GRAFFITI Ở CÁNH ĐỒNG CHUM, LÀO.

*Nếu cần, bấm hai lần vào tựa bài để mở file.  

GRAFFITI  Ở CÁNH ĐỒNG

CHUM, LÀO.

Nguyễn Xuân Quang

 Chúng tôi tới thăm Cánh đồng Chum (tiếng Lào: Thồng Háy Hín), một kỳ quan khảo cổ học về cự thạch (megaliths) của Lào tọa lạc ở cao nguyên Xiêng Khoang (Xiêng Khoảng). Kỳ quan này cho tới nay vẫn còn là một huyền bí. Tôi sẽ viết một bài có tính cách khảo cổ học nhan đề là Vén Màn Bí Mật Về Cánh Đồng Chum ở Lào, xin đón đọc trên blog bacsinguyenxuanquang.wordpress.com trong những số tới.

Bài viết này chỉ viết về chữ Graffiti thấy trên một chiếc chum đá và nhắc tới một chút về các dấu tích chiến tranh Việt Nam ở Cánh Đồng Chum.

Xiêng Khoang có nghĩa là ‘Giềng Ngang’, ‘Tỉnh Ngang’ (Xiêng là Giềng, xóm giềng, tỉnh và theo biến âm kh = h như cười khì khì = cười hì hì, Khoang biến âm với Hoành là Ngang. Không biết ‘Tỉnh Ngang’ này có liên hệ gì với Đèo Ngang của Việt Nam hay không?

Cao nguyên Xiêng Khoang nằm ở đầu phía bắc dẫy Trường Sơn, rặng núi phân cách Việt và Lào, nơi có đường mòn HCM.

Hiện nay Cánh Đồng Chum là một trong những địa điểm thu hút du khách đứng vào hàng đầu của Lào, bởi vì Cánh Đồng Chum là một nơi hấp dẫn, quan trọng và đầy mạo hiểm.

Hấp dẫn vì như đã nói Cánh Đồng Chum là một kỳ quan khảo cổ học về cự thạch. Trên 2.000 chiếc chum đá khổng lồ đủ hình, đủ dạng, đủ cỡ với cấu tạo đá khác nhau… nằm rải rác trên vùng cao nguyên Bắc Lào này đã từng làm thắc mắc, làm ngơ ngẩn những nhà khảo cổ học hàng thập niên qua.

Quan trọng vì Cánh Đồng Chum là một vị trí quan trọng để nghiên cứu về tiền sử Đông Nam Á.

Mạo hiểm vì mỗi bước đi trên cánh đồng này là một bước chân dẫm lên nỗi chết tan thây. Mỗi bước chân không bước vào dấu chân cũ là có thể đạp phải bom đạn còn chưa nổ trong thời chiến tranh Việt Nam.

Hàng triệu quả bom đạn chưa nổ còn nằm chôn vùi trong lòng đất. Ước tính là 1/3 số bom thả xuống chưa nổ. Xiêng Khoang là tỉnh bị dội bom nặng thứ nhì sau tỉnh Savanakhet ở phía nam.

Ở đây xung quanh chỗ nào cũng thấy dấu vết chiến tranh. Ngay chiếc bình cắm hoa, cây đèn ngủ, cái giữ chìa khóa phòng khách sạn của chúng tôi cũng làm bằng vỏ bom, đạn.

IMG_3390

Vỏ đạn dùng làm vật giữ chìa khóa phòng khách sạn (ảnh của tác giả).

Và cả giấc ngủ thiền nằm giữa vỏ đạn bom:

IMG_3437

Riêng trong tỉnh Xiêng Khoang có hơn chín mươi địa điểm. Mỗi địa điểm có từ 1 tới 400 chiếc chum đá.  Hiện nay có 7 địa điểm đã được dò tìm đạn bom chưa nổ và mở ra cho du khách ‘bạo gan’ tới thăm. Nguy hiểm chết người vì khó có thể bảo đảm trăm phần trăm là đã tìm thấy hết đạn bom chưa nổ. Sau một ngày mưa lũ, đất lở, bom đạn lại chui lên mặt đất ‘lêu lêu’ con người.

Địa điểm được dò tìm và thăm viếng nhiều nhất ở gần thị trấn Phongsavan, thủ đô của Xiêng Khoang và được biết đó là  địa điểm số 1 Bản Ang. Những địa điểm số 1, 2, 3 và 16 gần thủ đô cũ của Xiêng Khoang. Địa điểm 23 gần một suối nước nóng lớn ở Mường Kham. Địa điểm ít được thăm viếng nhất là Mường Phukoot và địa điểm 52 là địa điểm có nhiều chum nhất với 392 chiếc ở gần một ngôi làng truyền thống Hmong, phải đi bộ mới tới được.

Chúng tôi vì thế chỉ viếng tham địa điểm 1 Bản Ang có 331 chiếc chum nằm trên một cao nguyên gió tạt bao quanh bở núi non.

IMG_3272

Những chum đá khổng lồ ở Bản Ang (ảnh của tác giả).

IMG_3265Những chiếc chum nằm thành tứng chùm riêng rẽ. Mỗi chùm có chừng vài chiếc đến vài trăm chiếc.

Tại địa điểm này chứng tích chiến tranh có thể thấy qua các chum nằm nghiêng ngả, đổ, vỡ, các giao thông hào do Pathet Lào và bộ đội Miền Bắc Việt Nam đã dùng để tránh đạn bom;

IMG_3266Giao thông hào (ảnh của tác giả).

các hố bom

IMG_3253Hố bom (ảnh của tác giả).

và ngay cả một đoạn đường mòn HCM đi qua đây.

IMG_3276Một đoạn đường mòn HCM (ảnh của tác giả).

Ở địa điểm này cũng có một hang đá vôi thiên nhiên có hai lỗ thông hơn được cho là hai ống khối nhân tạo.

IMG_3312Hang đá vôi dùng làm lò hỏa táng của người cổ xưa (ảnh của tác giả).

Bà Madeleine Colani, một nhà khảo cổ học người Pháp đã tìm thấy trong hang này những tro than người, những mảnh xương chưa cháy và các vật tùy táng. Bà kết luận hang này là một lò hỏa táng (crematorium) có hai ống khói nhân tạo của người xưa, những người đã tạo dựng lên Cánh Đồng Chum. Trong thời chiến tranh Việt Nam, quân đội Pathet Lào và bộ đội Miền Bắc Việt Nam đã dùng hang này làm chổ trú ẩn vì thế một chỗ hang bị sập vì trúng bom. Tôi muốn vào hang chụp một tấm ảnh nhưng ngay cửa hang có một tổ ong rất lớn nên không dám vào mặc dù có mang theo epi-pen (chích khi bị phản ứng quá mẫn  anaphylactic reaction do ong đốt). Đúng ra sở du lịch địa phương phải cho người lấy tổ ong này đi. Có thể có một du khách tới đây không chết vì bom đạn chưa nổ mà chết vì bị ong đốt.

Quí nhất ở địa điểm Bản Ang này là có hai chiếc chum có khắc hình và chữ ở mặt ngoài chum. Một chiếc chum có hình Người Nguyên Khởi đưa hai tay lên phía đầu. Đây là một hình khắc trên đá của người cổ xưa gọi là petroglyph. Hình này có tác giả gọi là hình người ếch (‘frogman’)

Không. Đây không phải là ‘người ếch’ mà chính là Người Nguyên Khởi, Thần Tổ Mẫu, Mẹ Tổ, Mẹ Đời

IMG_3334

(Xem Bóng Mẹ Tổ Âu Cơ ở Cánh Đồng Chum).

Hình khắc thứ hai chính là điểm cần nói tới trong bài viết này là hình một dòng chữ khắc trên một chiếc chum khác. Dòng chữ này cho tới nay không một ai biết rõ nguồn gốc, không một ai hiểu rõ nghĩa là gì? Tôi may mắn có dịp tới đây và hân hạnh là người đầu tiên ‘giải mã’ được dòng chữ này. Dòng chữ này khắc theo dạng mẫu tự ABC.

IMG_3309 copy

Một dòng chữ khắc trên một chiếc chum đá ở Cánh Đồng Chum (ảnh của tác giả).

Ở Đông Nam Á chỉ có người Việt Nam viết bằng mẫu tự ABC còn người Lào, Thái, Myanmar, Miên, Chàm viết theo dạng chữ Phạn hay Pali. Như thế dòng chữ này tuyệt nhiên không phải là dòng chữ khắc trên đá cổ xưa (petroglyphs) mà chỉ là một dòng chữ hiện đại. Những chữ này là một thứ graffiti. Graffiti là những chữ hay hình vẽ bậy bạ ở nơi công cộng thường mang tính cách phá hoại. Vì viết theo mẫu tự ABC nên những chữ này có thể đọc theo chữ Việt. trước khi ‘giải mã’ graffiti này, xin có lời xin lỗi các nhà đạo đức, tôi phải viết nguyên chữ theo sự thật.

Chữ đầu tiên là chữ D. Thật ra đây chính là chữ Đ trong các mẫu tự Việt Nam. Cái nét ngang của chữ Đ bị phai mòn, mờ đi, bị che lấp bởi mốc, mã tiền (lichen) gần như chỉ còn lại một cái chấm ở phía bên trái. Chữ thứ hai là chữ I. Chữ thứ ba là chữ T. Cả ba chữ là Đ, I, T. Đây chính là từ ĐỊT. Ai cũng biết Địt là một từ tục tĩu được dùng ở Miền Bắc Việt Nam còn Trung nam dùng từ ĐỤ. Trong Tiếng Việt Huyền Diệu, tôi đã truy tìm ra được nguồn gốc của từ Địt.  Ở đây chỉ vắn tắt nhắc lại cho quí vị nào chưa đọc.

ĐỊT có hai nghĩa theo tiếng Bắc là làm tình và theo tiếng Trung Nam là đánh hơi. Miền Bắc nói đánh hơi là đánh rắm.

-Địt là làm tình.

Theo biến âm đ=d như đa = da (cây), ta có địt = dịt. Từ dịt có một nghĩa là dính vào nhau, dán dính vào, buộc vào nhau như dịt thuốc vào vết thương. Theo d = r (dăng = răng), địt = rịt, rít. Rít rịt có nghĩa là dính như bàn tay rít rịt vì mủ mít. Theo d = ch như giăng = chăng, dịt = chịt, chít. Chằng chịt là cột, là chằng cứng bằng nhiều dây rợ qua lại nhiều lần. Chít khăn là cột, quấn khăn. Theo d = n như dăm = năm, ta có dịt = nịt. Nịt là dây thắt lưng. Theo qui luật về từ đôi của tôi thì nai nịt có nai = nịt. Theo biến âm n=đ (này = đây) ta có nai = đai và nai nịt = đai địt. Rõ như ban ngày địt = đai, dây cột. Như thế địt chỉ làm tình có nghĩa là dính vào nhau, cột vào nhau. Ta thấy rất rõ miền Bắc có từ “đi tơ” chỉ loài vật (thường là chó) giao hợp với nhau. Tơ là sợi dây. Đi tơ là cột vào nhau như cột bằng sợi tơ, sợi dây.  Địt liên hệ với Phi Luật Tân Tagalog dikit, ‘joined’, Paiwan d’ekәts , ‘to stick’, gốc Uraustronesisch Dempwolff’s construction *dekәt, ‘to stick’ (Davidson). Rõ nhất là địt và Tagalog dik-, ‘joined’ có nghĩa là kết nối với nhau, giao nhau cùng nghĩa với giao hợp. Địt liên hệ với Phạn ngữ snit, “to love”, yêu, có -nit là địt. Phạn ngữ snit biến âm với Phạn ngữ snih, “attached”, đính vào, cột vào. Rõ như ban ngày địt biến âm với dịt liên hệ ruột thịt với nịt, với Phạn ngữ snit, snih.  Ngoài ra địt cũng liên hệ với Phạn ngữ nidhuvana, “sexual intercourse”, làm tình.  Rõ như “Con cua tám cẳng hai càng, Một mai hai mắt rõ ràng con cua” là địt liên hệ với phần đầu nid- của Phạn ngữ nidhuvana. Nid- = nịt = địt.

Tóm lại địt là dịt (áp dính chặt sát vào), rịt (dính), nịt (cột vào), chít (cột), liên hệ với Phi Luật Tân Tagalog dikit, ‘joined’, Paiwan d’ekЗts , ‘to stick’, gốc Uraustronesisch Dempwolff’s construction *dekЗt, ‘to stick’ (Davidson) và với Phạn ngữ snit, “to love”, yêu, Phạn ngữ nidhuvana, “sexual intercourse”, làm tình. 

-Địt là đánh hơi

Theo biến âm đ = r như đôm đốp = rôm rốp (tiếng kêu), ta có địt = rít. Từ rít có một nghĩa là tiếng kêu do hơi thoát qua một ống hay một lỗ nhỏ như ấm nước sôi rít lên, còi tầu hỏa hay tầu thủy (chạy bằng hơi nước) rít lên từng hồi.   Như thế đánh hơi là đánh rít. Vì thế mà người Bắc nói đánh hơi là “đánh rắm, đánh rít” là “rắm rít”. Rắm rít là đánh hơi. Ta thấy người Bắc nói rắm còn Trung Nam biến rít thành địt. Từ rắm rít là một từ ghép điệp nghĩa, rít có nghĩa là tiếng kêu thì rắm cũng phải có nghĩa là tiếng kêu. Thật vậy, rắm biến âm với rầm chỉ tiếng kêu như rầm rầm. Có cầu chuyện tiếu lâm ví tiếng đánh hơi như tiếng sấm ầm ầm, rầm rầm. . Trong một buổi ngự triều, một vị vua đang ngủ gà ngủ gật, một ông quan lỡ đánh “bụp” rầm một tiếng làm vua giật mình thức dậy, hoảng hốt, vua hỏi “Cái gì kêu vậy?” Vị quan lanh miệng đáp: “Bẩm Thượng Hoàng, sấm kêu!”. Vua vặn lại “Sấm kêu sao lại thối?”. Vị quan chữa lại “Dạ có con cóc chết”. Vua thắt mắc: “Cóc chết sao lại kêu?”. Vị quan giải thích: “Sấm kêu làm cóc chết!” Vua giận “Cóc kêu gọi sấm làm mưa thì làm sao sấm lại làm cóc chết được”.  Rồi ra lệnh lôi vị quan ra chém đầu, nghi vị quan này muốn bắn… ám sát mình.

Rõ nhất là “rít”,  “địt” liên hệ ruột thịt với Phạn ngữ “dhish” , “to emit sound” (phát ra tiếng kêu). Cũng rõ như “Con cua tám cẳng hai càng, Một mai hai mắt rõ ràng con cua” là địt, đánh hơi, rít ruột thịt Phạn ngữ “dhish”, phát ra tiếng kêu. Anh ngữ đánh hơi gọi là “to fart” liên hệ với Phạn ngữ “pard” (to fart), Hy Lạp ngữ là “perdo”, Old High German là “ferzan”. Các từ này có gốc “fa-“, “pa-“ liên hệ với Việt ngữ “phà” là xì ra hơi, nhả ra hơi như phà ra hơi, phà khói, phì phà điếu thuốc  và gốc “pe-“, “fe-“ liên hệ với Việt ngữ “phèo” như thấy qua từ ghép “phì phèo”, với Hán Việt “phế” là phổi (phổi là cơ quan hô hấp phì, phà ra hơi…). Việt ngữ có từ “phá thối” nếu hiểu theo nghĩa thô tục thì gần cận với từ “phà thối”. Ở đây, ta có thể dùng Việt ngữ phà ra hơi, đánh hơi để hiểu ngọn ngành Anh ngữ “to fart” là phà ra hơi.

Như thế ta thấy rất rõ hai từ địt của miền Bắc và Trung Nam là hai từ đồng âm dị nghĩa. Đúng ra Trung Nam phải nói đánh dít hay rít cho đồng điệu với từ rắm của miền Bắc theo đúng như từ đôi “rắm rít” thay vì nói theo biến âm địt thì mới không gây ra hiểu nhầm.

Còn từ đụ của Trung Nam dùng, xin mời tìm đọc bài Ý Nghĩa Những Từ Thô Tục Trong Việt Ngữ của tôi trong bacsinguyenxuanquang.wordpress.com

Xin trở lại với dòng graffiti. Chữ sau cùng là chữ M.

Ta có thể hiểu theo nhiều cách. Trước hết nếu hiểu theo người viết có chủ ý chỉ muốn viết tắt một chữ M thôi. Trong trường hợp này M có thể là chữ dùng chỉ âm ‘EM‘, có nghĩa là EM gái, người tình nữ trẻ, cô gái trẻ. ĐỊT MĐỊT EM.

Trườnh hợp thứ hai, chữ M được coi như là chữ viết tắt của từ MẸ. ĐỊT MĐỊT MẸ.

Phần cuối của chữ M được khắc rất sâu và đậm trông giống chữ I hoa. Nếu đúng như vậy, người viết cố ý viết thêm chữ I sau chữ M nhưng lại viết chồng lên chữ M. Trong trường hợp này, M với phần sau là chữ I là MI có nghĩa là MÀY (người Trung dùng mi trong khi người Bắc dùng mày). ĐỊT MI là ĐỊT MÀY.

Nếu chữ I đọc thêm dấu ngã vào thành Ĩ. ĐỊT MĨ (bọn Mĩ).

Người Việt Nam hiện nay theo xã hội chủ nghĩa thích viết I ngắn thay cho Y. Hiển nhiên người viết dòng graffiti này là người xã hội chủ nghĩa vì đã viết từ địt.

Ngoài ra cũng có thể giải thích một cách nữa là người viết muốn viết cả từ MẸ, MI hay MĨ chứ không có ý viết chồng lên chữ M hay viết tắt nhưng vì vội vã, hối hả quá, ví dụ như ngay lúc đó có tiếng máy bay đế quốc Mỹ hay còi báo động nên phải vắt dò lên cổ chạy trốn vào hang ẩn nấp để sống còn, nên phải bỏ dang dở từ cuối chỉ mới viết được chữ M. Cũng có thể người viết dòng graffiti này đã bị bom đạn giết chết ngay tại chổ khi mới viết xong chữ M hay bị chết ở đâu đó trong khi trốn chậy nên không bao giờ trở lại viết tiếp nữa.

Dù gì đi nữa thì hiển nhiên dòng graffiti này cũng do một bộ đội Miền Bắc Việt Nam đã viết trong thời chiến tranh Việt Nam vừa qua. Người viết tưởng nhớ đến người tình nhỏ bé ở quê nhà? Người viết phẫn nỗ với cuộc chiến? với nhà nước, với đảng? Người viết hận thù Đế Quốc Mỹ?… Người viết dòng graffiti này giờ đây có thể hãy còn sống. Hiện đang ở trong lầu vàng cung son, theo thói quen, đang viết graffiti vào lịch sử Việt Nam hay đang ở trong lao tù, ngồi viết graffiti lên vách nhà giam. Chuyện gì cũng có thể xẩy ra.

Đây là một dấu tích Đ. M. của cuộc chiến tranh Việt Nam còn khắc sâu trên chum đá, ở Cánh Đồng Chum, một kỳ quan khảo cổ học của xứ  Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào PDR (People Democratic Republic Laos), một xứ hiền hòa, thanh thản. Người Lào luôn luôn PDR, Please Don’t Rush.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: