TRỐNG TRỆT NAM TRUNG HOA (phần 2 và hết).

 (*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

CÁC NHÓM TRỐNG ĐỒNG THEO HÌNH DẠNG.

TRỐNG TRỆT NAM TRUNG HOA .

(phần 2 và hết)

Nguyễn Xuân Quang

 

.Giải Đọc Một Trống Trệt Nam Trung Hoa

 

Tôi chỉ có hình chi tiết một trống trệt Nam Trung Hoa loại nồi úp Nguyễn Xuân Quang IV của A. J. B. Kempers.

Chỉ xin chú tâm nói tới các điểm chủ yếu.

 yunnan  ter

  Trống Nam Trung Hoa NXQ IV

hay Heger IV (A. J. B. Kempers, plate 20.02).

a. Tầng trên: Hư Vô hay Vô Cực

Vỏ hư vô hay vỏ không gian ở đây có 4 vòng tròn hay 3 vành. Đây là cách diễn tả không còn theo qui ước chính thống vì thay vì chỉ cần ba vòng tròn để diễn tả Khôn, không gian ở đây lại dùng ba vành tròn.

b. Tầng Giữa: Thái Cực hay Trứng Vũ Trụ và Lưỡng Nghi.

Tức bọc vũ trụ hay bọc Trứng Vũ Trụ gồm có mặt trời và không gian còn quyện vào nhau dưới dạng nòng nọc, âm dương nhất thể. Sau đó phân cực thành hai cực hay lưỡng nghi gồm:

-Cực dương

Mặt trời

Mặt trời có khối lửa hình đĩa tròn mang âm tính có 12 nọc tia sáng hình kim thay vì hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) thái dương cũng mang âm tính tức nọc tia sáng âm.

Đây là mặt trời nọc thái dương âm nam êm dịu, mặt trời chiều tà, mặt trời lặn, mặt trời dòng nước, mặt trời Chấn thái âm ngành thái dương.

Ở đây có một lỗi lầm chết người (fatal error) là nọc tia sáng đâm xuyên qua ba lớp vỏ trong của vỏ không gian vũ trụ, vỏ trứng vũ trụ. Điểm này cho thấy trống đã ‘vong bản” và rất muộn. Có thể đây là một thứ trống thương mại.

Trống có mặt trời 12 nọc tia sáng Cấn/Chấn có một khuôn mặt thường thấy trên trống sấm mưa, trống cóc/ếch nên cũng mang âm tính.

Lưu Ý

Xin nhắc lại, mặt trời 12 tia sáng là mặt trời thường thấy nhất trên trống đồng, nhất là các trống đồng cóc/ếch, sấm mưa rất muộn. Hơn 80% trống đồng có mặt trời 12 nọc tia sáng. 

-Cực âm

Khoảng không gian giữa tia sáng có hình thái hai giọt nước dương diễn tả nước thái âm ngành dương Chấn.

Nói tóm lại thượng thế ở đây là vũ trụ có mặt trời thái âm Chấn và không gian Chấn. Trống có một khuôn mặt Chấn mang tính chủ.

Các vành giới hạn

Vành giới hạn là những vành trống không rất lớn mang âm tính, ở đây mang tính thái âm.

c. Tầng dưới: vùng tứ hành.

Trước hết vành tứ hành này lại nằm bên trong bọc trứng vũ trụ. Theo qui ước chính thống chúng phải nằm ngoài.

Gồm có 3 vành:

.vành số 1 có hình thái trông giống như một người đứng giơ hai tay lên đầu.

Hình thái này gồm có hai yếu tố:

1.Thân người ngồi xoạc chân trên mặt đất hình chữ T ngược do ba nọc que I, I, I ghép lại. Ba nọc que là quẻ Càn, lửa vũ trụ.

2. Hai tay giơ lên đầu hình chữ U vuông góc giống một vật đựng là nòng O thái dương ứng với Chấn, nước vũ trụ.

Như thế hình thái này diễn tả lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương Càn với thái âm Chấn.

Đối chiếu với trống đồng âm dương Ngọc Lũ I thì chúng tương đương với vành hai hình sóng chữ S gẫy diễn tả sự lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương lửa vũ trụ Càn với thái âm nước vũ trụ Chấn.

Vành số 2 trong có các sọc nhỏ diễn tả gió động, gió dương thiếu âm Đoài vũ trụ.

Vành 3 gồm các chấm nọc cường điệu mang nghĩa lửa, dương. Ở đây mang nghĩa lửa đất dương tức bụi đất thiếu dương Li. Hai vành 2 và 3 diễn tả lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu âm với thiếu dương.

Như thế ba vành này diễn tả tứ tượng ở dạng vận hành tức tứ hành nhưng không còn theo qui ước chính thống.

.Trung Thế

-Vùng đất

.Đất dương

Gồm có bốn vành:

Vành 1 có cảnh các hình người chim-mặt trời thể điệu hóa tột độ không còn thấy hình người. Những cuộn sóng cho thấy đây là những người thuộc tộc nước Chấn mang tính chủ.

Kế tiếp, vành số 2 là vành giới hạn trống không rất lớn. Vành 3 là vành sấm gầm thể điệu hóa. Vành 4 là vành giới hạn trống không.

Bốn vành này cho biết vùng đất dương là của tộc người nước Chấn sấm mưa.

.Đất âm

Gồm có 3 vành.

Vành 1 là vành giới hạn trống không. Vành 2 là vành chấm nọc lửa, dương. Vành 3 hình sóng cuộn thể điệu hóa diễn tả nước động, nước dương, Chấn. Ba vành này diễn tả nước lửa âm, nước dương Chấn.

Các vành ở biên trống

Không có hình các tượng ếch mặc dù có sự hiện diện của vành sấm gầm, lôi văn.

Hai vành ở vùng đất âm ở đây có thêm một khuôn mặt nữa là vành ngoài biên trống. Điểm này có thể sái nguyên tắc chính thống nhưng nên nhớ đây là trống rất muộn đã mất gốc (tia sáng chọc thủng vỏ vũ trụ).

Hai vành biên trống cho thấy trống này thuộc ngành nọc nước thái dương Chấn.

Với vành sóng cuộn nằm ngoài cùng biên trống cho thấy trống có khuôn mặt nước dương Chấn mang tính chủ.

-Vùng nước

Tang trống không có hình thuyền nhưng có các vành hình uốn khúc vuông góc là hình sầm gầm thể điệu hóa và hình sóng cuộn thể điệu hóa. Những hình thái này cho biết vùng nước diễn tả tộc nước lửa thái dương, sấm mưa mặt trời Nước Chấn.

.Hạ Thế

Đế trống có trang trí nên không còn giữ đúng theo truyền thống. Theo truyền thống đế trống là hạ thế, cõi âm tăm tối không có trang trí. Ở đây có vành chữ V nối tiếp (VVVVV) tạo thành vành sóng thái dương ứng với nước dương Chấn thái dương.

.Trục Thế Giới

Trụ trống ở loại trống này không đáng kể.

Tóm tắt

.Hình dạng: trống nồi úp Nguyễn Xuân Quang IV hay Heger IV.

.Họ: họ mặt trời thái dương.

.Ngành: mặt trời âm thái dương êm dịu với khối lửa đĩa tròn âm và tia sáng nọc âm thái dương hình kim.

.Nhánh: mặt trời thế gian 12 nọc tia sáng Cấn/Chấn.

.Cành: thái âm nước.

Khuôn mặt Chấn mang tính chủ.

Đây là một trống hết sức muộn với những diễn tả không còn theo qui ước chính thống và những lỗi lầm chết người như tia sáng chọc thủ vỏ vũ trụ, vùng tứ hành để bên trong vỏ vũ trụ, hình thái lưỡng hợp thái dương thái âm có hình thái trông giống như một người đứng giơ hai tay lên đầu, vành giới hạn là vành trống không rất lớn, có trang trí ở chân trống…

Trống là trống biểu của đại tộc Nước dương, mặt trời Nước, Sấm mưa Chấn ăn khớp trăm phần trăm với nhóm trống Nguyễn Xuân Quang Loại IV (NXQ.IV), trống  Hình Nồi Úp, Trống Tượng Nước Dương, Trống Mặt Trời Nước, Trống Thái Âm, Trống Chấn (Heger IV). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống biểu của Lạc Việt Lạc Long Quân. Đây là lý do loại trống này thấy nhiều ở tộc Lạc Việt Tráng Zhuang ở Nam Trung Hoa.

Cần lưu tâm là trống không có hình các tượng ếch mặc dù có sự hiện diện của vành sấm gầm, lôi văn. Đây là một nét đặc biệt của nhóm trống trệt Nam Trung Hoa (xem dưới).

.Trống Nam Trung Hoa Có Quẻ Dịch.

Những trống muộn thường không còn giữ theo qui ước, đã mất gốc. Các biểu tượng trên những trống này mang mầu sắc và được diễn tả theo văn hóa bản địa ví dụ như trên một trống Nam Trung Hoa có quẻ Khảm. Có một chiếc trống Nam Trung Hoa đời Tống (AD 960-1279) có quẻ Khảm thay cho tượng cóc/ếch  ở Viện Bảo Tàng Sắc Tộc, Nam Ninh, Quảng Tây (hiện gặp trở ngại kỹ thuật tải ảnh  rất khó khăn lên blog , sẽ đăng ảnh khi sửa được).

Thay vào chỗ bốn tượng lưỡng cư là bốn quẻ Khảm viết theo Dịch Trung Hoa với hào dương được diễn tả là nọc que và hào âm là nọc que đứt đoạn.

Theo Trung Hoa Khảm thường hiểu là nước. Trống có quẻ Khảm nước là trống nước, trống mưa.

Một điểm cần nói tới là các trống sấm mưa Nam Trung Hoa thường ít có các tượng cóc/ếch hơn các vùng lân cận như trống Shan, Thái, Lào… (xem hình ở Bảo Tàng Viện Nam Ninh ở phần 1, cả dẫy trống trệt không có một trống nào có tượng ếch). Bởi vì trống  đã được làm vào thời con người đã có đầu óc ‘thực dụng’, trống thường được lật ngược lên để dùng làm vật đựng, làm nồi nấu thực phẩm tế lễ nên nếu làm tượng cóc/ếch khi lật ngược lên các tượng này sẽ bị gẫy để lại các lỗ hổng không còn dùng làm vật đựng hay nồi nấu được nữa.

Ở đây cũng cần nói thêm là quẻ Khảm viết theo Dịch Trung Hoa gồm các vạch liền và đứt đoạn hoàn toàn khác với Dịch Đông Sơn viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que. Đây cho thấy rõ ràng bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa.

Thứ hai cũng cho thấy trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn diễn tả Dịch, Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là một Dịch bằng đồng diễn tả bằng hình, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.

Ngoài ra các trống Nam Trung Hoa muộn sau này còn có nhiều trang trí khác nữa bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa ví dụ như đồng tiền kim loại, có 12 con giáp (trống Đời nhà Thanh,1644-1840, Museum collection 229), hình rồng Trung Hoa, vân vân…

Kết Luận

Trống trệt Nam Trung Hoa:

-Thuộc đại tộc trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn. Dĩ nhiên trống loại này cũng có ở những nơi khác nhưng ít hơn và có thể mang ý nghĩa biểu tượng khác như còn nghiêng nhiều về triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo hơn là ý nghĩa duy thực là trống mưa, trống sấm mưa, trống ếch.

-Thuộc loại Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV).

Xin nhắc lại tôi đặt tên loại trống theo hình dạng và con số loại trống theo ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo (Cơ Thể Học Trống Đồng). Ở đây trống Nam Trung Hoa có đa số là trống trệt, trống sấm mưa, tôi xếp vào loại Nguyễn Xuân Quang IV. Số 4 là số Cấn Non hôn phối với Chấn có một khuôn mặt là sấm, nước dương. Thần sấm Chấn có “nhà” ở đầu Non. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Thần sấm Lạc Long Quân có nhà (có một nghĩa là vợ) ở đầu Non Cấn Âu Cơ.

Ở vào thời muộn sau này, trống đồng nói chung  ở các vùng làm lúa nước thì các nhánh phụ của của đại tộc Đông Sơn trở thành trống ếch, trống cầu mưa. Trống trệt Nam Trung Hoa cũng vậy. Ta thấy rất nhiều trống trệt Nam Trung Hoa có mặt trời 12 nọc tia sáng mang âm tính và có  các hình thái sấm gầm, lôi văn, hình sóng nước…

Tuy nhiên trống vẫn có hình nồi úp loại IV Nguyễn Xuân Quang nên phải hiểu đây là trống mưa, trống sấm của các tộc, các chi thuộc đại tộc Nước Lửa Chấn vũ trụ của đại tộc Đông Sơn .

-Xin lưu ý các khuôn mặt tứ tượng nước, lửa, đất gió ở các trống Nam Trung Hoa là những khuôn mặt nhỏ của chi tộc nằm trong khuôn mặt lớn của tượng Nước, của đại tộc Nước Nam Trung Hoa.

-Chữ viết nòng nọc, trang trí các hình thái phần lớn đều mang âm tính ngành nòng, âm, Khôn.

-Trống thường là muộn. Diễn tả khác biệt với các trống chính thống của đại tộc Đông Sơn.

Như đã nói ở trên, thường chỉ còn mang ý nghĩa là trống mưa, trống cầu mùa. Triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo gần như phai mờ hết.

-Những nhóm trống theo hình dạng khác nhau này chỉ cho thấy rõ trống Đông Sơn của mỗi tộc, mỗi nền văn hóa có một hình dạng, một loại trống riêng biệt như tộc ở vùng đất cao Việt Nam có hình Nguyễn Xuân Quang V, Nam Dương có trống pejeng, moko có hình trụ thắt eo, Nam Trung Hoa có hình trống trệt và đồng bằng Bắc Việt Nam có trống hình cây nấm vũ trụ gọi là trống Đông Sơn.

-Bị ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa và trở thành các nhạc cụ bộ gõ hay trở thành một sản phẩm thương mại, không còn là trống thờ thiêng liêng nữa.

Trung Quốc đã chế tạo theo kiểu kỹ nghệ hàng loạt trống Nam Trung Hoa và ngay cả các loại khác của đại tộc Đông Sơn đem bán cho các quốc gia vốn thờ trống đồng như trường hợp trống Moko Alor chẳng hạn (xem Trống Đặc Thù Pejeng Nam Dương). Điều này cũng giải thích tại sao Trung Quốc tự mãn và khoe rằng mình có một lượng trống đồng nòng nọc, âm dương lớn nhất thế giới. Phần lớn trống Trung Quốc chỉ là những trống thương mại, rất muộn đôi khi mất hẳn gốc, trống rởm.

-Trống trệt Nam Trung Hoa thuộc loại trống hình nồi úp  Nguyễn Xuân Quang IV là trống biểu của Lạc Việt Tráng Zhuang thuộc ngành nọc âm thái dương Thần Nông thái dương ruột thịt với Lạc Việt Lạc Long Quân Việt Nam.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: