NHÓM TRỐNG TRỆT NAM TRUNG HOA (1).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

CÁC NHÓM TRỐNG ĐỒNG THEO HÌNH DẠNG.

TRỐNG TRỆT HÌNH NỒI ÚP NAM TRUNG HOA .

(phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

Trống đồng Nam Trung Hoa nằm trong đại tộc trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn. Heger gọi trống này là trống trệt (squat drum) Nam Trung Hoa vì ông thấy nhiều loại này ở vùng Nam Trung Hoa. Dĩ nhiên trống loại này cũng còn thấy ở những vùng khác nhưng ít hơn và mang ý nghĩa biểu tượng có thể cũng khác hơn.

Trống đồng Heger IV thuộc loại này.

Trống trệt Nam Trung Hoa là trống hình cái âu hay hình nồi úp thuộc loại Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV).

 

 Hàng trống trệt Nguyễn Xuân Quang IV ở dẫy phía trước (ảnh của tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Sắc Tộc Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc).

 Bài viết này chủ yếu nói về nhóm trống trệt Nam Trung Hoa Nguyễn Xuân Quang IV này còn các trống Nam Trung Hoa có hình dạng khác viết ở những bài khác.

Xin nhắc lại tôi đặt tên các loại trống theo hình dạng và con số dựa theo ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

Nhóm Trống Nguyễn Xuân Quang Loại IV (NXQ.IV) là loại trống hình Nồi Úp, Trống Tượng Nước Dương, Trống Mặt Trời Nước, Trống Thái Âm, Trống Chấn (Heger IV).

 Trống trông như cái nồi úp. Nồi là một vật đựng biểu tượng cho nước, thái âm. Nồi úp xuống thành trống mang dương tính vì thế trống hình nồi úp biểu tượng cho nước dương, mặt trời nước, thái âm ngành dương hay Chấn.  Số IV (4) là số Cấn tầng 1 thường hôn phối với Chấn. Chấn IOO là lửa (I)  nước (OO) có những khuôn mặt nòng nọc, âm dương, sinh tạo của nhánh nước âm thái dương, Lửa-nước, Nước dương, sấm mưa… (Cơ Thể Học Trống Đồng).

Trống này là trống biểu của đại tộc Lửa Nước, Mặt Trời Nước ứng với tượng Nước dương Chấn.

Vì thế trống trệt Nam Trung Hoa theo chính thống phải có một khuôn mặt Nước thái âm sinh tạo ngành nọc dương thái dương Chấn. Do đó theo chính thống tức các trống sớm thường có mặt trời 8, 12 nọc tia sáng. Số 8 là số Khôn tầng 2. Khôn âm là thái âm, nước vũ trụ có Chấn là đại diện. Số 12 là số Cấn OOI tầng 2 thường hôn phối với Chấn IOO.

Ta có thể kiểm chứng qua nhiều diện.

.Qua Dịch và chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.

Qua bài viết Các Nhóm Trống Theo Hình Dạng ta đã biết một cách tổng quát về các trống trệt Nam Trung Hoa này.

Nhóm Trống trệt loại này gần như không có trụ hay thân trống, có chăng trụ trống lẫn vào đế trống chỉ có hai phần chính là mặt-tang trống và thân-đế ở dưới.

Trống gần như không có phần thân hình trụ nên trống trông có dáng lùn tịt, vì thế mới gọi là trống trệt (squat).

Phần thân trụ mang dương tính, nên trống không có trụ không còn dương tính hay có rất ít dương tính vì thế trống mang tính âm chủ. Nói theo Dịch là trống thái âm, nước. Vì là trống (có một nghĩa là đực, dương, mặt trời) nên là trống thái âm, nước dương của ngành nòng Khôn thái dương mặt trời tức Chấn.

Về hình thể, kiểm chứng với chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ta cũng thấy rất rõ điểm này.

Dưới phương diện tứ tượng, diễn tả theo chữ nòng nọc, trống có phần bầu nước ở trên là O và phần đế Cõi Âm  là nòng O nhưng còn một phần trụ trống mặc dù không còn thấy rõ mang dương tính nên có hình nón trụ cụt đầu tức là O dương, như thế trống nồi úp là trống nước thái âm OO dương. Nếu hiểu trụ trống theo diện Trục Thế Giới thì khi cắt bỏ Trục Thế Giới đi tức là lấy đi ba tiểu trục tức ba phần dương thì trống còn lại ba phần âm OOO của Ba Cõi. Ba phần âm OOO chính là Khôn (ứng với |||, Càn). Trống là trống Khôn dương tức Chấn Vũ trụ sinh tạo.

Như thế trống loại này biểu tượng cho tượng nước dương, biển, cho Mặt trời-nước, lửa-nước (lửa trong nước là chớp sấm mưa), Thái âm, Chấn biểu tượng cho cực âm và Vũ Trụ âm, Tạo Hóa âm ngành dương.

Trống này nói chung là Trống dương ( | ) của ngành thái âm (OO) tức |OO (Chấn)  nước Vũ trụ sinh tạo,  là sấm mưa, biển…

.Về cơ thể học

Trống có thể coi như là do trống Nấm Vũ Trụ (Nấm Tam Thế, Nấm Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI cắt bỏ đi phần trụ trống Trục Thế Giới.

Nếu cắt bỏ phần trụ trống, còn lại phần trên và đế trống, ta có trống trệt NXQ IV.

 

 Trống Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) cắt bỏ phần trụ trống (bên trái), ta có trống trệt Nam Trung Hoa Nguyễn Xuân Quang IV  bên phải (minh họa của tác giả).

Ta thấy rất rõ là phần dương trụ trống không còn. Mất phần dương nên trống này chỉ còn mặt và tang trống O và đế trống O. Trống là trống thái âm ngành thái dương Chấn.

.Về phương diện dân tộc học

Trong Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo Chấn mang trọn vẹn nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh ngành nước thái dương. Ở cõi Thượng Thế, Chấn có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, nòng nọc, âm dương, sấm sinh tạo. Big bang là một tiếng sấm tạo thiên lập địa. Ở Trung Thế Chấn có một khuôn mặt chính nước dương, biển , mặt trời  Nước và ở Hạ Thế có một khuôn mặt chính Cõi Âm (xem chương Ý Nghĩa Của Trống Đồng).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, vua tổ Lạc Việt là Lạc Long Quân có mạng Chấn. Ổ cõi Thượng Thế, Lạc Long Quân có một khuôn mặt sinh tạo tạo hóa, sấm sinh tạo đội lốt Thần Nông. Ở cõi Trung Thế Lạc Long Quân là  Vua Mặt Trời  Nước, Vua Rồng Nước, Thần Sấm thế gian ở đầu non, Thần Biển, thần Nước và vua vùng đất âm non, đồi, đất thấp có nước. Ở Hạ Thế là vua cõi âm, Vua Rồng Nước Long Vương có thủy phủ ở vịnh Hạ Long…

Kiểm chứng lại ta cũng thấy rõ là Rồng có một khuôn mặt sấm như thấy qua xứ Butan được mệnh danh là Đất Rồng Sấm Sét (Land of the Thunder Dragon).

Như thế ta sẽ không ngạc nhiên thấy tại sao trống trệt lại có nhiều ở Nam Trung Hoa và được mệnh danh là trống Nam Trung Hoa.

Thật là dễ hiểu vùng Nam Trung Quốc là địa bàn của Tầy Âu, Thái dòng nòng, Mặt Trời Nước Lạc Việt Lạc Long Quân. Trong nhóm này có tộc Lạc Việt Tráng Zhuang là tiêu biểu nhất.

Người Lạc Việt Tráng Zhuang ruột thịt với nhánh Lạc Việt Việt Nam. Họ nhận mình là di duệ của Vua Rồng Nước tức Lạc Long Quân. Do đó họ cũng thờ trống đồng thuộc đại tộc trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn.

Hình trống đồng của Lạc Việt Tráng Zhuang còn thấy vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây có tuổi cùng thời với trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (Đạo Thờ Mặt Trời Của Bách Việt, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com)..

Trống đồng Tráng Zhuang phần lớn thuộc loại trống đồng tượng Nước Nguyễn Xuân Quang IV tức trống trệt Heger IV hình cái âu hay nồi úp thuộc đại tộc mặt trời Nước Lạc Long Quân.

Người Tráng Zhuang có vũ trụ quan theo Vũ Trụ giáo dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương (Lạc Việt Tráng Zhuang).

Vì thế trống đồng của họ nguyên thủy cũng diễn đạt thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo giống như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Nguyên khởi trống đồng là trống biểu của Vũ Trụ giáo là họ biểu, quốc biểu, tộc biểu (như thấy qua các trống Quảng Xương, Hòa Bình, Phú Xuyên, Trống Miếu Môn I…), về sau ở các trống muộn thường có tượng cóc/ếch gọi là trống ếch trống mưa, mang khuôn mặt thờ sấm mưa nổi trội lên làm lu mờ đi ý nghĩa biểu tượng Vũ Trụ giáo nguyên thủy của trống. Các trống Nam Trung Hoa và các quốc gia khác như Lào, Campuchia, Thái Lan… gọi trống đồng là trống ếch trống mưa. Ở tộc Tráng Zhuang ngày nay cũng vậy, họ coi trống đồng là trống mưa, trống ếch, trống sấm mưa. Trống tiêu biểu mà họ hãnh diện nhất là Trống Đại Lôi (Great Thunder Drum). Thờ trống sấm mưa nên họ thờ thần sấm mưa.

Như đã biết, những trống ếch, trống mưa, sấm mưa này ở vào giai đoạn sau này nghĩa là những trống muộn.

Nguyên thủy trống trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là một trống thờ, không phải mục đích làm ra là để làm nhạc cụ bộ gõ. Lạc Việt Tráng Zhuang dùng trống đồng nòng nọc, âm dương như một nhạc cụ bộ gõ cho thấy trống đồng Tráng Zhuang là trống muộn.

Ta thấy rất rõ điểm này qua cách đánh trống của họ hoàn toàn khác với cách đánh trống theo nòng nọc, âm dương của các trống Đông Sơn.

Cách đánh trống nguyên thủy của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn phải là cách đánh trống theo nòng nọc, âm dương.

Cũng như trống, dùi trống cũng mang nghĩa biểu tượng. Nếu trống mang nghĩa nòng nọc âm duơng thì ngược lại dùi trống cũng có nghĩa dương âm. Trống dương đi đôi với dùi trống âm và ngược lại. Dùi trống có hai khuôn mặt âm dương còn thấy rõ trong các tế vật của người Lenapse, một tộc miền Đông Bắc Mỹ châu. Dùi trống dương có khắc một khuôn mặt đàn ông trong khi dùi trống âm khắc mặt đàn bà (Heike Owusu, p.224-225).

Dùi trống đồng là dùi âm dương thường làm bằng một dóng cây bộng như cây tre. Dùi trống đồng bằng thân cây tre chẳng hạn, một đầu có phần đốt đặc, kín là đầu dương và một đầu hở hay đầu hổng là đầu âm. Vì dùi trống làm bằng một khúc cây bộng như thân tre nên dùi bị tiêu hủy với thời gian nên chúng ta đào tìm thấy hàng ngàn trống đồng mà không thấy một cây dùi trống đồng nào còn lại.

Cách đánh trống đồng do đó phải theo cách đánh âm duơng. Ví dụ điển hình còn thấy là cảnh đánh trống trên trống đồng Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ. Ở vị thế trống mặt hướng thiên, mặt trống dương, có mặt trời dương, khi đánh phải dùng đầu âm tức đầu hở của dùi trống đâm thẳng đứng xuống mặt trời dương cho âm dương giao hòa, hôn phối, giao hợp với nhau

Một cảnh đánh trống theo nòng nọc, âm dương trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ. Đầu dùi trống hở, âm đánh xuống mặt trời dương cho nòng nọc, âm dương giao hòa (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

giống như khi đánh cồng thì gõ vào cục u mặt trời âm của cồng. Nếu lật ngược trống lên, trống trở thành một loại cồng (tức trống âm) hay một thứ cối thì cũng phải lật ngược dùi trống để đầu dương, đực tức đầu đặc, kín đâm thẳng xuống đáy cồng hay cối (nếu coi trống lật ngược lên như một thứ cối thì lúc này dùi trống với đầu đặc là một thứ chầy) (Dấu Hình Và Biểu Tượng Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

Các đánh trống của người Tráng Zhuang hiện nay  dùng đầu dùi đực đánh vào mặt trời và dùng một cái thùng gỗ đưa vào mặt đáy hở của trống cho âm trống vang dội hơn là hoàn toàn sai lệch và bịa đặt (ảnh của tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Sắc Tộc Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc).

 Ở đây ta thấy cách đánh trống của Lạc Việt Tráng Zhuang là dùng dùi trống dương đánh vào mặt trời dương là cách đánh ‘đồng tính luyến ái nam’ đã hoàn toàn mất gốc, không còn sự giao hòa nòng nọc, âm dương, không còn khơi động được tiến trình Vũ Trụ Tạo Sinh trong Vũ Trụ giáo. Trống đồng nguyên thủy không phải làm ra để dùng làm bộ gõ vì thế họ đã bịa đặt ra thêm là làm một cái thùng gỗ úp vào đáy trống khi đánh để cho tiếng trống được âm vang hơn.  Cách đánh trống nầy trăm phần trăm láo khoét, bịa đặt.

Ngoài ra trên nhiều trống Nam Trung Hoa còn có các mô-típ kiểu Trung Quốc như rồng và cá, trên một vài trống có cả Hán tự.

Riêng mô-típ cá, rồng ăn khớp trăm phần trăm với trống nước, trống mặt trời nước Lạc Long Quân vì Lạc Long Quân có vật biểu là rồng thuồng luồng, giao long, cá chép nhưng rồng là quan niệm thần thoại hóa của cá sấu, cá chép đã muộn và bị ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa. Nguyên thủy ở các trống của đại tộc Đông Sơn cổ không có hình rồng mà chỉ có hình cá sấu lạc, cá sấu Việt như thấy ở trống Chấn Hòa Bình (xem trống này).

Còn trên trống có chữ Hán cho biết rõ trống này là trống rất muộn, được làm vào thời đã bị ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc hay đã bị Trung Quốc thống trị, đồng hóa.

Thật sự ra trống trệt Nguyễn Xuân Quang IV loại này đã có từ  lâu và như đã nói ở trên có thể thấy ở nhiều nơi khác và cũng có thể mang những ý nghĩa biểu tượng khác với nghĩa trống mưa, sấm mưa. Nếu là trống thật cổ trống loại này có một ý nghĩa biểu tượng sinh tạo, tạo hóa mang tính chủ.

Thật vậy ở góc dưới bên phải dưới phần nhô ra của mái cong của một ngôi nhà mặt trời trên trống Sông Đà ta thấy có trống loại này.

Trống Chấn NXQ IV trên trống Sông Đà.

Như đã nói ở trên, trống trệt nguyên thủy còn diễn tả Chấn sinh tạo, tạo hóa, nước-lửa sinh tạo tạo hóa. Tuy nhiên, về sau ở các vùng làm ruộng lúa nước, trống đồng có tuổi rất muộn. Trống trệt Nam Trung Hoa cũng vậy. Những trống này có khuôn mặt nước, mưa, sấm mưa vượt trội lên làm phai mờ đi khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa. Lúc này là thời trống đồng được hiểu theo nghĩa duy thực là trống mưa, trống sấm mưa, trống ếch.

Vì thế có rất nhiều trống trệt Nam Trung Hoa có mặt trời 12 nọc tia sáng và có khuôn mặt chính là trống sấm mưa. Như đã biết mặt trời 12 nọc tia sáng có một khuôn mặt phổ thông là mặt trời Cấn/Chấn sấm mưa. Trống sấm mưa cũng có các tượng ếch/cóc, hình thái sấm gầm, lôi văn, hình sóng nước…

Tuy nhiên trống vẫn có hình nồi úp loại Nguyễn Xuân Quang IV nên phải hiểu đây là trống mưa, trống sấm của các tộc, các chi của đại tộc Chấn thái dương.

Xin lưu ý các khuôn mặt tứ tượng nước, lửa, đất, gió ở các trống trệt Nam Trung Hoa là những khuôn mặt nhỏ của chi tộc nằm trong khuôn mặt lớn của tượng Nước lửa của đại tộc Nước Chấn.

Cần lưu tâm

Trống loại này theo chính thống mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của tượng nước hay tất cả các khuôn mặt của đại tộc nước. 

Vì nước thái âm mang nghĩa khôn âm, cực âm, nước, vì thế, như đã thấy ở chương Ý Nghĩa Trống Đồng Đông Nam Á, trống hình cái âu, nồi úp có ba khuôn mặt của ngành nòng nước: Cõi Trên là vũ trụ âm nam, cực âm nam, Cõi Giữa là tượng nước Chấn, sấm mưa và Cõi Dưới là Cõi Âm của ngành âm. Cần phải dựa vào các chi tiết khác để phân định.

Ở đây qua tộc Lạc Việt Tráng Zhuang dòng mặt trời Nước Chấn Lạc Long Quân có chính yếu là trống đồng nòng nọc, âm dương loại Nguyễn Xuân Quang IV hình nồi úp cho ta thấy rõ như hai năm là mười hình dạng của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có hình dáng mang một ý nghĩa biểu tượng ứng với Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo và là trống biểu của một đại tộc, một tộc tương ứng (Cơ Thể Học Trống Đồng).

Bây giờ ta hãy giải đọc một trống trệt Nam Trung Hoa tiêu biểu.

 (còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: