum này có cùng ý nghĩa và chức vụ giống như một chiếc trống tí hon minh khí Đặng Trung có các tượng cóc/ếch quay mặt ra ngoài. Như đã nói ở trên, thường các tượng cóc/ếch trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn mặt quay về chiều dương phía tay phải, chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời. Các trống tí hon minh khí dùng như các bùa phù hộ, thông hành cho hồn người chết.

Untitled-1 copy

Nắp một chiếc chum đá ở Thung Lũng Bada có hình tượng ếch quay mặt ra ngoài giống như chiếc trống tí hon minh khí Đặng Trung cũng có các tượng cóc/ếch quay mặt ra ngoài.

Ta thấy rất rõ chum đá thuộc phía âm nên mặt trời ở tâm mặt nắp của chum này là mặt trời âm đĩa tròn không có nọc tia sáng trong khi trống minh khí Đào Trung thuộc phía trống, dương có mặt trời ở tâm mặt trống là mặt trời dương có nọc tia sáng.

.Như đã nói ở trên, hình dạng của các chum ở Xiêng Khoang giống như hình dạng của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn mang ý nghĩa ứng với Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo.

.Một vài nghiên cứu cho rằng các chum đá ở Xiêng Khoang do các nhóm tộc người Mon-Khmer làm ra (vi. Wikipedia).

Như thế các người làm ra chum đá ruột thịt với chúng ta vì ngôn ngữ Việt cũng được xếp vào nhóm ngôn ngữ Mon-Khmer.

.Từ ngàn xưa cho tới nay có nhiều tộc người vẫn sống ở cả cao nguyên Xiêng Khoang lẫn vùng Bắc miền Trung Việt Nam.

.Tuổi các chum đá Xiêng Khoang có cùng thời với tuổi của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Phân tích *C14 cho thấy tuổi của các chum này khoảng Tiền-Thời Đồ Sắt (500 TTL-200 STL). Một vài tác giả còn ước tính xa hơn, cho là vào khoảng 2500 đến 3000 năm. Văn hóa trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn nở hoa cũng vào khoảng thế kỷ thứ 5 TTL ở châu thổ sông Hồng Hà. Có học giả Việt Nam ước tính  tuổi của trống đồng tới thế kỷ thứ 7 hay thứ 8 TTL. Gần đây các nhà khảo cổ học Trung Quốc dựa vào phân tích *C14 trên trống Vạn Gia Bá (Wanjiaba) cho rằng trống nhóm này có tuổi vào khoảng  giữa thế kỷ thứ 7 và thứ 5 TTL (Han Xiaorong).

Bà Colani hết sức tin tưởng rằng các chum đá ở Cánh Đồng Chum là những chum mai táng của người Thời Đồ Đồng làm ra.

.Ngày  xưa, Cánh Đồng Chum nằm thuộc trong địa bàn Bách Việt . Lúc đó, chưa có biên giới, Lào và Việt Nam là một.

.Cái nôi của các chum Xiêng Khoang rất gần sát với cái nôi của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Từ ‘Đông Sơn’ chỉ ngôi làng ở Thanh Hóa gần Nghệ An, Vinh ở phía bên này dẫy Trường Sơn gần như đối diện với cao nguyên Xiêng Khoang.

.Gần đây khám phá ra các hang động ở tỉnh Thanh Hóa, trong đó có các bằng chứng của một nghĩa địa cổ xưa và các dụng cụ cổ tới hơn 10.000 năm… (Vietnam News Agency reports the findings were part of a year-long research by scientists from the Vietnam Archaeology Institute and the Novosibirsk Institute of Archaeology and Ethnography).

.Về địa lý, cùng một con sông mà phần ở Lào có tên là Nam Khan và  phần ở phía Việt Nam mang tên là sông Lam hay sông Cả. Con sông này bắt nguồn ở núi Loi bên Lào chảy qua cao nguyên Xiêng Khoang, qua Nghệ An, Hà Tĩnh rồi đổ ra vịnh Bắc Việt. Hiển nhiên con sông này là con đường giao lưu giữa hai nền văn hóa chum đá Xiêng Khoang và trống đồng Đông Sơn.

 .Trong quá khứ, Xiêng Khoang đã từng thuộc Việt Nam. Xiêng Khoang lúc đó có tên là Trấn Ninh dưới triều đại Đại Việt hay Đại Nam.

.Con đường phân tán văn hóa trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn và chum đá Xiêng Khoang gần như giống nhau. Cả hai lan tỏa tới Nam Trung Hoa, ngay cả tới Đại Hàn (trống đồng Nam Trung Hoa, chum đến cả Đại Hàn, chum mai táng đất nung), Bắc Ấn-Độ (Assam), Myanmar (chum đá Pyu, trống Karen), Nam Dương (trống đồng Nam Dương, chum đá Nam Dương)…

KẾT LUẬN

 Nhìn tổng quát chum (đá, đồng, đất nung, gỗ…) là một vật đựng mang âm tính. trong Vũ Trụ giáo chum biểu tượng cho túi vũ trụ, dạ con vũ trụ. Nó được viết bằng chữ nòng O trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.

Ngược lại trống là đực, nọc, dương, bộ phận sinh dục nam. Trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  trống được viết bằng chữ nọc que.

Về phương diện dân tộc học, chum là biểu tượng của ngành nòng âm của chủng Người Vũ Trụ tức phía không gian mang tính chủ. Trong khi trống đặc biệt là trống đồng Đông Sơn là biểu tượng của ngành nọc dương của chủng Người Vũ Trụ tức phía mặt trời mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, chum là biểu tượng cho của ngành Thần Nông sinh tạo. Trong khi trống là biểu tượng cho của ngành Viêm Đế sinh tạo.

Bách Việt thuộc chủng Người Vũ Trụ Thần Nông-Viêm Đế. Liên bang Văn Lang của Hùng Vương mặt trời có hai ngành: ngành dương ứng với mặt trời dương nọc tia sáng Viêm Đế và ngành âm ứng với mặt trời âm đĩa tròn Thần Nông. Những tộc người thờ mặt trời dương nọc tia sáng thờ trống đồng Đông Sơn có thạp đồng Đông Sơn là khuôn mặt liên hệ với cõi âm. Những tộc người thờ mặt trời âm đĩa tròn không có nọc tia sáng thờ cồng có chum đá Xiêng Khoang là khuôn mặt liên hệ với cõi âm.

Như thế theo duy dương, các tộc người làm chum Xiêng Khoang thuộc về ngành mặt trời âm của chủng Người vũ trụ Bách Việt.

Lào, Thái, Âu (Ao), Naga, Lạc Việt (ngành âm), Champa, một số tộc Đảo Thái Bình Dương như Dayak thuộc ngành nòng âm của Bách Việt. Điểu này giải thích tại sao có sự hiện diện của chum mai táng ở Assam (Naga, Ao), Myanmar, Lào (một nhánh Thái), Việt Nam (thạp đồng), Champa (Sa Huỳnh), Nam Dương (Thung Lũng Bada)…

Riêng Lào nơi có Cánh Đồng Chum là một chi Thái thuộc phía Thần Nông của đại tộc Bách Việt. Lào và Việt Nam có cùng một truyền thuyết sáng thế sinh ra từ quả bầu không gian, bầu vũ trụ, đều là con của vũ trụ. Khi chết, cả hai đều được chôn trong chum và trống đồng (có một khuôn mặt là dạ con của vũ trụ) để được tái sinh hay sống hằng cửu.

Sự liên hệ giữa Việt và Lào, một chi Thái cũng thấy qua ngôn ngữ. Trước đây Henry Maspero đã xếp ngôn ngữ Việt Nam vào nhóm ngôn ngữ Tầy Thái (Tai-Kadai language).

Vì thế mà chum đá mai táng ở Cánh Đồng Chum có cùng một ý nghĩa và chức vụ như thạp đồng Đông Sơn chỉ khác nhau về tính nòng nọc, âm dương.

Dựa vào trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn chúng ta có thể giải mã chum đá Xiêng Khoang một cách dễ dàng.

Riêng đối với người Lào, các chum đá mai táng ăn khớp khắng khít với truyền thuyết sáng thế sinh ra từ quả bầu. Cho tới gần đây các vua Lào vẫn còn giữ tục mai táng qua qui trình tách hồn tinh anh khỏi xác phàm. Trước tiên để xác các vua vào các chum, thạp gỗ mạ vàng cho phần xác phàm rữa nát trong một năm. Kế tiếp mới đem phần còn lại của thân xác đi hỏa táng. Sau phần rũ bỏ xác phàm này phần hồn tinh anh mới đi về cõi trên để được tái sinh hay sống hằng cửu.

Tục mai táng trong Vũ Trụ giáo thấy trong tất cả các nền văn hóa trong đó con người thờ Vũ Trụ hay văn hóa của họ bị ảnh hưởng của Vũ Trụ giáo. Tuy nhiên tục này thấy rất phổ thông ở Đông Nam Á, nhất là trong đại tộc Bách Việt, Người Vũ Trụ thờ Vũ Trụ giáo.

Văn hóa chum đá Xiêng Khoang đi song song với văn hóa Đông Sơn,  chỉ có khác biệt về tính nòng nọc, âm dương. Chum là dạ con, âm đạo vũ trụ là nòng O âm là vỏ là võ, là Vũ. Trống là đực, là đục (chisel), là đọc, là nọc, là dương vật là nọc que I là Trụ.  Văn hóa chum đá Xiêng Khoang là văn hóa ngành nòng không gian Vũ Thần Nông và  trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là văn hóa ngành nọc mặt trời  Trụ (Lửa) Viêm Đế của chủng Người Vũ Trụ Thần Nông-Viêm Đế  Bách Việt sinh ra từ quả bầu vũ trụ (truyền thuyết Lào, các sắc tộc Việt Nam) và bọc trứng thế gian 100 Lang Hùng của Mẹ Tổ Âu Cơ .

Tài Liệu Tham Khảo

 -Wikipedia.

-The Stone Jars of Laos http://www.viewzone.com/granitepots.html

-http://whc.unesco.org/en/tentativelists/959/

-Nguyen Xuan Quang:

.Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam .Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt.

.Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt.

.Tiếng Việt Huyền Diệu.

.The Anatomy of the Southeast Asian Nong Noc, Yin Yang Bronze Drums.

.The Relationship Between Phallic-Shaped Ancestor stone Statues, Dol Hareubang in Teju Island, South Korea and the Vietnamese Hùng Ancestors.

.Sự Tương Đồng Giữa Cổ Sử Đại Hàn và Việt Nam.

-Han Xiaorong: The Present Echoes of the Ancient Bronze Drum: Nationalism and Archeology in Modern Vietnam and China.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: