TRỐNG ĐỒNG ÂU LẠC SÔNG ĐÀ (5 và hết).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

TRỐNG ĐỒNG ÂU LẠC SÔNG ĐÀ

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI LỬA

THÁI DƯƠNG LIÊN HIỆP THIẾU

ÂM THÁI ÂM).

 (phần 5 và hết)

Nguyễn Xuân Quang

D. THÂN TRỐNG

Thân trống hay eo trống là Trục Thế Giới nối liền ba cõi.

Phần dưới cùng thân trống có sáu vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que giống ở trên đầu tang trống.

Thân trống có hai loại cột thẳng đứng:

-Nhóm cột có 6 vành thẳng đứng.

Nhóm cột thằng đứng có 6 vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Vành 1 và 6 là hai vành giới hạn nọc chấm dương mang nghĩa thái dương. Tiếp đến hai vành 2 và 5 sọc chéo không không gian Khôn ngược chiều nhau diện tả không dương gió Đoài và Khôn âm nước Chấn.

Ở giữa là hai vành 3 và 4 có hình sóng vòng tròn có chấm có tiếp tuyến ngược chiều nhau mang nghĩa Đoài /Li chuyển động sinh động. Với hai vành này ta suy ra vành sọc chéo Khôn nào nằm bên vành Li mang nhiều dương tính là vành Khôn dương Đoài vành sọc nào nằm bên vành Đoài ít dương tính hơn là vành Chấn (Chấn và Đoài cùng ngành âm nên đi liền nhau).

Sáu vành này diễn tả hai khuôn mặt lưỡng hợp tiểu vũ trụ Li-Đoài ngành Khôn thái dương của hai tộc tiêu biểu mang tính chủ của trống là tộc người Đoài trên mặt trống và tộc người Li ở trên thuyền, vùng nước tang trống.

Đặc biệt ở đây, giữa hai vành sóng vòng tròn có chấm có vách phân chia.

-Nhóm cột thẳng đừng hình sóng hình thoi.

Nhóm cột thằng đứng hình sóng hình thoi (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Cột sóng hình thoi này giống đoạn sóng hình thoi mang nghĩa sóng gió dương Đoài sinh động ở biên trống.

Hai loại cột này chia thân trống ra làm 8 ô không đều. Trong mỗi ô có một hình người. Các tác giả ViệtNamhiện nay gọi là ‘dũng sĩ”.

Tôi không nghĩ là như vậy. Xin nhắc lại thân trống là Trục Thế Giới, Trục Vũ Trụ thông thương ba cõi. Do đó theo chính thống trên thân trống chỉ khắc những người hay vật có thể đi lại ba cõi. Ví dụ  về người, thì đó là các đấng siêu phàm, thần tổ (Supreme Beings), người đại diện của ngành, đại tộc, tộc, các thầy tế, phù thủy, thầy thuốc shaman, bà đồng, ông mo, các linh hồn người chết… Những người này có thể lên trời hay đi xuống âm thế. Trục Thế Giới lưng trống là siêu xa lộ xuyên ba cõi của họ. Họ là những kẻ có thể lên cõi trời liên lạc với các thần linh cõi trên và đi xuống cõi âm, liên lạc được với âm thần, với các âm hồn và linh hồn người chết có thể lên cõi trên hay bị đẩy xuống cõi dưới, địa ngục theo trục lộ này. Chỉ có giới này và linh hồn mới có thể đi lại lên xuống giữa ba tầng trời theo trụ trời, Trục Vũ Trụ. Còn ở những trống có thân trống coi như là núi Trụ Thế Gian, thì người và thú trên thân các trống này mang nghĩa biểu tượng cho người và thú thế gian của tộc ứng với trống.

Do đó những người ở trên thân trống không phải là những “dũng sĩ” nhìn theo duy tục.

Các người ở đây mang vóc dáng đang nhẩy múa chân trước chân sau.

a. Bốn Người Trong Khung Đoài ngành Nòng.

Những người này ở trong các ô giới hạn bởi các cột hình sóng gió hình thoi Đoài vũ trụ sinh động.

Ta thấy ngay những 4 người này có khuôn mặt mang tính chủ là Đoài, là người tộc Đoài gồm 4 chi ứng với  tứ tượng.

1. Người số 1

 

Người số 1 Càn, tay phải cầm phách nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) lớn Càn.

-Trang phục đầu

Trang phục đầu hình chim gồm ba phần:

.Phần cao diễn tả ngành.

Ở đây có hình hai nọc cong diễn tả thái dương âm.

Đầu chim quay về phía sau tay trái chiều âm thì hai nọc cong này coi như là hai lông đuôi cong. Có lẽ do lỗi kỹ thuật, chim không thấy mỏ.

Chim có bờm cao có hai chiếc lông nọc chấm mang nghĩa lửa vũ trụ, có con mắt dương một vòng tròn. Dầu chim diễn tả chim lửa vũ trụ thái dương.

.Phần cánh cho biết thuộc đại tộc nào ứng với tứ tượng.

Chim có cánh có góc trên hình nhọn nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang tính Càn.

.Phần sau gáy cho biết thuộc tộc nào.

Ở đây có ba nọc que Càn.

Trang phục đầu hình chim biểu tượng cho người mặt trời nhánh nọc thái dương âm có khuôn mặt chủ là tộc thái dương lửa vũ trụ Càn.

-Khí giới hay tế biểu

Người này tay phải tức tay dương cầm gậy biểu như chiếc phách hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) đứng. Gậy này to, cường điệu hơn ở người thứ 2. Đây là gậy nọc Càn.

-Mộc phướn

Tay trái tức tay âm cầm phướn mà các học giả hiện nay cho là chiếc mộc. Tôi gọi là mộc hình phướn hay mộc phướn.

Mộc phướn này bên phải có cờ gió. Phần dưới phướn có các sọc song song đứng và ngang có các chấm nọc đương diễn tả không gian Khôn thái dương. Đây là phướn Khôn gió nước Đoài-Chấn với khuôn mặt Đoài mang tính chủ (vì là tộc Đoài và có cờ gió). Phướn có hai nọc có chấm lửa thái dương kẹp ở giữa hai sọc nước. Đây là phướn Chấn hôn phối với gậy phách Càn tay phải.

Người này thuộc chi Càn của tộc người Đoài nhánh Khôn Đoài Chấn.

Người số 2

 

Người số 2 Li: phần trang phục đầu có hình cánh chim hình rìu ngang chữ nhật lửa đất âm, tay phải cầm phách núi tháp nhọn Li.

 

-Trang phục đầu hình chim

.Đầu chim: chỉ khác người thứ nhất là mỏ rìu chữ nhật biểu tượng cho đất dương Li, bờm chỉ có một nọc hình chấm nọc nghĩa là ít dương hơn người thứ nhất có hai nọc chấm nọc.

.Phần cánh

Chim có cánh hình rìu ngang chữ nhật biểu tượng cho  lửa đất dương Li.

.Phần sau gáy.

Trống không, có thể là lỗi kỹ thuật.

-Khí giới hay tế biểu

Người này tay phải tức tay dương cầm gậy biểu như chiếc phách hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) đứng. Gậy này nhỏ hơn ở người thứ 1 Càn. Đây là gậy nọc Li hình núi tháp nhọn.

-Mộc phướn

Phần trên có hình hai nọc hơi cong có chấm nhỏ nọc dương như hai chiếc tai thỏ biểu tượng cho lửa, thái dương phía âm. Hai nọc này kẹp ở giữa khoảng trống không diễn tả không gian. Vậy phần này diễn tả không gian thái dương tức Khôn dương Đoài.

Như thế vật biểu hình phách núi tháp Li cầm ở tay phải lưỡng hợp với một phướn Đoài ở tay trái dưới dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu dương Li-thiếu âm Đoài.

Người này thuộc chi Li của tộc người Đoài nhánh Khôn Đoài Chấn.

Người số 3

Người số 3 Chấn: phần trang phục đầu có bờm thuần âm Chấn, tay cầm dao ngắn âm thái dương Chấn.   

-Trang phục đầu hình chim

.Đầu chim: bờm không có chấm nọc dương tức thuần âm mang tính Khôn âm nước Chấn.

.Phần cánh

Chim có cánh hình các sọc ngang song song diễn tả nước thế gian có mặt bằng.

.Phần sau gáy.

Có một nọc que chỉ dương.

Cánh và phần sau gáy này diễn tả nước dương Chấn.

-Khí giới hay tế biểu

Người này tay phải tức tay dương cầm dao ngắn mang âm tính trong có bỏ dầu nọc que là khí biểu của nước thái dương Chấn.

-Mộc phướn

Phần trên cao có các chấm nhỏ nọc dương cho thấy phướn có một khuôn mặt thuần dương Càn.

Như thế vật biểu hình dao ngắn Chấn cầm ở tay phải lưỡng hợp với mộc phướn Càn ở tay trái dưới dạng lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương Càn-thái âm Chấn.

Người này thuộc chi Chấn của tộc người Đoài nhánh Khôn Đoài Chấn.

Người số 4

Người số 4 Đoài: phần trang phục đầu có bờm lông chim chấm nọc dương Đoài, tay cầm trái cầu tua gió Đoài.   

-Trang phục đầu hình chim

.Đầu chim: bờm có hai chiếc lông có chấm nọc dương tức lửa, dương. Chiếc lông bên ngoài cường điệu uốn theo chiều gió như bị gió thổi phồng căng.

Hai nọc dương này kẹp giữa hai đường cong diễn tả như tóc gió. Bờm diễn tả gió dương Đoài.

.Phần cánh

Chim có cánh hình các sọc ngang song song to hơn ở người thứ 3 diễn tả cánh chim bằng.

.Phần sau gáy.

Có một nọc que chỉ dương.

Cánh và phần sau gáy trống không diễn tả không không khí, gió.

-Khí giới hay tế biểu

Người này tay phải tức tay dương cầm vật hình cầu có tua biểu tượng cho gió Đoài.

-Mộc phướn

Phần trên có ba nọc có chấm nhỏ nọc dương và một nọc trống không mang âm tính diễn tả âm của dương là thiếu dương Li.

Như thế vật biểu hình quả cầu có tua Đoài cầm ở tay phải lưỡng hợp nòng nọc, âm dương với mộc phướn Li ở tay trái dưới dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu âm Đoài-thiếu dương Li.

Người này thuộc chi Đoài của tộc người Đoài nhánh Khôn Đoài Chấn.

Tóm lại 4 người trong khung sóng hình thoi Đoài là bốn chi tộc ứng với tứ tượng của tộc Đoài, một khuôn mặt chủ của trống Sông Đà.

b. Bốn Người Trong Khung Li-Đoài ngành âm.

Những người này ở trong các ô giới hạn bởi các cột Li-Đoài không gian.

Ta thấy ngay các người này thuộc các tộc Đoài-Chấn  và Li-Càn có khuôn mặt chính là lưỡng hợp của Đoài-Li. Ở đây Li mang tinh chủ.

1. Những người tộc Li (lưỡng hợp với Đoài).

a. Người số 1: chi tộc Chấn .

 Người số 1 duy nhất qua mặt về tay trái, âm, tay trái cầm tụ cầu tua nước mưa thuộc chi tộc Chấn.

Người này là người duy nhất trong 8 người quay mặt về phía âm, tay trái nên là người biểu tượng cho phía âm nhất tức thái âm nước Chấn.

Trang phục đầu hình bờm chim có một nọc cong lông chim có chấm dương là nọc âm và các sọc song song cong không gian âm, ở đây là thái âm OOO nước.  Gộp lại là Chấn nước dương.

Tay trái phía âm người này cầm tụ hình cầu có tua như nước mưa mang tính thái âm nước Chấn. Tay phải cầm mộc phướn có hai nọc cong có chấm nọc dương II kẹp ở giữa các sọc Khôn O tức quẻ IOI Li.

Như thế tay người này cầm hai vật biểu Đoài-Li dưới dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu âm thiếu dương gió-lửa.

b. Người số 2: chi tộc Đoài.

Người số 2 chi tộc Đoài có trang phục đầu hình bờm chim có một nọc cong lông chim có chấm dương Đoài, tay phải cầm tụ hình cầu có tua tỏa ra như tia sáng mang dương tính tức dương của Khôn tức Đoài. 

Trang phục đầu hình bờm chim có một nọc cong lông chim có chấm dương là nọc I phía âm và các sọc song song cong nòng O không gian âm, ở đây người này quay mặt về phía dương, tay phải ngược với người Chấn số 1 nên là thiếu âm Đoài.

Tay phải cầm tụ hình cầu có tua tỏa ra như tia sáng mang dương tính tức dương của Khôn tức Đoài.

Tay trái âm cầm mộc phướn có nọc cong có chấm nọc dương I và các sọc cong Khôn không gian O. Vì chỉ đi với một nọc dương nên đây là không gian âm Chấn IOO.

Như thế tay người này cầm hai vật biểu Đoài-Chấn  dưới dạng tương hợp cùng ngành nòng Đoài-Chấn. Người này đại diện cho nhánh nòng âm Đoài-Chấn.

c. Người số 3: chi tộc Li

Người số 3 chi tộc Li có trang phục đầu hình bờm chim có hai nọc cong có chấm dương lửa Li, tay phải cầm phách hình núi tháp Li nhỏ hơn so với nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói)  Càn ở người Càn số 4 ở dưới. 

 Trang phục đầu hình bờm chim có hai nọc cong lông chim có chấm dương là hai nọc II, lửa phía âm kẹp ở giữa các sọc song song cong nòng O không gian âm. Gộp lại là quẻ Li IOI.

Tay phải cầm gậy phách hình núi tháp nhọn Li nhỏ hơn nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) Càn ở người số 4 Càn ở dưới.

Tay trái âm cầm mộc phướn có hai nọc nọc cong có chấm nọc dương II kẹp ở giữa một khoảng trống không như thế là Khôn dương Đoài. Ngoài ra còn có phụ đề thêm một nọc cong hình vòm cung có chấm mang nghĩa vòm trời dương Đoài.

Như thế tay người này cầm hai vật biểu Li-Đoài dưới dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu âm thiếu dương gió-lửa.

d. Người số 4: chi tộc Càn.

Người số 4 chi tộc Càn có trang phục đầu hình bờm chim có ba nọc cong có chấm dương Càn, tay phải cầm phách hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) Càn (lớn hơn phách núi tháp Li của người số 3 Li ở trên). 

 Trang phục đầu hình bờm chim có ba nọc cong lông chim có chấm dương là ba nọc III, lửa vũ trụ Càn.

Tay phải cầm gậy phách cường điệu hơn hình phách hình núi tháp Li của người số 3, ta lấy theo hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) lửa vũ trụ, thái dương Càn.

Tay trái âm cầm mộc phướn có các đường sọc cong đứng không gian nòng O và một nọc cong có chấm nọc là nọcdương I. Đọc gộp lại là OI, thiếu dương Li.

Như thế tay người này cầm hai vật biểu Li-Càn dưới dạng tương hợp cùng ngành nọc dương Càn-Li. Người này đại diện cho nhánh nọc dương Li-Càn.

Như thế 4 người trong khung lưỡng hợp các sóng  Đoài-Li nòng không gian cũng là bốn chi tộc ứng với  tứ tượng của tộc Li-Đoài lưỡng hợp tiểu vũ trụ của trống Sông Đà. Ở đây Li mang tính chủ.

Tóm lại những người trên trục trống là những người của tộc Đoài, tộc mang tính chủ của trống và hai tộc Li-Đoài lưỡng hợp tiểu vũ trụ với Li mang tính chủ.

TỔNG KẾT

 Trống Sông Đà là trống nằm trong nhóm lửa thái dương thế gian có mặt trời 14 nọc tia sáng Tốn nhánh nọc dương thái dương, lưỡng hợp hay liên hiệp với Đoài trong Dịch có một khuôn mặt sấm đầu non thấy ở lá bùa trừ tà của dân gian Việt Nam và với Chấn thấy trong Tiên Thiên Bát Quái. Dịch đồng trống Sông Đà ít nhất có hai khuôn mặt của Dịch sách (xem Dịch Đồng Đông Sơn 5: Dịch Đồng Sông Đà).

Nhưng ở đây nghiêng nhiều về phía liên hiệp thiếu âm Đoài-thái âm Chấn nhánh âm Khôn của ngành nọc thái dương vì hai bán viên không đối xứng hoàn toàn theo tính nòng nọc, âm dương.

Mặt trống, từ tâm ra ngoài biên có:

.Thượng Thế là mặt trời 14 nọc tia sáng Tốn hôn phối với Đoài và Chấn. Không gian có vỏ là vành nét nhỏ bao quanh bởi một vành trống không, nghiêng về khí gió Đoài vũ trụ mang tính chủ. Các khoảng không gian tứ tượng và các vành tứ hành sinh động mang nghĩa sinh tạo, tạo hóa.

.Cõi Giữa, vùng đất dương có vành chủ yếu là sinh hoạt nhân sinh. Người thuộc hai tộc Đoài vũ trụ và Chấn. Nhà nọc mặt trời cũng là nhà Đoài-Chấn lưỡng hợp với hai nhà nòng không gian Li-Càn.  Vùng đất âm có vành cò bay Càn/Chấn và đứng Li/Đoài. Ba vành ngoài biên trống diễn tả liên hiệp Đoài-Chấn nọc dương thái dương. Như thế tất cả các yếu tố trên mặt trống đều diễn tả một khuôn mặt liên hiệp Đoài-Chấn nhánh nọc thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là liên hiệp của hai tộc Âu Việt và Lạc Việt  tức Âu Lạc của ngành Thần Nông thái dương.

Vùng nước, sự trình bày của thuyền ít tinh vi và ít phức tạp hơn. Thuyền không còn là thuyền phán xét linh hồn như trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I nữa nhưng vẫn diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo bằng một cách đơn giản hóa. Thuyền chỉ diễn tả sự liên hiệp hay lưỡng hợp của hai tộc Chấn-Đoài của ngành nòng Khôn thái dương tức Thần Nông thái dương. Trong 6 thuyền, có hai thuyền biểu hiệu cho âm dương, Lưỡng Nghi ứng với hai ngành hay hai nhánh hay hai tộc và 4 thuyền biểu hiệu cho tứ tượng hay bốn chi tộc tương ứng với tứ tượng. Các tộc người nước Li-Càn (Li mang tính chủ) lưỡng hợp với các tộc người đất trên mặt trống Đoài-Chấn (Đoài mang tính chủ).

Đối chiếu với truyền thuyết Việt, người trên mặt đất thuộc nhánh Chấn-Đoài Thần Nông thái dương và người trên thuyền thuộc nhánh Càn-Li Viêm Đế thái dương. Đối chiếu với cổ sử Việt, người trên mặt dất thuốc nhánh Âu Việt-Lạc Việt hay liên hiệp Âu-Lạc (Việt). Người trên thuyền thuộc nhánh Kì Việt-Dương Việt hay liên hiệp Kì-Dương (Việt) của ngành nòng nước.

Trống Sông Đà mang khuôn mặt liên hiệp hay lưỡng hợp tương đồng cùng ngành thiếu âm với thái âm của ngành mặt trời thái dương Khôn.

Đối chiếu với truyền thuyết Việt là trống của hai tộc mặt trời thái dương thái âm Thần và thiếu âm Nông của ngành thái dương Thần Nông của họ Bách Việt Thần Nông-Viêm Đế.

Đối chiếu với cổ sử Việt là trống liên hiệp Âu-Lạc (Việt).

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: