SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ANH NGỮ QUA CÁC CON SỐ.

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VỚI ẤN-ÂU

NGỮ NÓI CHUNG VÀ  VỚI ANH NGỮ NÓI

RIÊNG QUA CÁC TỪ CON SỐ.

 Nguyễn Xuân Quang

 Để xem hai ngôn ngữ có liên hệ với nhau hay không, các nhà ngôn ngữ học so sánh dạng ngữ (morphology) nghĩa ngữ (semantics) và ngữ pháp (grammar) của hai ngôn ngữ đó và xem chúng có giống nhau hay không?

Riêng về mặt so sánh các từ ngữ, chúng ta không thể so sánh hết tất cả hàng vạn, hàng trăm ngàn từ của hai ngôn ngữ. Nhà ngữ học Hòa Lan Holger Pederson là người đầu tiên đã nhận thức rằng cần phải giới hạn sự khảo sát sự liên hệ này vào một số lượng những gốc/thể chữ căn bản ổn định hay quân bình bền (stable) nào đó. Những nhóm này không bao giờ hoặc ít khi trở thành đối tượng của vay mượn từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác: ‘Chúng ta phải tự mình giới hạn vào những duyệt xét hữu lý về các đại danh từ và các thể phủ định (negational forms) bao gồm cả một phần các số đếm (numerals) mà chúng ta có thể theo dõi các dấu vết qua các tộc ngôn ngữ’ (1).

Trong nhóm các từ căn bản ổn định này có những từ về các phần thân thể con người (xem bài viết này), các nhân xưng đại danh từ (personal pronouns), những từ phủ định, những từ chỉ con số…

Bài viết này giới hạn vào sự so sánh các số đếm giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ.

Trước hết xin nói qua về nguồn gốc các số đếm.

Con người thái cổ thoạt đầu chỉ biết đếm từ một tới hai. Hệ thống đếm sơ khai là cách đếm nhị phân. Ví dụ trong một số ngôn ngữ trải dài từ Borneo, Tân Guinea cho tới Úc và Tasmania và nhiều miền ở Nam Mỹ châu gồm cả phần đất Bolivia và Argentina, những số đếm căn bản, trước khi tiếp xúc với thế giời bên ngoài chỉ có một và hai. Ngôn ngữ Noub của Papua có cách đếm gồm ‘1’, một; ‘2’, hai, là một-và-một; ‘3’ là một-và -hai;‘4’ là hai-và-hai. Việt Nam cũng còn thấy dấu vết cách đếm này như đôi bẩy là ‘14’, đôi tám là ‘16’, đôi mươi là ‘20’…

Hệ thống đếm phổ thông sau này là hệ thống đếm thập phân dùng cả mười ngón tay. Các hệ thống máy tính trước đây đều dùng hệ thống thập phân. Nhưng con người gần đây lại trở về cách đếm nguyên sơ, thái cổ nhất nghĩa là dùng hệ thống nhị phân. Đây là kỷ nguyên máy điện não computers.

Thuở ban sơ con người đếm bằng ngón tay, bàn tay, nón chân, tay, vai, thân mình và cả các phần khác của thân thể. Chẳng hạn trong nhiều ngôn ngữ từ chỉ con số 5 giống hệt hay tương đương với từ ‘bàn tay’, 10 là ‘hai bànt ay’, 20 là tất cà ‘tay và chân’ hay ‘cả người’. Ví dụ như  thổ dân Tlingit, Alaska: kéejin: 5 (ke- là trên, jin là tay); jinkaat: 10 (jin, tay, kat: qua tất cả, hết cả); nguời Maya Trung Mỹ châu winik, 20 = (toàn cả) người, Sumer ngữ i là 5 = bàn tay…

Có nhiều cách đếm: có thể dùng một bàn tay, hai bàn tay, có thể dùng ngón trỏ là ‘5’, ngón cái là ‘6’, cổ tay là ‘7’, cánh tay ngoài là ‘8’, khuỷu tay là ‘9’, cánh tay trên là ‘10’, vai là ‘11’…

Ngón tay được dùng nhiều nhất, dấu tích còn để lại là từ digit trong Anh ngữ có gốc Latin digitus, ngón tay mà cũng có nghĩa là con số, ví dụ như lương của hắn thuộc nhóm 5 digits tức 5 con số tức lương hàng chục ngàn; máy đo máu ‘digital’ là máy dùng kỹ thuật ‘số’. Từ ‘chỉ’ của Việt ngữ có nghĩa là một, một mình như ‘chỉ có tôi’, ‘chỉ có nó’ cùng nghĩa với Hán Việt chỉ có nghĩa là ngón tay, như nhất dương chỉ. Tổ tiên ta thoạt khởi đầu dùng ngón tay chỉ vào người và nói ‘chỉ’ tôi thôi. Nhiều khi dùng cả thân mình (body) làm con số đếm. Từ mình trong Việt ngữ có nghĩa là một như mình tôi, mình nó tức một tôi, một nó. Đại Hàn ngữ ‘mon’ là thân mình liên hệ với Việt ngữ mọn, mỏn, mỏm, mỗi, một, mống, mình…

Bây giờ ta so sánh các con số Việt ngữ với Ấn Âu ngữ. Để so sánh hai ngôn ngữ qua các con số, các nhà ngôn ngữ học thường chỉ chọn có một con số 2 nghĩa là số 2 được coi là số cân bằng, ổn định nhất. Tại sao? Nhìn chung thì có nhiều chứng cớ hỗ trợ cho thấy sự hiện hữu của cách đếm 1-2 đã có trước khi phát kiến ra cách đếm bằng ngón tay (Swadesh tr.192) (2). Có lẽ đây là lý do con số 2 được coi là con số ổn định nhất.

Ở đây ngoài số 2 này ra, tôi xin so sánh hết cả 10 con số để cho thấy thêm là có sự liên hệ mật thiết giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ mặc dù có vài số không ruột thịt lắm về âm ngữ, dạng ngữ nhưng về nghĩa ngữ rất giống nhau.

1.   MỘT

Việt ngữ mỗi, một, mốt (hăm mốt), mọn, mỏn, mụn (có một mụn con), mình, ên, ơn, chắc, chiếc… chỉ số 1, ít (một hàm nghĩa ít: từ đôi một ít, có một ít), so (thứ nhất, đầu tiên như con so), son (là một mình, còn son có một nghĩa là còn một mình)…

-Một, mọn, mỏn, mụn, mình liên hệ với gốc Ấn Âu ngữ  mono-.

Từ mọn, mỏn, mụn với nghĩa là nhỏ (nhỏ mọn, hèn mọn, nhỏ nhặt) liên hệ với Anh ngữ mean, nhỏ mọn. mean = mọn.

-.Ạc, ạch, áy là một mình, (từ cổ) (Hỳnh Tịnh Paulus Của).

Ruột thịt với Anh ngữ ace là số một, tên lá bài số một (con ách, con ết, con xì) hay mặt số một của con lúc lắc. Trong thể thao ace là đánh một lần thắng ngay như trong tenis cú giao banh “ết” địch thủ bó tay không làm gì được, trong golf  cú quất banh một lần vào lỗ ngay.

Ạc, ạch, áy, ace ruột thịt với Phạn ngữ eka, một. Phạn ngữ eka, đẻ ra  ek = éc = ace, ạc, ạch, áy.

-Ên, ơn

Ên, ơn là một mình, là một  ví dụ như mình ên, mìmh ơn, thấy rõ qua bài đồng dao:

Úp chén úp dĩa,

 Đĩa ngu đĩa ngốc,

 Con cóc cụt đuôi,

  Ở bờ ở bụi,

   Ai nuôi mày lớn?

    Dạ thưa cùng thầy,

    Con lớn mình ên…

Ên, ơn liên hệ với Đan Mạch ngữ en, Thụy Điển ngữ en, Hòa Lan ngữ e:n, Đức ngử ein, Hy Lạp ngữ enas, Anh ngữ a, an, one, Pháp ngữ un, Tây Ban Nha ngữ un, uno, Wel. un, Phạn ngữ eka… có nghĩa là một.

Ơn theo duy dương có nghĩa là mặt trời. Tạ ơn là tạ trời, thần mặt trời. Ai Cập cổ có thành phố On là thành phố mặt trời (Heliopolis). Trời là số 1. Solo, solamente (Tây Ban Nha ngữ), một mình ruột thịt với sol, soleil (Pháp ngữ). . ., mặt trời , với Việt ngữ son (xem dưới). Mặt trời là dương là đực là nọc biểu tượng bằng chữ nọc (I) tức số 1.

Rõ như dưới ánh mặt trời, theo duy dương Ơn là một, là mặt trời có một nghĩa là một liên hệ với Anh ngữ one, một.

-Ế

Việt ngữ ế có một nghĩa là một mình ví dụ như ế vợ, ế chồng là ở một mình; ế khách, ế hàng là ngồi bán một mình không có khách. Ế liên hệ với Anh ngữ a (một) như a man, với Phạn ngữ eka, một, eka có e- = ế.

-Éc

Phương ngữ Huế éc là một, một mình như bừa éc là bừa với một con thú (trâu hoặc bò).. Éc ruột thịt với Phạn ngữ eka là một, Phạn ngữ eka  đẻ ra  ek = éc = ace liên hệ với Anh ngữ  ace, con xì (như đã nói ở trên).

-Chiếc, chắc

Việt ngữ chiếc, chắc có một nghĩa là một như chiếc bóng (một bóng); qua từ đôi một chắc , ta có có một = chắc. Chắc, chiếc liên hệ với Pháp ngữ chaque, mỗi một, chacun, mỗi người.

-So

So là đầu, đầu tiên, thứ nhất như con so là con đầu lòng, con thứ nhất, số 1. So gần cận với gốc sol, solo, seul, solamente (một mình), với Latin see, oneself (tự mình), Gothic si-k, oneself.

-Son

Có một nghĩa là một, một mình, độc thân, ‘ở một mềnh’ (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La).

 Ra dường thiếp hãy còn son,

Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.

(ca dao).

 Có một nghĩa là ra đường thiếp còn ‘ở một mềnh’, độc thân. Với nghĩa này, son liên hệ với sol, solo, seul, solamente…

Son còn có nghĩa là đỏ như gót son. Đỏ là tỏ, là mặt trời. Mặt trời như đã nói ở trên có một nghĩa là một.

Ta thấy rất rõ son là một, một mình và cũng có nghĩa là mặt trời có một nghĩa là một, giống hệt như sol, solo, seul, solamente ruột thịt với sol, soleil (mặt trời).

-Cả

Có một nghĩa là một, số một, đứng đầu như vợ cả, anh cả, chị cả…

Cả ruột thịt với Phạn ngữ eka. Ta có -ka = cả.

-Cái

Cái biến âm với cả. Có những nghĩa là một, số một, đứng đầu cùng với cả như thợ cả = thợ cái, ngón cái = ngón cả

Cái ruột thịt với Đức ngữ  kaiser, vua. Vua có một nghĩa là người đứng đầu, là số 1 liên hệ với mặt trời  (có một nghĩa là số 1 như đã nói ở trên) và vua là thiên tử, con mặt trời.

2.   ĐÔI

Như đã nói ở trên số 2 này là từ được coi là từ căn bản ổn định nhất để so sánh sự liên hệ giữa hai ngôn ngữ.

Việt ngữ có từ 1 + 1 là hai, đôi, cặp, kép, vài…

-Đôi và các từ liên hệ: đối, đổi, đua, đũa, dữa…

.Đôi

Từ đôi là từ cổ Việt tương ứng với Anh ngữ two. Theo t=d và w=u u (u dài), two = duo. Việt ngữ đôi liên hệ với two, Hy Lạp ngữ dùo, Latin duo, Phạn ngữ dva.

Đôi liên hệ với Anh ngữ double, Pháp ngữ deux, Tây Ban Nha ngữ dos, Nga ngữ dba (=dva)… gốc tái tạo proto-Indo-European *dw.

.Đối

Do đôi mà ra. Đối là hai vật để nhìn nhau.

.Đổi

Hoán trao hai vật, giữa hai người.

.Đũa

Là một đôi que dùng ăn cơm, liên hệ với với duo, Phạn ngữ dva.

.Dữa, giữa.

Có cùng gốc với đũa, đôi. Dữa ruột thịt với Phạn ngữ dva, đôi.

Dữa là nằm trong khoảng hai bên, hai phía. Anh ngữ between có cùng nghĩa. Ta có thể tách ra là be-tween, là be- two- in, nằm giữa hai. Một thời ‘be’ được coi như là một phụ từ cổ (old article) như thấy trong believe, begin, berate… between gần cận với Đức ngữ zwischen.

Hiện nay chúng ta dùng từ giữa thay vì dữa. Người Bắc vẫn còn dùng dữa ở một vài nơi. Nhiều người ‘có nhiều chữ nghĩa’ cho là họ viết sai. Như đã thấy dữa là cổ ngữ của giữa. Dữa mới chính thống hơn, biến âm mẹ con với Phạn ngữ dva. Đây là một ví dụ như cho thấy d, gi, ch, tr, s, x… chỉ là một thứ qui ước ngữ pháp dùng tùy theo mỗi thời đại… Dùng d chưa hẳn là sai và dùng gi chỉ là đúng theo qui ước hiện nay.

.Trưa

Trưa có gốc dữa, giữa. Người Huế nói ‘trựa cơi’ là ‘giữa sân’. Theo qui luật tr = d = gi như trăng = dăng = giăng, ta có trưa = dữa = giữa. Trưa là giữa ngày.

.Nửa

Chỉ phần chia hai tại chính giữa, một phần của chia đôi bằng nhau, chỉ phần từ đầu tới giữa một vật gì. Theo d = n như dòm = nom, ta có dữa = nửa. Anh ngữ noon, trưa biến âm mẹ con với nửa. Noon = nửa (ngày) = trưa.

.Rưỡi, rưởi

Cũng có nghĩa là nửa đơn vị như một rưỡi, trăm rưởi. theo d = r như dao = rào (một loại dao), ta có dữa = rưỡi, rưởi.

Tóm lại Việt ngữ đôi và các từ liên hệ đối, đổi đũa, dữa… liên hệ với với Ấn Âu ngữ: Hy Lạp ngữ duò, Latin duo, Phạn ngữ dva… với Anh ngữ hiện kim two, double, Pháp ngữ deux, Tây Ban Nha ngữ dos, gốc tái tạo proto-Indo-European * dw.

Ngoài ra liên hệ với tiếng Nga dba.

.Tụi

Người Huế nói đôi là tụi như trong bài tứ sắc, một đôi là một tụi. Tụi biến âm mẹ con với two.

.Tá

Một tá là 12. Tá liên hệ với two, twelve cũng giống như dozen liên hệ với duo, double, two, twelve, với Việt ngữ tụi, đôi, tá.

.Cặp, kép

Việt ngữ cặp, kép biến âm mẹ con với Anh ngữ couple (cặp). chuyển hóa của cặp là chạp. Tháng chạp là tháng 12 âm lịch. người Việt gọi tháng 11 là tháng một, tháng 12 là tháng chạp và tháng một âm lịch là tháng giêng:

 Tháng giêng ăn Tết ở nhà

…….

Tháng một, tháng chạp nên công hoàn toàn.

 Với h câm, chạp = cặp. Tháng chạp là tháng cặp. Rõ như ban ngày tháng mười một âm lịch là tháng một và tháng chạp là tháng cặp, tháng 2. Chạp ruột thịt với cặp và 12 (12 ruột thịt với 2) như tá ruột thịt với two, twelve, dozen với duo, deux, dos…

. Vài, Hai.

Vài có một nghĩa là hai như vài ba có một nghĩa là hai ba.

Theo v=b như víu = bíu, vài = hai, liên hệ với  gốc bi- (hai như bimensual, hai tháng), bis (lần thứ hai) với Gothic bai, Phạn ngữ u-bhaa, Anh ngữ both, Nga ngữ o-ba có nghĩa là cả hai.  Theo v=b=p, vài = Pháp ngữ pair, cặp.

 3. BA

Việt ngữ ba là hai cộng một, Mường ngữ là pa.

Theo theo duy dương là ngón ba, ngón bố (cha) có một nghĩa là lớn, to như to tổ bố. Theo duy âm là ngón bà có một nghĩa là to, lớn như ếch bà, trầu bà. Ba là lớn, to vào bậc nhất. Số 3 đếm theo bàn tay là ngón thứ ba của bàn tay theo cả hai chiều (theo duy dương tức theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời tức đếm từ ngón cái và theo duy âm  cùng chiều với kim đồng tồ tức đếm từ ngón út). Ngón thứ ba là ngón dài nhất, cao nhất. Quan niệm nầy giống trong Ấn Âu ngữ. Theo Swadesh “the name ‘three’ might be ‘tall’, ‘thick’, ‘big’ or a related notion” (tên ‘three’ có thể là ‘cao’, ‘dầy’, ‘lớn’ hoặc với ý niệm liên hệ tới đó).

Anh ngữ three, Ý ngữ  tre, Tây Ban Nha ngữ  tres, Pháp ngữ  trois, Phạn Ngữ tri,  gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *tri là ba, tam. Ta có có ti-, te-, to liên hệ với Việt ngữ to, Anh ngữ tall, cao.

Tóm lại ba, tam và các từ Ấn Âu ngữ chỉ số 3 giống nhau về nghĩa ngữ. Riêng Hán Việt tam có biến âm với ‘tall’ của các từ Ấn Âu ngữ chỉ số 3.

4. BỐN

Mường ngữ pươn là bốn.

Theo b= v, ta có bốn = vốn = vắn = vuông. Ta có từ đôi vuông vắn tức vuông = vắn. Hình vuông là hình có bốn góc vuông, bốn cạnh bằng nhau là bốn nọc que. Hình vuông do bốn nọc que (số 1) ghép lại.

Trong một vài hệ thống đếm cổ số 4 gồm có 4 hình nọc que như trên giáp cốt văn có số 4 được diễn tả bằng 4 nét vạch nằm ngang chồng lên nhau. Và chữ sì, xi (tứ) của Hán ngữ hiện kim, bốn nọc que xếp lại thành hình vuông.

Vuông có nghĩa là bốn thấy rõ qua câu ca dao:

 Ba vuông sánh với bẩy tròn,

Đời cha vinh hiển, đời con sang giầu.

 Đây là câu ca dao có các con số diễn tả theo ý nghĩa của Dịch. Ba vuông là 3, 4 và bẩy tròn là 7, 0 (zero có hình nòng tròn). Ta có 3 + 4 = 7 + 0. Số 3 là Đoài IIO vũ trụ khí gió hiểu theo duy tục là trời dương (số lẻ là số dương) ứng với thiếu âm (IO) của phía dương (I) và 4 là số Cấn OOI (núi âm tức non, số 4 là số chẵn số âm) ứng với thiếu dương (OI) của phía âm (O). Ba vuông là Trời dương Đất âm ở cõi tiểu vũ trụ giao phối 3 + 4  sánh bằng với 7 là Số Càn  III lửa vũ trụ thái dương (II) phía dương (I) và số tròn 0 là số Khôn OOO nước vũ trụ  thái âm(OO) phía âm (O) ở cõi đại vũ trụ  7 + 0.  Một khi có được tiểu vũ trụ và đại vũ trụ tương hòa với nhau  tức 3 + 4 = 7 + 0 thì ‘Đời cha vinh hiển, đời con sang giầu’ (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

Vuông ruột thịt với Mường ngữ pươn.

Theo b = v = p = f, bốn = vuông = pươn = Anh ngữ four.

Ta cũng thấy Mường ngữ pươn biến âm với Hán Việt phương hoặc theo v=ph (vành ra = phành ra), vuông = Hán Việt phương (phương cũng liên hệ với hình vuông như hình lập phương).

Ta thấy rõ bốn = vuông = phương liên hệ với Anh ngữ four, bốn (f=ph như café = cà phê).

.Tư, tứ

Tư là 4 ruột thịt với Hán Việt tứ. Tư, tứ ruột thịt với Anh ngữ two (hai), gốc tetra- (bốn).

Tại sao vậy?

Đây là hai hệ thống đếm số của người xưa dựa theo ngón tay của bàn tay theo hai chiều khác nhau. Ở nhiều vùng có thói quen bắt đầu đếm từ ngón út và ở vùng khác bắt đầu từ ngón cái. Như đã nói ở trên, nếu đếm theo duy âm tức theo chiều từ phải qua trái, theo chiều kim đồng hồ, tức khởi đầu tứ ngón út thì ngón đeo nhẫn là số 2. Nếu đếm theo duy dương tức theo chiều từ trái qua phải, theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời, tức khởi đầu từ ngón cái thì ngón tay đeo nhẫn là số 4.  Như thế ngón trỏ là ngón thứ nhì hay số hai trong một hệ thống đếm và cũng là thứ tư hay số bốn trong hệ thống kia, Vì vậy “hai” trong Uralic ngữ và “bốn” trong Ấn-Âu ngữ cả hai đều được gọi là “ngón chỉ” hay “ngón trỏ” (Such a relationship can be explained in terms of finger counting because in some regions the custom is to begin with the little finger and in others with the thumb. The index finger would thus be the second finger or “two’ in one system and the fourth or “four’ in other… Hence “two” in Uralic and “four”in IE would both appear to be called ‘pointer’ or ‘index finger’) (P. Swadesh, 185-186).

Ta cũng thấy Latin quatuor, Pháp ngữ quatre, Tây Ban Nha ngữ cuatro… gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *kwet có nghĩa là bốn lại biến âm với Maya ‘keet’ và Vogul ‘kit’  có nghĩa là hai ở cùng một ngón tay nhưng theo hai chiều đếm khác nhau.

Đây chính là cách đếm theo hai chiều âm dương của Dịch. Ngành âm nòng đếm theo chiều âm và ngành dương nọc đếm theo chiều dương. Trung Hoa ngón đeo nhẫn là tứ đếm theo chiều dương, Anh ngữ two đếm theo chiều âm.

Đây là một chứng tích cho thấy ngôn ngữ và cách đếm liên hệ với Dịch lý (Tiếng Việt Huyền Diệu).

5. NĂM

Năm là bốn cộng một hay hai cộng ba.

Ta có nhiều biến âm của năm như lăm (mười lăm), dăm (dăm ba), nhăm (hai mươi nhăm), rằm (ngày thứ 15 âm lịch).

Trong nhiều ngôn ngữ năm liên hệ với bàn tay, năm ngón.

Năm diễn tả như thế nào trong cách đếm bằng bàn tay?

Xin thưa năm là nắm (tay).  Cả bàn tay 5 ngón nắm lại. Nắm tay là số 5, khi buôn bán đưa nắm tay ra là số 5. Mường ngữ kam là năm. Kam ruột thịt với cầm tức nắm. Qua từ đôi cầm nắm ta có cầm = nắm. Mường ngữ kam là năm ruột thịt với cầm liên hệ với Pháp ngữ cinq, Tây Ban Nha ngữ cinco, quinque, năm.

Phạn Ngữ pancha, năm đẻ ra gốc penta- như Pentagone, Lầu Năm Góc, Ngũ Giác Đài, Hy Lạp pente… Người Hawaii có thứ nước uống punch có gốc từ pancha, pha bằng năm thứ nước trái cây (xem chữ punch). Anh ngữ punch cũng có nghĩa là đấm, cú  nắm đấm. Gốc penta-, ruột thịt với Anh ngữ punch, Pháp ngữ poignet (cú đấm), Việt ngữ bịch (thụi). Theo đ = n (đầy = nầy), Việt ngữ đấm = nắm (nắm tay lại mà đánh).

Ta cũng thấy rất rõ Anh ngữ five biến âm với fist, nắm tay.

fiv(e)- = bíu = víu (f=b=v) có nghĩa là nắm lấy.

Đại Hàn ngữ tat- hay tasòt là năm. Ngôn ngữ Đại Hàn được cho là thuộc tộc Altai ngữ. Động từ tat– là đóng lại (to close), áp dụng cho bàn tay thì chỉ 5 ngón tay đóng lại tức nắm lại. Tat- liên hệ với tóm, túm lại

Nhiều nhà ngữ học tin rằng five ruột thịt với finger. Cho rằng five phát gốc từ Gothic fingrs, Anglosaxon fingers. Có thể đây là cách đếm xòe bàn tay 5 ngón ra. Nếu hiểu theo cách này thì phải hiểu là tất cả năm ngón của bàn tay.

Tóm lại năm ruột thịt với nắm, five với fist, gốc Ấn-Âu ngữ  *penkwe hay peenkwe liên hệ với punch, nắm đấm. Anh ngữ five biến âm với bíu, víu có một nghĩa là nắm, cầm. Mường ngữ kam ruột thịt với cầm, liên hệ với Pháp ngữ cinq, Tây Ban Nha ngữ cinco, quinque, năm.

6. SÁU

Theo một cách đếm sáu là 5 (5 ngón bàn tay trước) cộng 1 ngón bàn tay sau.

Anh, Pháp ngữ ngữ six, Đức ngữ sechs, Tây Ban Nha, Bồ ngữ seis, Ý ngữ sei, Phạn ngữ shash, sitta, gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *seks là sáu. Theo s = h như sói = hói ta có seks = gốc Hy Lạp ngữ hexa-, sáu.

Swadesh ghi nhận rằng “there are also expressions for the numbers from six to nine which are clearly based on finger counting, since they say for “six” something like “one on the left hand”, for “nine” perhaps ‘one short of two hands’ (p.184). “The word for “six” in IE reconstructs to *seks which is a simplification of second (swadesh, p.185). *Seks means “one on the second hand” (có những bầy tỏ về các con số từ sáu tới chín dựa rõ ràng trên cách đếm ngón tay, bởi vì họ nói “six” giống như là “một ở bàn tay trái” và “nine” có lẽ “một ít đi của hai bàn tay”. Từ “six” trong gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *seks chỉ đơn giản là “thứ nhì”; *seks có nghĩa là “một ở bàn tay thứ nhì”).

Điều này thấy rõ Việt ngữ sáu ruột thịt với sau. Sáu là (cộng thêm một ngón của bàn tay) sau.

Sáu biến âm với sau. Sáu là ngón thứ nhất của bàn tay SAU cộng với năm ngón của bàn tay trước: sáu = second, sau, thứ nhì.  Second có sec- = six = sáu.

Tóm tắt ta thấy sáu = sau.

Ở chỗ khác Swadesh nhấn mạnh rằng  ‘“six” is also related to “one”: if we bear in mind that the numeral “six” is often expressed as “one added to five”, “one on the second hand” or still other terms of expression involving ‘one’‘ (p.190) (sáu liên hệ với một, nếu ta ghi nhớ trong đầu là số sáu thường được diễn tả như “một cộng năm”, “một ở bàn tay thứ nhì” hay còn những  từ khác biểu thị liên hệ tới một).

Trong trường hợp nầy, theo s=ch, ta có six, Phạn ngữ shash = chiếc = chắc (một) và = Pháp ngữ chaque, chacun (mỗi, một, mỗi người) (đã nói ở trên). Ta cũng thấy *seks = chắc.

Với cả hai nghĩa sau và chắc (1) ta nhấy rõ Việt ngữ sáu biến âm mẹ con với Phạn ngữ shash (sáu).

Tóm lại SÁU ruột thịt với sau, với six, Phạn ngữ shash, sitta, IE *seks có một nghĩa là cộng (một) Chắc của bàn tay SAU.

 7. BẨY

Bẩy Mường ngữ là pai.

Bẩy là năm cộng hai. Ta cũng thấy bẩy là ngón thứ hai của bàn tay thứ nhì. Bẩy có nghĩa là hai.

Trong Việt ngữ có từ vài có nghĩa là hai như một vài như vài ba là hai ba, theo b=v, bẩy = vài, rõ hơn Mường ngữ pai = vài. Theo  ấy = í, ta có bẩy = gốc bi-, bis, hai, lần thứ hai. Do đó bẩy = bi-, bis.

Ta cũng thấy Việt ngữ vài = Mường ngữ pai = Anh ngữ pair (đôi, cặp, hai). Tương tự Anh ngữ seven liên hệ với several (vài ba).

Bẩy Anh ngữ là seven, Pháp ngữ sept, Đức ngữ sieben,  Tây Ban Nha ngữ siete, Ý ngữ sette, Bồ ngữ sete, Phạn ngữ sapta, gốc tái tạo Tiền cổ Ấn Âu ngữ seb[h]-t[h]m (h nhỏ viết cao), gốc Tiền cổ Ngôn Ngữ của Chúng Ta (Proto-Nostratic) *sab-/*səb-/.

Theo s= c (như sắt = cắt), ta thấy rõ Pháp ngữ sept = kép, Phạn ngữ sapta = cặp và gốc tái tạo Proto-Nostratic *sab- = cặp và s= c= k, *səb- = kép.

Theo h=s, gốc Hy Lạp ngữ hepta = Phạn ngữ sapta. Ta có hep- = hai. Theo h = c = k, ta có hep- = kép. Ở đây ta cũng thấy Việt ngữ  hai = Việt ngữ cái.  Cái có một nghĩa là một, đứng đầu, cả như thợ cái = thợ cả. Điều này giải thích tại sao Trung Nam gọi con cả là anh hai, chị hai. Gọi anh hai, chị hai có cùng nghĩa với anh cả, chị cả nhưng theo người Chàm.

Tóm lại bẩy, pai ruột thịt với bis, bi-, both, vài, hai, pair; seven, sept, sapta, hepta… = kép, cặp. Bẩy là năm cộng hai hay bẩy là ngón thứ hai của bàn tay thứ nhì. Bẩy có nghĩa là hai.

Ở đây ta thấy có thể dùng Việt ngữ truy tìm nguyên ngữ của Ấn Âu ngữ, Nostratic ngữ.

8. TÁM

Tám, Hán Việt bát.

Tám là ba cộng 5 hay là ngón thứ ba của bàn tay thứ nhì. Ta thấy rõ mồn một tám ruột thịt với tam (Hán Việt) và bát (Hán Việt) có ba- chính là Việt ngữ ba. Tám và bát đều có ba.

Như đã nói ở số 3, ba liên hệ với bự, bố (to, to tổ bố). Tám có ta- liên hệ với ta là tài, đại (to), vi dụ ta tung là đại đồng và với “tall” cao.

Ngón thứ ba là ngón to, cao (xem three). Tám là ngón to cao của bàn tay thứ hai. Ta có thể dùng Việt ngữ giải thích Anh ngữ eight. Eight là do height, cao với h câm, height = eight. Tám và eight là ngón cao của bàn tay thứ hai (cộng với năm ngón của bàn tay thứ nhất). Ta cũng thấy Pháp ngữ huit (tám) liên hệ với haut (cao), Anh ngữ height; Tây Ban Nha ngữ ocho, Ý ngữ otto, Bồ ngữ oito, gốc octo-, tám liên hệ với Việt ngữ ót, hàm nghĩa là cao. Với h câm, tót, tột (cao nhất, = top) tót = ót. Tám liên hệ với Arab ngữ tamaniyah (tám). Điểm này cho thấy Việt ngữ tam có thể không hẳn hoàn toàn do gốc Hán Việt tam mà ra.

Tóm lại tám liên hệ với ta, tai, đại, to, Anh ngữ tall, Việt ngữ tam, Arab ngữ tamaniyah là ba. Eight là height với h câm. Tám là ba cộng 5 hay là ngón thứ ba cao to của bàn tay thứ nhì.

9. CHÍN    

Chín, Hán Việt cửu.

Chín là mười bỏ một. Ngày xưa đếm bằng cách hai bàn tay xòe ra mười ngón, quặp lại một ngón thành chín. Theo swadesh, “nine perhaps one short of two hands” (chín có lẽ bớt một của hai bàn tay) (tr.184). Ainu ngữ shinepesan, nine. Batchelor giải thích shinepesan như sau: shine, one (thing), pe-, come down và san (from ten): one thing comes down from ten (một hạ xuống từ mười), mười bỏ đi một (3). Việt ngữ chín có chi-một như con bài tổ tôm chi chi là con bài một, Nhật ngữ ichi, một. Việt ngữ chỉ có nghĩa là một như chỉ mình tôi thôi = một mình tôi thôi. Chỉ tương đương với only liên hệ với one, một. Hán Việt chỉngón tay, chín là mười bỏ đi một ngón tay. Chín là mười ngón bỏ chi, chỉ, bỏ đi một.

Việt ngữ chín còn có một nghĩa là là không còn xanh (ripen), nấu chín (cooked). Chín (cooked) là do nấu bằng lửa, còn chín (ripen) của hoa quả là do lửa trời, do nắng.

Chín tột độ (chín rữa) hàm nghĩa chết.

Nhưng theo ch=s (chữa = sửa), chín cũng biến âm với sinh (đẻ, sống, mới khai sinh, non, trẻ). Số chín là số tận cùng trong hàng số đơn từ 0 đến 9. Chín lại trở lại số khởi đầu là số 0 vì thế chín là chết là hết (chín rữa, chín luỗng) mà cũng có nghĩa là sinh, khởi đầu, là mới, mới nhất (latest), là non, trẻ. Vì vậy các từ mới, non trẻ, cuối cùng (latest)  trong Ấn Âu ngữ liên hệ với với nine, ví dụ Pháp ngữ neuf có nghĩa là chín và cũng có nghĩa là mới, Tây Ban Nha ngữ nueve là chín và nuevo, mới. Latin novissimus là last (cuối cùng) ruột thịt với novus là new, mới và có nghĩa ngang là newest, latest, mới nhất. Ở đây ta thất rõ latest là trễ, muộn nhất (cuối cùng) và cũng có nghĩa là mới nhất. Chín có nghĩa là cuối cùng, chết và cũng có nghĩa là mới sinh.  Từ Anh ngữ nine liên hệ với Việt ngữ nấu, nung, nướng, ninh (chín) và nona (có nghĩa chín) liên hệ với Việt ngữ non.

Theo duy âm chín trở về số 0, mang nghĩa không gian sinh tạo và hủy diệt dòng âm. Theo duy dương chín trở về số 1 mang nghĩa mặt trời sinh tạo và hủy diệt dòng dương.

Tóm lại chín là mười bỏ một (chi, chi chi, chỉ một mình), bỏ một chỉ (ngón). Chín có nghĩa là già, chết (chín mùi) và chín cũng là sinh, đẻ, mới, non. Những từ trong Ấn Âu ngữ có những nghĩa  mới, non sau này.

Ở đây một lần nữa ta thấy rõ Việt ngữ có thể dùng để truy tầm, xác thực ý nghĩa của Ấn Âu ngữ.

 10. MƯỜI

Ta có các từ mười, mươi (hai mươi), chục, thập.

Mười là “hai năm rõ mười” tức cả hai bàn tay cộng lại mười ngón tay. Về nghĩa, theo hệ thống nhị phân thì hai năm là hai bàn tay, hai nắm (năm) tay chụm lại, cộng lại.

Theo hệ này ta có Việt ngữ chục liên hệ với chụm, cụm (h câm) có nghĩa là hai bàn tay chụm, cụm lại có 10 ngón tay.

Trong khi theo nghĩa ngữ thì từ mười biến âm với mở. Cách này cùng với cách đếm số năm là nắm (bàn tay lại thành nắm tay như đã nói ở trên). Từ mười là mở (có thể mở một nắm tay ra hay cả hai bàn tay mở ra, xòe ra mười ngón). Ta có thể kiểm chứng với Đại Hàn ngữ yòl (mười) ruột thịt với động từ yòl- (mở) và với Ainu ngữ wan là mười. Theo w = v = m ta có wan = van = man. Ta cũng thấy wan = màn = Việt ngữ vạn (mười ngàn). Trong mạt chược, con bài vạn còn gọi là con màn. Vạn, màn là mười ngàn có gốc mười wan.

Ta thấy rõ qua từ đôi mở man, mở mang, ta có  man = mở. Thật vậy wan, man ruột thịt với Ainu ngữ maka, mở.

Như thế ta có wan (mười) = vạn (mười ngàn) = màn = maka (mở) = mở.

Cách đếm năm/mười tức nắm/mở rất nhanh và tiện lợi. Bàn tay còn lại có thể cho biết bao nhiêu lần nắm bao nhiêu lần mở tức nhân lên.

Ta có Anh ngữ ten, Anglosaxon tên là 10. Từ tên biến âm mẹ con với tênh, hàm nghĩa mở ra như ngồi tênh hênh, tênh hếch. Từ đôi tênh = hênh. Từ đôi hớ hênh có hênh = hớ = hở: Nếu hớ hênh ra lắm kẻ dòm. Từ buồn tênh là buồn mở ra mênh mông, trống vắng. Vậy ten = tênh = hênh = hở.

Từ tên ruột thịt với gốc chữ deca- có nghĩa là mười như có các  từ Latin decem, Hy Lạp deka, gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *dekmtóm. Morris Swadesh tin rằng tiếp vĩ ngữ  -kmtóm là do gốc *kem, *km liên hệ với tiền tố Latin cum-,= com-, together, giới từ cum-, with. *km-tóm có nghĩa là “jointed together” (kết hợp lại) và dek-km-tóm, ngón tay chụm lại (tr. 185). Như thế dek-km-tóm có nghĩa là mười ngón tay chụm, cụm lại.

Giải thích bắng Việt ngữ ta thấy rõ ràng hơn.  Gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *dekmtóm có *kem, *km = com- = Việt ngữ cụm, chụm, cùng, cộng (như comunity = cộng đồng); tóm = Việt ngữ tóm, túm, tụm (lại) và dek- = đọt (ngọn) rõ hơn Pháp ngữ  doigt = đọt. Ngón là ngọn là đọt của tay (xem finger). Dek-km-tóm = mười ngón tay chụm, tụm, cộng lại.

Một điểm lý thú dù cho có là trùng hợp đi nữa là Hán ngữ thập là 10 được diễn tả bằng hai hình nọc đứng và nọc ngang thẳng góc với nhau. Ta có thể coi đây là hai cánh tay để thằng góc với nhau với nghĩa là cả hai tay, hai bàn tay. Nhìn dưới con mắt toán học, thập là một thứ dấu cộng tức mang nghĩa cộng lại của mười ngón tay, cụm, chụm của hai bàn tay.

Mặt khác ta cũng có thể hiểu dek- là tiền tố dis-, de- có một nghĩa là mở ra (như discover, découvrire) thay vì là ngón tay. Dek- nghĩa là mở ra. Dek-, de- biến âm với Việt ngữ dở (mở). Như thế, theo cách giải thích này, ta thấy Pháp ngữ dix ruột thịt với với dis-, dé-, de- và với Việt ngữ dở (mở). Ta có thể kiểm chứng với Đại Hàn ngữ, như đã nói ở trên yòl (mười) ruột thịt với động từ yòl- (mở). Ta thấy yò- = dở (mở).

Như vậy Anh ngữ ten liên hệ với Anglosaxon tên, Việt ngữ tênh, IE *dek và deca- lhv dek-km-tóm có thể là mười ngón tụm lại hay mở hai nắm tay ra.

Ở đây một lần nữa ta thấy có thể dùng Việt ngữ học Anh ngữ.

Kết Luận

Qua các từ chỉ con số nhất là từ căn bản cân bằng bền hay ổn định số 2 và qua các tầm nguyên nghĩa ngữ của các con số còn lại ta thấy có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ nói chung và với Anh ngữ nói riêng. Sự liên hệ này như thế nào sẽ khai triển ở dịp khác. Một số tên các con số không có dạng ngữ giống nhau nhưng có tầm nguyên nghĩa ngữ giống nhau. Sở dĩ như vậy là vì tùy thuộc vào ngón tay (ngón cái hay ngón út) được chọn làm ngón chuẩn để đếm. Nói một cách khác là tùy theo chiều đếm. Chiều đếm này theo chiều nòng nọc, âm dương Dịch. Một vài con số được gọi theo ý nghĩa tín ngưỡng, theo Vũ Trụ giáo.

Trong nhiều trường hợp ta thấy có thể dùng Việt ngữ để học Anh ngữ và một khi muốn truy tìm nguyên ngữ các từ thuần Việt hay từ nôm ta phải so sánh với các từ trong Ấn Âu ngữ. Một quyển từ điển tầm nguyên nghĩa ngữ Việt mà không so sánh với Ấn Âu ngữ thì thật là thiếu sót, không thể nào hoàn toàn được.

Tài Liệu Tham Khảo

 1. Global Linguistic Connection, Eurolinga, Bloomington, 1983.

2. Morris Swadesh, The Origin and Diversification of Language, 1971.

3.  Rev. John Batchelor, Aini-English-Japanese Dictionary, Tokyo, 1905.

2 comments

  1. Kiến thức kỳ lạ, như một nhà Bác Học

    1. Quang Nguyen · · Reply

      Cám ơn anh rất nhiều.
      Xin đọc tiếp các bài về Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ và các bài khác
      Nguyễn Xuân Quang

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: