TRỐNG HÌNH TRỤ ỐNG Ở LÀO.

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

CÁC NHÓM TRỐNG ĐỒNG THEO HÌNH DẠNG.

TRỐNG HÌNH TRỤ ỐNG Ở LÀO .

Nguyễn Xuân Quang

Bài viết này chỉ nói tới một loại trống có hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II. Trong mớ tài liệu có trong tay, tôi không thấy loại trống này ở Việt Nam. Trong chuyến viếng thăm Lào tháng 11-2012 tôi bắt gặp được một chiếc trống loại này ở một tiệm bán đồ cổ ở Lào. Tôi muốn mua chiếc trống này (đây chỉ là một chiếc trống giả cổ, trống bắt chước) nhưng rất tiếc chủ nhân đi nghỉ trưa, chúng tôi phải ra ngay phi trường đi Xiêng Khoang thăm Cánh Đồng Chum nên không có thì giờ chờ đợi, tôi chỉ xin phép người bán hàng bên cạnh giữ hộ tiệm chụp được vài tấm ảnh.

IMG_3058Trống trụ ống ở đầu tận cùng bên trái. Còn lại các trống ở hàng đầu thuộc loại trống Shan (Karen). Các trống ở sâu trong nhà thuộc loại Đông Sơn. 

Trước hết, xin nói một chút tổng quát về trống đồng Lào.

Trống đồng ở Lào thuộc trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Lào và Việt cùng một chủng tộc Bách Việt. Lào là một chi Thái thuộc ngành Nòng Thần Nông của chủng Người Vũ Trụ Bách Việt. Ngôn ngữ Việt có một rễ lớn Thái Tầy, trước đây được Henry Maspero xếp vào nhóm Tai-Kadai.

Lào và Việt về địa lý nằm cùng sát nhau, thời chưa có biên giới, Việt và Lào cùng nằm trong địa bàn văn hóa Đông Sơn.

Truyền thuyết Lào nói rằng người Lào sinh ra từ một quả bầu. Truyền thuyết này giống y chang truyền thuyết của một vài sắc tộc Việt. Quả bầu truyền thuyết này phải hiểu là quả Bầu Vũ Trụ, Quả Bầu Trời Thế Gian. Quả bầu này chính là quả Bầu Vũ Trụ, tức Trứng Vũ Trụ, chính là hình ảnh của Bọc Trứng Thế Gian đội lốt Trứng Vũ Trụ của Mẹ Tổ Âu Cơ, nở ra trăm Lang Hùng, Tổ tiên Bách Việt.

Điểm này cũng thấy còn ghi khắc lại trong sử đồng Đông Sơn. Như đã biết, trống đồng âm dương Ngọc Lũ I diễn tả chủng người Vũ Trụ thấy qua trang phục đầu hình quả bầu của người cuối cùng ở nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương (xem trống đồng âm dương Ngọc Lũ I).

Vân vân…

Vì thế trống đồng Lào thuộc đại tộc Đông Sơn hay bị ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn là chuyện tất nhiên.

Gần đây, năm 2008, Lào khai quật được một chiếc trống đồng rất lớn loại Đông Sơn Nguyễn Xuân Quang VI hay Heger I ở địa phận Villabouly, tỉnh Savanakhet gần con sông Nam Kok, cao 80 cm, đường kính 1.1 mét có tuổi độ 1.500 đến 2.000 năm, hiện trưng bầy ở Bảo Tàng Viện Quốc Gia ở Vạn Tượng. Rất tiếc không được phép chụp ảnh.

Mặt khác Lào có cùng biên giới với Myanmar và có các sắc tộc thờ trống đồng của đại tộc Đông Sơn như tộc Shan, Karen vì thế trống Lào có rất nhiều loại trống Shan này (xem Nhóm Trống Shan). Các trống trưng bầy ở Bảo Tàng Viện Luang Prabang hiện nay toàn là những trống thuộc loại trống Shan hay Karen loại Nguyễn Xuân Quang III (Heger III).

Tương tự Lào cũng có biên giới với Trung Quốc và Thái Lan nên cũng có các loại trống của hai nước này nhất là các trống ếch, trông sấm mưa.

Các trống có thêm những nét đặc thù văn hóa Lào có thể do người Lào làm ra.

Trống Lào có đủ các hình dạng của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Như đã nói ở trên, bài viết này chỉ nói tới loại trống có hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II thấy ở Lào.

Cũng xin nhắc lại là chúng ta đã nói tới trống hình trụ có eo Pejeng ở Nam dương. Trống nhóm Pejeng có eo này là dạng biến thể của trống hình trụ ông Nguyễn Xuân Quang II.

Trống hình trụ có eo Pejeng có hình búa thiên lôi, vajra lửa (chớp)-nước (mưa) mang khuôn mặt trống Lửa của các tộc nước sống ở hải đảo và có thể bị ảnh hưởng của văn hóa Ấn-Độ vì trống có hình búa thiên lôi hình trụ ống có eo giống hình chiếc trống của Thần Shiva.

Trong khí đó trống hình trụ ống thẳng Nguyễn Xuân Quang II mang tính trống lửa biểu tượng cho cực dương lửa thái dương Càn ở tầng lưỡng nghi hay tượng lửa thiếu dương Li ở tầng tứ tượng. Nhìn dưới phương diện sấm so với trống Pejeng hình búa thiên lôi có eo vajra thì trống loại hình trụ ống thẳng này có thể xem là có một khuôn mặt hình búa thiên lôi vajra hình trụ thẳng như cây gậy sắt của ông Dóng Phù Đổng Thiên Vương hay của thần Zeus, Hy Lạp.

Bây giờ xin nói về  chiếc trống giả cổ hay bắt chước có hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II thấy ở Lào này. Hy vọng là sự bắt chước này chưa đến nỗi tam sao thất bản quá nhiều. Trong tương lai khi nào thấy được một chiếc trống thứ thật loại này sẽ xin giải đọc nữa. Vì thế những điều thấy trên trống này có thể chỉ là một thứ tài liệu mang tính cách nhiều về gợi ý.

Như đã biết trống đồng Nguyễn Xuân Quang II này nằm trong đại tộc trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn. Heger không  nhắc tới loại trống này, có lẽ chúng nằm trong các trống thuộc loại chuyển tiếp của ông.

IMG_3055 Trống hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II ờ Lào (ảnh của tác giả chụp tại một tiệm bán đồ cổ ở Vientiane Lào).

Xin nhắc lại tôi đặt tên các loại trống theo hình dạng và con số dựa theo ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

Nhóm Trống Nguyễn Xuân Quang Loại II là loại trống hình trụ ống, trống Nọc, trống Tượng Lửa Dương, trống Mặt Trời Lửa, trống Thái dương Càn ở tầng lưỡng nghi hay thiếu dương Li ở tầng  tứ tượng.

Trống hình trụ tức hình nọc có nghĩa là đực, dương, lửa, mặt trời… vì thế trống hình trụ ống biểu tượng cho lửa đất dương thiếu âm Li; lửa vũ trụ, mặt trời lửa, thái dương Càn ngành dương. Số II (2) là số Khảm hôn phối với Li. Số II La Mã cũng gợi ý cho thấy hình hai cây que dùng dùi làm ra lửa! (Điều này giúp trí nhớ trống loại II là trống lửa, khi nói tới loại II là nhớ tới hai nọc que I, I dùi làm ra lửa!).

Vì thế trống hình trụ ống theo chính thống phải có một khuôn mặt Lửa sinh tạo ngành nọc dương thái dương.

Ta có thể kiểm chứng qua nhiều diện.

Qua bài viết Các Nhóm Trống Theo Hình Dạng ta đã biết một cách tổng quát về các trống hình trụ ống này.

.Qua Dịch và chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.

Về hình thể, kiểm chứng với chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ta cũng thấy rất rõ trống trụ ống có hình nọc que. Như đã nói ở trên ở diện vũ trụ tạo hóa, trống hình trụ nọc biểu tượng cho lửa vũ trụ Càn. Ở diện tứ tượng, trống có hình trụ nọc là trống lửa thế gian Li.

.Về cơ thể học

Trống có thể coi như là do trống Nấm Vũ Trụ (Nấm Tam Thế, Nấm Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI có trụ trống thẳng đứng cắt bỏ đi phần đầu và đế chỉ còn phần trụ trống.

TD 4

Cắt bỏ phần đầu và đế bên trái còn lại phần trụ trống, tức loại NXQ II (lưu ý trụ trống ở hình này không thẳng đứng như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I ).

Phần trụ trống là phần chính của Trục Thế Giới vì thế trống loại này  cũng có thể còn có một khuôn mặt biểu tượng cho cho Trục Thế Giới.

Về phương diện dân tộc học

Trong Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, ở cõi Thượng Thế, lửa vũ trụ Càn có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa ở cõi vũ trụ ngành nọc dương. Ở cõi thế gian lửa đất Li đội lốt Càn cũng có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa ở cõi thế gian ngành nọc dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ở cõi Thượng Thế, thần mặt trời Viêm Đế có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa. Ở cõi trời Trung Thế Đế Minh đội lốt Viêm Đế. Li Kì Dương Vương vua cõi nhân sinh đội lốt Đế Minh.

Đây là trống biểu của Man Việt Càn Đế Minh hay Kì Việt Li Kì Dương Vương.

Cần lưu tâm

 Trống loại này theo chính thống mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của tượng lửa hay tất cả các khuôn mặt của đại tộc lửa. 

Lửa thái dương mang nghĩa dương, cực dương, lửa, vì thế, như đã thấy ở chương Ý Nghĩa Trống Đồng Đông Nam Á, trống hình trụ ống có ba khuôn mặt của ngành nọc lửa: Cõi Trên là vũ trụ dương, cực dương, Cõi Giữa là tượng lửa Li, đất dương và Cõi Dưới là Cõi lửa dương của ngành âm. Cần phải dựa vào các chi tiết khác để phân định.

Bây giờ ta hãy giải đọc chiếc trống hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II giả cổ này.

Nhìn tổng quát trống có trang trí theo trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

IMG_3056

Măt chiếc trống hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II giả cổ ở Lào (ảnh của tác giả).

a. Tầng trên: Hư Vô hay Vô Cực

Vỏ hư vô hay vỏ không gian ở đây có vành trống không nhỏ diễn tả Khôn, không gian, cho biết đi với mặt trời ngành nòng Khôn âm.

b. Tầng Giữa: Thái Cực hay Trứng Vũ Trụ và Lưỡng Nghi.

Tức bọc vũ trụ hay bọc Trứng Vũ Trụ gồm có mặt trời và không gian còn quyện vào nhau dưới dạng nòng nọc, âm dương nhất thể. Sau đó phân cực thành hai cực hay lưỡng nghi gồm:

-Cực dương

Mặt trời

Mặt trời có khối lửa hình đĩa tròn mang âm tính có 12 nọc tia sáng hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang tính thái dương.

Đây là mặt trời nọc thái dương Cấn/Chấn thái dương.

-Cực âm

Khoảng không gian giữa tia sáng có hình thái nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang dương tính. Ở đây chỉ có 6 nọc. Số 6 là âm thái dương cho biết không gian mang tính âm thái dương đi cặp với mặt trời 12 nọc tia sáng cũng mang tính âm thái dương Chấn.

Nói tóm lại thượng thế ở đây là vũ trụ có mặt trời thái âm Chấn ngành thái dương và không gian âm thái dương Tốn. Cả hai cùng mang tính thái dương.

Như đã biết, Chấn hôn phối với Tốn thấy trong Dịch Tiên Thiên Bát Quái tức Dịch mang tính sinh tạo ở cõi vũ trụ. Mặt trời Chấn ở đây mang khuôn mặt sinh tạo chứ không phải sấm mưa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Chấn hôn phối với khuôn mặt Tốn gió âm sinh tạo (đẻ ra bọc trứng) của Âu Cơ.

Các vành giới hạn

Các vành giới hạn là những vành trống không nhỏ mang âm tính, đi đôi với mặt trời mang âm tính Chấn.

c. Tầng dưới: vùng các vành sinh tạo vận hành.

Gồm chỉ có 2

-Vành 1 có hình thái những chấm nọc cường điệu diễn tả Lửa, dương nguyên tạo, sinh tạo Càn/Li.

-Vành 2 là vành có hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là  thái âm, nước thái âm, Khôn âm.

Như thế các vành sinh tạo vận hành ở đây có nghĩa là Càn Khôn sinh tạo ở cõi vũ trụ theo dạng hôn phối nòng nọc, âm dương.

Ở các trống khác mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, những vành ở vùng sinh tạo vận hành này thường diễn tả tứ tượng đủ cả lưỡng hợp đại vũ trụ Càn Chấn và lưỡng hợp tiểu vũ trụ  Li Đoài. Ở đây chỉ có hai vànht chấm nọc lửa, dương Càn sinh tạo và hai vòng tròn đồng tâm thái âm Khôn. Trống này đã không còn theo qui ước chính thống và chỉ là trống biểu của một đại tộc dương thuộc ngành lửa Càn/Li mà thôi. Điểm này lại ăn khớp với hình dáng hình trụ ống biểu tượng cho Lửa Càn/Li.

.Trung Thế

-Vùng đất

.Đất dương

Gồm vành cò bay và vành vòng tròn đồng tâm có nghĩa là thái âm, nước thái âm, Khôn âm.

co

Còn cò trên trống giả cổ hình trụ ống thấy ở Lào.

Bây giờ ta hãy mổ xẻ, giải đọc bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que những con cò trên trống này.

Vành cò bay có 8 con cò. Số 8 là số Khôn. Theo giao hòa nòng nọc, âm dương Khôn hôn phối với Càn. Những con cò này có một khuôn mặt Càn.  Vành cò này đi với vành có hai vòng tròn đồng tâm thái âm Khôn cũng xác thực thêm là cò Càn Khôn.

Điểm đáng chú ý ở đây là những con cò này không còn theo qui tắc chính thống là bay theo duy dương tức theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời như thườngthấy trên các trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn mà chúng bay theo chiều âm cùng chiều kim đồng hồ.

Một là trống giả cổ này đã làm sai qui tắc chính thống. Có lẽ đây là một lỗi kỹ thuật. Lỗi này dễ hiểu vì trống này làm ở Lào và một trống muộn, trống giả cổ. Hai là người làm trống có thể có chủ ý làm như thế để cho biết các con cò này thuộc phía âm Khôn thái âm theo ý riêng của mình. Điều này cũng có lý vì trống làm ở Lào và trống muộn, trống giả cổ.

Cò có mỏ hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) rất to mang dương tính nghiêng về cò lửa Càn/Li. Trong mỏ có đánh dấu hay viết chữ nọc que cho biết cò có một khuôn mặt nọc, dương lửa Càn/Li. Bờm hình tam giác, nọc mũi tên cũng có một nghĩa là nọc, lửa, thái dương Càn/Li. Con mắt cò ở đây là con mắt dương chấm vòng tròn.

Cánh có 5 hình nọc mũi tên hơi cong mang âm tính.  Số 5 là Số Li. Li cong mang âm tính cho biết cò thuộc đại tộc Khôn, Chấn ăn khớp với số 8 con cò và bay theo chiều âm.

Nhưng mấu chốt chính là tên con cò này viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc ở cổ và hình chữ U đỉnh quay về phía đầu nằm ở thân. Chữ nọc que cho thấy cò thuộc ngành nọc que Càn Li và hình chữ U nằm

là dạng âm của chữ V, có nghĩa ngược với chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) đứng ^. Ta thấy rất rõ V tương với U qua Latin cổ viết Uox và hiện kim là Vox có nghĩa là voice, tiếng nói. Trong chữ Việt Và (cơm vào miệng) nguyên thủy là Ùa (cơm vào miệng).  Hiện nay ta cũng thấy trong nhiều chữ viết, V viết thay cho U như tên hãng BVLGARI. V có nghĩa là âm, nữ bộ phận sinh dục nữ (Dan Brown trong Da Vinci Code gọi là chalice), nước dương, vực thẩm ngành thái dương tương ứng với Chấn.

Như thế hai chữ nọc que và chữ U cho thấy tên con cò này là Càn/Chấn diễn tả lưỡng hợp đại vũ trụ.

Nếu nhìn theo duy dương tức chỉ ngành dương thôi thì U là núi âm tròn đầu tức Li của phía âm (trong khi V ngược là núi tháp nhọn đầu dương). Trong trường hợp này hai chữ nọc que và U cho thấy con cò thuộc ngành Càn/Li.

Như thế tên cò viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que và chữ U cho biết con cò  có khuôn mặt chính là Cò Lửa Vũ Trụ thái dương Càn-Nước Vũ Trụ thái âm Chấn. Dĩ nhiên trên trống có hình trụ ống Lửa Càn/Li này khuôn mặt Càn mang tính trội.

Xin nhắc lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn tên các loài vật, người và vật thường viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que. Đọc được chữ, được tên là biết được danh tính. Ví dụ cò sấm mưa trên trống Hữu Chung có tên là chữ sấm gầm ở cổ; con sói lang khí gió trên trống Miếu Môn I có tên là chiếc túi âm thanh dương có góc cạnh nhọn ở dưới mỏ (túi dương là không gian dương khí gió, con thú hú,tru là con sói lang); cò lửa Càn trên trống Đông Sơn IV có chữ que nọc ở mỏ; cò lửa Càn viết bằng chữ nọc tam giác mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ở trống Phú Xuyên…  

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, cò Lửa vũ trụ Càn là chim biểu của đại tộc Lửa thái dương dòng nọc lửa, mặt trời Viêm Đế-Đế Minh-Kì Dương Vương-Hùng Vương nhánh Lửa. Ở đây là khuôn mặt Viêm Đế mang tính chủ vì lưỡng hợp với Khôn 8 con cò bay theo chiều âm.

.Đất âm

Gồm vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) theo duy dương là dương, lửa thái dương Càn, theo duy âm đọc theo chữ V là âm, nước, vực sâu thái dương. Vành này có thể cho thấy nếu nhìn theo dạng lưỡng hợp là nòng nọc, âm dương thái dương Càn Chấn hôn phối hay chỉ nhìn theo dạng đất âm thôi thì có nghĩa là đất âm thái dương (nghĩa của vực sâu). 

Các vành ở biên trống

Chỉ có một vành biên trống hình chấm nọc lửa sinh tạo Càn/Li. Ở đây khuôn mặt Càn mang tính trội.

Không có hình các tượng ếch mặc dù mặt trời có 12 nọc tia sáng Cấn/Chấn. Điểm này cho thấy rô Chấn có một khuôn mặt sinh tạo mang tính chủ không phải là sấm mưa vì vậy mà mặt trời mới nằm trong không gian 6 nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) Tốn thái dương. Như đã nói ở trên hôn phối Chấn/Tốn thấy trong Dịch Tiên Thiên Bái Quái cũng xác nhận tính sinh tạo này của Chấn.  

-Vùng nước

Tang trống không có hình thuyền, chim nước chỉ có hai vành chấm nọc sinh tạo, lửa, thái dương và vành hai vòng tròn đồng tâm thái âm nước. Hai vành này cho biết vùng nước tang trống là nước thái dương. Nếu nhìn dưới dạng nòng nọc, âm dương hôn phối thì là Lửa Nước, Càn/Khôn.

.Hạ Thế

Đế trống không có trang trí còn giữ đúng theo truyền thống.

.Trục Thế Giới

Trụ trống hình trụ thẳng đứng cường điệu diễn tả lửa dương và Trục Thế Giới.

tru trong

Trụ trống có hình hươu sửng ba mấu và chim cắt sừng.

Phần trên có 6 vành chia làm hai nhóm: nhóm 3 vành ở trên gồm vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) đứng Càn/Li nằm giữa hai vành có hai vòng tròn đồng tâm thái âm. Với âm tính này, vành nọc mũi tên diễn tả âm của dương tức Li.

Ba vành phía dưới gồm vành nọc mũi tên đứng Càn/Li nằm giữa hai vành có chấm nọc lửa sinh tạo. Với dương tính này vành nọc mũi tên diễn tả dương của dương tức Càn. Như thế nhóm 6 vành này diễn tả Li/Càn.

Phía giữa trụ trống có một nhóm 4 vành gồm hai vành ngoài cùng 1 và 4 là những chấm nọc sinh tạo, vành thứ 2 là vành vòng tròn đồng tâm thái âm, nước vành thứ 3 là vành nọc mũi tên lửa, thái dương. Như thế cả 4 vành diễn tả Càn Khôn thái dương.

Tất cả hai nhóm trang trí trên và giữa này cho thấy trống này có khuôn mặt Càn Li của ngành nọc dương ăn khớp với hình trụ ống của trống.

Giữa hai nhóm các vành trang trí này là những ô trong có hình hươu.

Ta đã biết hươu là con thú bốn chân sống trên mặt đất và có hai sừng biểu tượng cho lửa là con thú biểu cho Đất Lửa tức Đất dương thế gian, Cõi Giữa thế gian tức Li. Ví dụ điển hình là hình hươu sủa thấy trên trống Kì Việt Phú Xuyên.

Ở đây sừng hương có ba mấu nhọn tức ba nọc que III, Càn, thái dương. Con hươu cũng quay mặt về phía tay phải tức phía dương. Như vậy các con hươu này là những con hươu Li ngành thái dương.

Những vành trang trí dưới cùng gồm có 5 vành. Hai vành ngoài cùng là vành số 1 là những chấm nọc sinh tạo, lửa, Càn. Vành thứ 5 trống không, Khôn. Đây có thể là hai vành giới hạn bên ngoài của nhóm diễn tả Càn Khôn.  Còn lại ba vành ở giữa gồm vành thứ 3 là hai vòng tròn đồng tâm nước, thái âm nằm giữa hai vành 2 và 4 là hai vành nọc mũi tên lửa, dương, thái dương. Nhìn theo duy dương là âm O nằm giữa hai dương tức hai I, I  tức quẻ IOI, Li. Nhìn theo duy âm thì vành 3 thái âm nước nằm giữa hai vành nọc mũi tên thái dương là nước thái dương Chấn. Ở đây nghiêng về khôn mặt duy dương vì phía trên có hươu thái dương và ở dưới cũng có chim dương.

Giữa hai nhóm các vành trang trí ở giữa và dưới thân trống là một vành lớn có nhũng hình chim.

Những con chim này có mỏ rất lớn như cây rìu và trên đầu có mũ sừng chính là những con chim bổ cắt (hornbill). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là chim Rìu, chim Việt, chim biểu của ngành nọc mặt trời Viêm Đế-Đế Minh-Kì Dương Vương.

Những con chim này đứng trên mặt đất nhưng là giống chim cắt lớn có mũ sừng to Great Hornbill nên là biểu tượng cho Càn cõi thế gian. Đặc điểm là những con chim này quay về phía tay trái phía âm cho thấy chúng là những con chim Càn của ngành âm ăn khớp với mặt trời Chấn ở mặt trống.

Chúng giống hệt như các con chim cắt ở trống Duy Tiên.

clip_image004

Chim bổ cắt trên trống Duy Tiên.

Ngoài ra ở trên các Trục Thế Giới làm bằng trống đồ của văn hóa Điền Nam Trung Hoa cũng thấy hình bóng chim cắt này (xen Đồ Đồng Điền).

Những con chim cắt đứng này là biểu tượng của Càn thế gian. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là chim biểu của Đế Minh đội lốt Viêm Đế.

Như vậy hình hươu và chim cắt đứng và những vành trên thân trống cho thấy trống có một khuôn mặt Càn/Li thái dương sinh tạo. Với hươu bốn chân sống trên mặt đất và chim cắt đứng trên mặt đất khuôn mặt Li có thể mang tính trội ở trên thân trống. Điều này thấy rõ qua sự kiện là các ô và các con hươu lớn hơn, cường điệu hơn và hươu để ở trên các con chim cắt ở trong một vành nhỏ ở dưới. Các con hươu trong các khung trông bệ vệ, tôn kính hơn.

Khuôn mặt Li lửa thế gian này ăn khớp với trống này có mặt trời thế gian (có số tia sáng lớn hơn 8).

Xin lưu ý sự hiện của hươu và chim cắt hai biểu tượng của ngành dương trên thân trống xác thực trống này là trống của ngành nọc lửa Càn/Li. Sự hiện diện này cũng cung cấp một bằng chứng quí báu hỗ trợ, xác thực về ý nghĩa của các hình người thú, chim, vật trên trục trống. Thú chim có thể là những những tế vật dâng cúng tới ba cõi mà cũng có thể là những biểu tượng, những totem ngành, đại tộc. Người trên thân trống có thể là những thần linh, những vị lãnh đạo tinh thần như ông mo, thầy pháp có thể đi lại ba cõi liên hệ với thần linh thiện và ác ở ba cõi hay với linh hồn người chết và cũng có thể là những đại diện của các ngành, đại tộc, tộc người liên hệ với trống.

Kết Luận

.Hình dạng: trống hình trụ ống không có trong xếp loại của Heger là nhóm Trống Nguyễn Xuân Quang Loại II tức  loại trống hình trụ ống, trống Nọc, Trống Tượng Lửa Dương, Trống Mặt Trời Lửa, Trống Thái dương Càn ở tầng lưỡng nghi hay thiếu dương Li ở tầng  tứ tượng.

.Họ: họ mặt trời thái dương.

.Ngành mặt trời âm thái dương có khối lửa đĩa tròn âm và tia sáng nọc thái dương.

.Nhánh mặt trời thế gian 12 nọc tia sáng Cấn/Chấn nhưng đi với không gian Tốn âm thái dương nên mặt trời có khuôn mặt Chấn/Tốn mang tính chủ nghiêng về sinh tạo nhiều không phải là trống sấm mưa.

Qua hai vành vận hành ở vùng sinh tạo bao quanh mặt trời-không gian ta biết trống này chỉ diễn tả một ngành, một đại tộc hay một tộc phía nọc dương mà thôi. Vậy trống này là trống tộc Càn hay Li?

Ta thấy mặt trời Chấn đi với không gian Tốn âm thái dương như thế mặt trời mang tính lửa thái dương Càn.

Hai vành vận hành sinh tạo Càn Khôn. Vùng đất dương có tám con cò bay là cò Càn Khôn. Đây là những con cò Càn Chấn (bay theo chiều âm). Vùng đất âm Càn Chấn. Vành ngoài biên chấm nọc sinh tạo mang tính trội Càn. Vùng tang trống mang tính Càn Khôn. Thân trống có hình hươu Li và bổ cắt Càn.

Như thế ta thấy trên mặt trống diễn tả Càn mang tính chủ trong khi ở trụ trống khuôn mặt Li lại mang tính chủ. Điều này dễ hiểu vì trụ trống có một khuôn mặt Trục Thế Giới biểu tượng cho Li Núi Trụ Thế Gian.

Nhìn tổng quát trống diễn tả Càn Li nhưng Càn mang tính chủ. Trống thuộc đại tộc trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn nghiêng về Càn Khôn sinh tạo nên cũng mang ý nghĩa biểu tượng trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

Trống là trống biểu của chi Chấn thái dương thuộc đại tộc Lửa dương Càn Li ăn khớp trăm phần trăm với nhóm trống Nguyễn Xuân Quang Loại II, trống hình trụ ống tức trống Nọc, trống Lửa Dương, trống Thái dương Càn ở tầng lưỡng nghi hay thiếu dương Li ở tầng  tứ tượng. Trống này có khuôn mặt Càn mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống biểu của  tộc Chấn thái dương Lạc Long Quân của đại tộc Man Việt Đế Minh-Kì Việt Kì Dương Vương với Man Việt  mang tính chủ.

Cần lưu tâm là trống không có hình các tượng ếch mặc dù có sự hiện diện của mặt trời Chấn. Khoảng không gian giữa tia sáng Tốn cho biết mặt trời Chấn có khuôn mặt âm thái dương sinh tạo không phải là Chấn sấm mưa vì thế không có tượng cóc/ếch, hình thái sóng cuộn, sấm gầm… ngược lại có rất nhiều các trang trí dương như chữ chấm nọc sinh tạo, nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) và hình hươu và chim cắt biểu tượng của ngành dương Li Càn. 

Đây là một trống giả cổ đã muộn với những diễn tả không còn theo qui ước chính thống tuy nhiên cách diễn dặt vẫn còn giữ khá đúng hình ảnh và ngữ pháp chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.  Trống bắt chước, trống cóp-pi còn giữ theo đúng khuôn mẫu gốc. Nội dung rất khắng khít với hình dạng trống hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: