NHÓM TRỐNG ĐẶC THÙ PEJENG, NAM DƯƠNG

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

Phải tuân thủ luật tác quyền.

Nhuận sắc lại 26-6-2020.

NHÓM TRỐNG ĐẶC THÙ PEJENG, NAM

DƯƠNG

Nguyễn Xuân Quang

Trống đặc thù Pejeng chỉ thấy ở Nam Dương không thấy ở chỗ nào khác.

Tên gọi

Tên gọi theo tên làng Pejeng ở Bali.

Niên đại

Từ thế kỷ thứ 1 và 2 Sau Dương Lịch.

Hình dạng.

Nhìn tổng quát trống Pegeng có hình ống thắt eo giống đồng hồ nước hay cát hay hình chầy có eo. cầm.

Chầy tay bằng gỗ có eo cầm (nguồn: metmuseum.org).

Tôi gọi trống này là trống chầy có eo hay trống dóng sấm đơn có eo (xem dưới). Chầy cùng nghĩa nọc, dương với trống. Tổng quát trống chầy có hình trụ tròn, hình nọc mang nhiều dương tính, chầy là biểu tượng cho dương, nọc, bộ phận sinh dục nam (trống là nõ lật ngửa lên là cái cối hình ống, hình nường,  âm đạo) vì thế trống loại này có thể coi là loại mang nhiều dương tính, Càn. Trống Pejeng hình chầy Càn nhưng có eo mang âm tính là loại trống Càn phía nòng âm. Trống Pejeng là một dạng âm của loại trống Nguyễn Xuân Quang II (NXQ. II) hay trống Hình Trụ Ống, trống Tượng Lửa Dương, Lửa Vũ Trụ, trống Mặt Trời Lửa, trống Thái Dương, trống Càn, trống Cực Dương.

Trống Pejeng Càn phía nòng âm Khôn này này cũng thấy trên một chiếc thuyền số 6 Khôn Càn ở trống Ngọc Lũ I.

Dưới gầm cầu thử thách có để một vật đựng hình trống hay trống hình chầy có eo. Theo duy âm là một bình tế đựng rượu lễ có eo gồm ba phần phình Khôn. Bình này giống bình đồng Tsun đời nhà Thương (Thế Kỷ 16-15 Trước Dương Lịch) .  Sau này vào đời Vạn Lý (Wan Li) nhà Minh (1573-1620) một lò gốm làm lại gọi là bình Tsun. Gần đây (1981) hãng Franklin Porcelain làm lại dưới dạng bình sứ tí hon Treasures of the Imperial Dynasties cho những người thích sưu tập đồ gốm quí.

Bình Tsun (sưu tập của tác giả).

Tsun gần âm với kun (Khôn).

Theo duy dương là trống hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II Tượng Lửa Càn phía âm. Vật này có hai khuôn mặt bình Khôn trống Càn âm.

Trống Pejeng và moko giống vật này cũng có hai khuôn mặt trống càn lật lên là bình hay cối khôn.

Trống Pejeng có một khuôn mặt là trống Càn Khôn, vũ trụ, tạo hóa của tộc người nước, Lạc Việt Hải Đảo.

Ngoài ra Càn lửa, chớp liên tác với Khôn nước tạo ra sấm. Ta thấy ngay trống Pejeng, moko cũng có hình dóng sấm (thunderbolt, vajra) mang tính Càn Khôn.

 Trống pejeng, moko có hình dạng của dóng sấm đơn.

Nhìn dưới diện chữ nòng nọc vòng tròn-que, đọc theo duy dương theo trống (có một nghĩa là đực) tức có tính dương trội, thì hai phần ống ở trên và dưới eo mang dương tính coi như hai nọc que I, I và phần eo tròn coi như là một nòng O. Như thế theo duy dương gộp lại ta có IOI, tức quẻ Li, lửa thiếu dương. Đọc theo duy âm theo bình hay cối tức có tính âm trội, thì hai phần ống ở trên và dưới eo mang âm tính coi như hai nòng OO và phần eo coi như là một nọc que I. Như thế theo duy âm ta có OIO, tức quẻ Khảm, nước thiếu âm. Rõ như hai năm là mười trống chầy Pejeng hình dóng sấm đơn có hai khuôn mặt dương âm lửa Li nước Khảm, liên tác có thể tạo ra sấm mưa thế gian.

Ấn Độ có một loại trống da có hai mặt kín thuộc loại hình dóng sấm đơn như trống Pejeng, Moko này. Ví dụ trống của thần Shiva có hình dóng sấm đơn giống trống moko nhưng là trống da có hai mặt bịt kín.

Thần Shiva có một biểu tượng là chiếc trống hình dóng sấm có cùng hình dạng với trống moko.

Thần Shiva là thần Sinh Tạo và Hủy Diệt cho thấy chiếc trống biểu tượng của thần hình dóng sấm mang ý nghĩa của vũ trụ giáo trong đó có ba khuôn mặt Sinh Tạo, Hủy Diệt và Tái Sinh. Thần Shiva có một khuôn mặt là thần sấm tạo hóa toàn năng

Trống moko lật ngược lên thành một loại cối giống hệt loại cối có hình dóng sấm lật ngược của Ấn-Độ như thấy khắc ở đền Lakshamana, Khajuraho, Ấn-Độ:

Hai người đang giã thuốc kích dục trong một chiếc cối hình trống moko lật ngược ở giữa một cảnh tình thuật (erotic scene) (ảnh của tác giả). 

Trống Pejeng cũng có đủ các loại trống diễn tả tất cả các khía cạnh, các khuôn mặt của vũ trụ tạo sinh và có tất cả các trống biểu tượng cho họ, ngành, đại tộc, tộc ứng với các khuôn mặt của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo và cũng có một khuôn mặt dóng sấm, sấm.

Tóm lại về hình dạng trống Pejeng, moko Alor đã thấy trên một chiếc thuyền của một tộc nước Khôn Càn ở trống Ngọc Lũ I. Có thể tộc nước dòng Lạc Việt Nước, long nhân, long hộ này đã mang theo loại trống của dòng họ khi xuống Nam Đảo tạo ra dòng trống Pejeng cổ còn giữ nguyên ý nghĩa và chức vụ của trống Đông Sơn (như chỉ dùng làm trống thờ  vũ trụ, mặt trời, tổ tiên… dùng trong tế vụ và dùng làm vật tùy táng chôn theo người chết).

Kích Thước Trống Pejeng.

Về cỡ trống loại Pejeng được chia ra: trống hết sức lớn (lớn nhất thế giới là trống “Trăng Bali”),

 

 Trống pegeng khổng lồ Trăng Bali (nguồn: A.J. B. Kempers Pl 3.01d, e).

trống lớn (trống Manuaba), cỡ nhỏ (loại mokos Alor)

Trống moko (nguồn: A.J. B. Kempers Pl 2108).

và trống tí hon minh khí.

 

Trống minh khí loại Pejeng, Moko Nam Dương (ảnh của tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Văn Minh Á Châu, Singapore).

Nội dung

Trống Pegeng ruột thịt với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, là một loại trống của đại tộc Đông Sơn. Giống như trống của đại tộc Đông Sơn, trống Pejeng cũng là trống nòng nọc (âm dương) có mặt đáy để hở mang âm tính, mặt trống đặc mang dương tính và ở tâm trống có hình mặt trời mang dương tính nằm trong vòng tròn không gian mang âm tính.

Lưu Ý.

Xin nhắc lại:

Điều kiện ắt có và đủ để một trống đồng là một trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn thì trống đó phải có mặt đáy để hở và ở tâm trống có mặt trời nằm trong vòng tròn không gian và có ‘hoa văn’ chữ nòng nọc vòng tròn-que. 

Vì thế trống Pejeng cũng mang trọn vẹn ý nghĩa của vũ trụ thuyết, vũ trụ tạo sinh giống như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trống cũng tìm thấy chôn trong các mộ và dùng trong các nghi thức tôn giáo, lễ hội, thờ vũ trụ, mặt trời, tổ tiên và về sau dùng duy tục hơn là biểu tượng cho quyền lực, phú quí, sung túc…

Vì thế về cơ thể học dựa theo qui trình vũ trụ tạo sinh cũng gồm tam thế mang hình ảnh cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), trục thế giới. Mặt trống Pejeng có phần giữa tâm trống cũng vẫn là hình chiếu của cõi trên thượng thế. Phần mặt trống còn lại ở, phía ngoài là vùng đất (ở đây là đất âm) cõi nhân gian của trung thế. Tang trống là vùng nước của trung thế. Phần dưới eo trống là hạ thế, cõi âm. Trụ trống hay eo trống là trục thế giới thông thương ba cõi.

Cũng giống như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn các trống loại Pejeng có trang trí thay đổi theo vũ trụ tạo sinh theo các ngành, đại tộc, tộc, tùy theo cỡ lớn nhỏ của trống, tùy theo tuổi của trống.

GIẢI ĐỌC MỘT VÀI TRỐNG PEJENG.

  1. TRỐNG TRĂNG BALI.

 Tổng quát.

Đây là loại trống chầy có eo hết sức lớn, là chiếc trống đồng lớn nhất thế giới thường gọi là trống Trăng Pejeng hay Trăng Bali, hiện để tại miếu thờ Pura Panataran Sasih (Sasih có nghĩa là Trăng; Sas-, Sa- ruột thịt với Việt ngữ Sáng, Chang, Chăng, Trăng), ở làng Intaran-Pejeng, Gianyan, gần Ubud, miền trung Bali.

Trống được dân bản xứ coi là vật rất linh thiêng. Ngày nay hiểu theo nghĩa duy thực (theo tiếng gọi của cái dạ dầy) nên cho trống là di vật của sự tế lễ trồng gạo nước. Trống được cho là có tuổi từ 600 Trước Dương Lịch-300 Sau Dương Lịch.

Trống cao 186.6 cm và đường kính mặt trống là 160 cm.

Có nhiều ttruyền thuyết dân gian Bali nói về trống. Một số cho đây là cái nhét lỗ tai subangs (ear-plugs) của mặt trăng. Đa số coi là asasih, mặt trăng. Truyền thuyết phổ thông nhất cho rằng trống Pejeng Moon là chiếc bánh xe của chiếc xe chở mặt trăng đi qua vòm trời đêm. Một đêm bánh xe rời ra và rơi xuống trái đất, nằm kẹt trên một cây lớn và vẫn chiếu sáng. Ánh sáng làm một tên trộm bực bội. Hắn trèo lên cây và tiểu vào bánh xe đó để làm tắt ánh sáng đi. Bánh xe nổ tung. Tên trộm chết tan xác. Bánh xe trăng rơi xuống đất bị vỡ mất một mảnh, nguội đi và được dân làng lưu giữ lại thờ phượng.

Về nguồn gốc đích thực của trống Pejeng Moon chưa biết rõ. Có tác giả cho là đặt làm từ đất Đông Sơn Việt Nam. Nhưng phần lớn cho là trống làm tại bản địa Bali vì dựa vào các mảnh khuôn đúc đồ đồng (không phải của trống này) tìm thấy ở Bali và lý luận là ở Bali đã có kỹ thuật đúc đồ đồng.

 Chỉ xin chú tâm nói tới các điểm chủ yếu.

Trống không còn làm theo bố cục qui ước chính thống của trống đồng nòng nọc, âm dương đại tộc Đông Sơn.

Mặt trống chờm ra ngoài tang trống rất nhiều, trông như cái mâm đồng để trên cái đế hình trụ có eo.

Mặt trống Trăng Bali (nguồn: A.J. B. Kempersplate 3.018).

.Thượng Thế

Vỏ hư vô hay vỏ không gian ở đây khá đậm nét mang âm tính.

Mặt trời

Ỡ đây mặt trời sáng chói có khối lửa thuộc dạng cầu gai. Mặt trời có 8 nọc tia sáng Khôn/Càn (số 8 là số Khôn tầng 2). Trống thuộc nhóm thái âm Khôn.

Lưu Ý.

Xin nhắc lại, mặt trời 8 tia sáng là mặt trời Khôn tầng 2 thế gian (0,8) đội lốt Khôn 0 tầng 1 tạo hóa nên mang tính sinh tạo, vũ trụ. Mặt Trời 8 nọc tia sáng tạo hóa là mặt trời phổ thông nhất thấy trong nhiều nền văn hóa cổ, trong các tôn giáo lớn bởi vì nó diễn tả mặt trời Càn Khôn, vũ trụ, tạo hóa, sinh tạo một cách bao quát.

Như thế trống này với mặt trời 8 tia sáng có thể mang một biểu tượng tổng quát cho vũ trụ tạo sinh  hay cho một ngành.

Tia sáng hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) nhưng ngắn, không sắc cạnh, không nhọn, và khoảng hai phần ba phía đầu trở thành hình que, hình sợi dây (filiform) dài nên nọc tia sáng có hình chữ Y, hình chiếc phễu (funicular) hay cánh hoa kèn (trumpet flower) mang âm tính, êm dịu.

Đây là mặt trời nọc thái dương âm nam êm dịu, mặt trời chiều tà, mặt trời lặn, mặt trời dòng nước, mặt trời Chấn thái âm ngành thái dương.

Lưu ý

Xin nhắc lại ánh sáng hiệp (accord) theo tính nòng nọc, âm dương của mặt trời (mặt trời càng sáng, càng nóng càng mang dương tính thì nọc tia sáng cũng càng mang dương tính tức càng dài, càng nhọn, càng sắc, càng có nét thẳng, góc cạnh, hình mũi mác… Ngược lại mặt trời càng mang âm tính thì nọc tia sáng càng mang âm tính tức càng dịu, càng mát, càng ngắn, càng cùn, càng cong giống như đầu bút lông, hình kim, cánh hoa như mặt trời hoa hương dương của Aztec, mặt trời hoa thị của Việt cổ, hoa cúc của thái dương thần nữ Amatearsu Nhật Bản).

 Không gian

Các khoảng không gian giữa tia sáng có các hình thái đồng nhất trông giống hình cánh hoa sen hay con mắt bao quanh bởi các hình sọc không gian, nước cong.

Chi tiết mộc góc trống.

Các khoảng không gian giữa tia sáng nhìn chung giống một đóa hoa sen tám cánh nở rộ. Các cánh nằm xen kẽ với các tia sáng hình hoa kèn, hình phễu. Nhìn tổng quát ta có cảm tưởng vũ trụ gồm hai chiếc hoa với các cánh hoa xen kẽ đan vào nhau, là hoa mặt trời nọc lửa âm chồng lên hoa sen không gian nước. Vũ trụ tạo ra cảm giác êm dịu. Mặt trời không gian êm dịu mang âm tính dòng nước.

Trong các khoảng không gian giữa tia sáng cánh hoa sen có một hình tròn như con mắt trong có một bán cầu nổi (hemispheral knob) hiện ra dưới mầu đậm mang âm tính, nửa còn lại mầu trắng mang dương tính tạo ra ấn tượng  đen trắng, thực hư, âm dương, khôn càn. Đây chính là hình ảnh đĩa nòng nọc, âm dương, một dạng của đĩa thái cực ở dạng tĩnh. Theo duy dương là mặt trời nhất thể, vũ trụ, càn khôn, tạo hóa.

Núm nòng nọc, âm dương này được bao quanh bởi ba vòng tròn tức là ba nòng OOO tức quẻ Khôn diễn đạt không gian. Như thế đĩa mặt trời tạo hóa nằm trong không gian Khôn mang hình ảnh vũ trụ.

Phần còn lại của khoảng không gian giữa tia sáng hình cánh hoa sen có khoảng trống không diễn tả tượng gió Đoài, có các sọc cong (curved hatches) diễn tả tượng nước chuyển động mang dương tính tức nước dương thái âm Chấn. Khoảng giữa hai tia sáng hình núi tròn đầu hơi nhọn diễn tả núi dương Li phía nòng âm. Mặt trời có một khuôn mặt lửa thái dương thế gian Càn.

Như thế ta có mặt trời không gian nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực, nhìn dưới dạng lưỡng cực là lưỡng nghi và có đủ tứ tượng nghĩa là diễn đạt trọn vẹn ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh.

Điểm đáng nhấn mạnh ở đây là ‘con mắt’ là mặt trời  càn khôn, vũ trụ, tạo hóa chỉ rõ cho biết mặt trời 8 nọc tia sáng có một khuôn mặt tạo hóa tức số 8 Khôn thế gian có một khuôn mặt đội lốt số 0 Khôn tạo hóa.

Nói tóm lại thượng thế ở đây là vũ trụ mặt trời, mặt trăng càn khôn, sinh tạo của phía nòng Khôn âm, nước.

Điểm này ăn khớp với các tộc hải đảo.

Các vành giới hạn

Vành giới hạn là những vành trống không mang âm tính ăn khớp với khuôn mặt mặt trời Khôn.

Hai vành vận hành.

Gồm có hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) nọc âm thái dương. Đặc biệt hai vành này gồm những sọc nhỏ tạo thành. Các sọc nhỏ là dạng biến thể của chấm nọc. Điểm này cho thấy rõ các thanh ngang mang nghĩa nọc que của không gian tức nọc âm thái dương.   

Tóm lại phần chiếu của vũ trụ tạo hóa xuống tâm trống có đủ cả bọc hư vô, thái cực, lưỡng, tứ tượng  nghi mặt trời-không gian mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh. Nhưng chỉ có hai vành vận hành mang âm tính với nước lửa Chấn càn khôn là khuôn mặt mang tính chủ. Ở đây có sự cọc cạch tứ tượng và chỉ có hai vành nọc âm thái dương. Đây là một trống đã hơi muộn.

.Trung Thế

-Vùng đất

Không có cảnh sinh hoạt nhân sinh, chỉ có một vành lớn sóng nước chuyển động nối kết bằng 16 các hình con mắt đĩa tròn nòng nọc, âm dương như ở các khoảng không gian giữa tia sáng. Số 16 là Khôn tầng 3, cõi nước trần gian, cho biết khuôn mặt nước dương thái âm mang tính chủ. Ở bốn góc có bốn hình chữ V choãi ở đỉnh có con mắt đĩa tròn nòng nọc, âm dương mang nghĩa tứ hành nọc âm, lửa âm sinh tạo hướng ra tứ phương.

Các cuộn sóng có phụ đề bằng các gạch nhỏ, một dạng biển thể của chấm nọc mang dương tính. Các gạch nhỏ này cũng diễn tả dòng nước đang chẩy cho biết các sóng chữ S nằm này là sóng nước chuyển động mang dương tính, Chấn.

Như thế vành các sóng chữ S nằm chuyển động Chấn đi cùng các đĩa nòng nọc, âm dương sinh tạo cho biết trống có một khuôn mặt nước dương Chấn sinh tạo của ngành nước. Chú ý ta thấy mặt trống trông rất êm dịu mang nhiều âm tính, toàn cõi nhân nhân gian chỉ có hình sóng nước cho thấy đây là trống biểu của một đại tộc, một tộc thuộc dòng mặt trời nước.

Rõ ràng đây là trống biểu của ngành người nước Chấn ứng với Lạc Việt Hải Đảo.

Hai vành ở biên trống

Hai vành này giống hai vành ở vùng vận hành.

Như đã biết các vành ở biên trống cho biết trống thuộc về ngành nào. Với các vành sóng nước thì trống thuộc ngành nọc nước âm thái dương với khuôn mặt Chấn mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Chấn có một khuôn mặt lửa nước, sấm mưa. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với trống có hình dạng của dóng sấm, búa thiên lôi. Nhưng ở đây khuôn mặt sấm là khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa.

Không có các tượng cóc/ếch, trống không phải là sấm mưa, trống mưa, trống cầu mưa làm ruộng lúa nước mà trống có một khuôn mặt chính diễn tả vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, sinh tạo một cách phổ quát.

-Vùng Nước

Tang trống Trăng Bali (nguồn: A.J. B. Kempersplate 3.01 d).

Tang trống không có hình thuyền.

Phía trên cùng tang trống có 12 vòng tròn đường chỉ. Số 12 là Cấn, đất âm. Cấn hôn phối với Chấn như thấy trong dịch thần sấm Sấm Chấn đầu non Cấn, qua ngày vía Ông Dóng 9 Chấn tháng 4 Cấn. Kế đến là vành trống không diễn tả gió Đoài.

. Rồi tới 5 vành hoa văn. Số 5 là số Li, gồm: Vành 1, 2 và 3, 4 là những vành răng cưa thái dương Càn kẹp ở giữa vành chữ S đứng có gạch ngang ở ngay phía trên các quai trống. Chữ S biểu tượng cho sóng và gạch ngang là nọc que (dương, lửa). Chữ S có gạch ngang diễn tả nước dương, nước lửa Chấn. Như thế 5 vành gộp lại là lửa nước chuyển động Chấn thái dương.

Ta có đủ tứ tượng Cấn/Li, Đoài, Càn, Chấn

Tiếp đến là vành có hình 8 mặt người. Số 8 là số Khôn tầng 2 đi với mặt trời 8 nọc tia sáng. Như đã biết số Khôn 8 thế gian ở đây có một khuôn mặt đội lốt Khôn 0 tạo hóa. Như thế 8 mặt người này mang tinh sinh tạo, tạo hóa. Đây là biểu tượng cho 8 đấng tạo hóa.

Phần dưới tang trống Trăng Bali (nguồn: A.J. B. Kempersplate 3.01c).

Trước hết đây là vùng nước tang trống ta biết  chắc chắn ngay các mặt người này là biểu tượng của thần tổ hay người đại diện cho 8 tộc người thuộc đại tộc, ngành Nước.

Hình này cũng thấy vài trống Pejeng khác.

clip_image008

Mặt thần tổ dòng Nước trên trống Pejeng Manuaba, Bali, Nam Dương.

Hình ngữ trái tim  biểu tượng cho âm, nước.

Để thấy rõ hình mặt người trái tim có một khuôn mặt là thần tổ dòng Nước xin nhắc lại, như đã biết, hai nòng vòng tròn OO (dính nhau) có một nghĩa thái âm, nước khi chuyển động mang tính vận hành, năng động, dương, mở ra thành hình sóng cuộn, mây, mưa, mặt trời nước thái âm… Những khuôn mặt này thấy rõ qua hình hai thùy, hạt đậu, mây, sóng cuộn hai đầu, lá đa, lá đề hay trái tim… (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ Hai Nòng Vòng Tròn).

Những hình ngữ trái tim này còn thấy trong nhiều nền văn hóa thế giới, nhất là những nền văn hóa Nước hay liên hệ với Nước, mặt trời Nước. Ví dụ như:

-Biểu ký trái tim Tây phương.

Biểu ký trái tim có nghĩa là nước chuyển động dương thấy rõ trong bộ bài Tây. Bộ bài Tây có bốn loại bài: Cơ (Coeur, Heart, tim)

Chuồn (Trèfle, hình ba thùy), Bích (Pique, cây lao), Rô (Carreau, vuông). Ta thấy Rô vuông biểu tượng cho Đất vuông. Chuồn ba thùy là OOO, Khôn, có chân nhọn mũi mác mang dương tính là Khôn dương biểu tượng cho Gió. Con chuồn, con chuồn chuồn là con cuồn cuộn (gió thổi cuồn cuộn).

Bích cây lao nọc nhọn biểu tượng cho Lửa. Cơ biểu tượng cho Nước dương, chuyển động.

Cơ, Chuồn, Bích, Rô ứng với tứ tượng: Nước, Gió, Lửa, Đất.

-Văn hóa Taino Vùng Biển Caribe.

Những hình ngữ nòng nọc vòng tròn-que trái tim thấy rất nhiều trong các hình khắc trên đá của người Taino thấy ở Vịnh Đá Ngầm (Reef Bay) ở Đảo St John tại Đảo Virgin Hoa Kỳ hay ở các đảo khác có người Taino sống ở vùng biển Caribe có hình.

-Mặt người hình trái tim.

Thấy ở trang phục đầu hay diễn tả mặt các thần tổ, tổ tiên dòng nước, mặt trời Nước:

Hình khắc trên đá hai thùy móc nước mây, nước, nòng âm thái âm và hình mặt người trái tim (nguồn: https://www.terragalleria.com/parks/np-image.viis60147.html).

Trái, mặt hình trái tim tại Vịnh Đá Ngầm Reef Bay. Phải, mảnh gốm ở Trunk Bay (nguồn: https://www.nps.gov/articles/petroglyphs-of-reef-bay.htm).

 

Các nhà truyền giáo Tây Ban Nha 1.500 năm trước đây cho rằng hình mặt người là các vị thần sáng thế của Taino tại Reef Bay (Taino creation deities as decribed to the early Spanish priest of the 1500 hundreds at Reef Bay).

Rõ ràng tổ tiên người Taino ở US Virgin Island thuộc tộc nước, Mặt Trời Nước.

Nhưng quan trọng nhất và thấy rõ người Taino là một tộc Nước, Mặt Trời Nước qua chiếc rìu thờ đá cổ:

Rìu đá thờ có khắc chạm của người Taino ở St John vào khoảng 1.200 và 1.400 năm Sau Dương Lịch (ảnh của tác giả).

Ta thấy đây là chiếc rìu thiêng. Họ thờ Rìu.

Rìu mặt người hình trái tim mang âm tính. Hai con mắt hình móc nước. Rìu và mặt người cho thấy người Taino này thuộc tộc Nước, Mặt Trời Nước.

-Trong Văn Hóa Việt Nam.

Hình ngữ trái tim dĩ nhiên cũng thấy trong văn hóa Việt Nam nhất là trong văn hóa vùng sông nước Lạc Việt dòng Mặt Trời Nước Lạc Long Quân.

.Văn hóa Đông Sơn.

Hình sóng nước hai thùy hay trái tim thấy nhiều trên các trống đồng Đông Sơn loại trống Nước Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV) thuộc dòng mặt trời nước Lạc Long Quân, thấy nhiều ở Nam Trung Quốc, Heger gọi là trống trệt (squad drums) vì không có thân trụ trống, lùn tịt mang tính thái âm, nước (Cơ Thể Học Trống Đồng).

Những từ nòng nọc vòng tròn-que gọi là hoa văn hình hai thùy, trái tim trên trống đồng loại Nước Chấn Nguyễn Xuân Quang IV (nguồn: A.J. B. Kempers).

Các tộc nam Trung Quốc Tày Việt, Tráng Việt (Choang, Zhuang) thuộc địa bàn Tây Việt, Lạc Việt cũ có nhiều trống Nước Nguyễn Xuân Quang loại IV này.

Nhưng thần tổ mặt trái tim thấy rõ trăm phần trăm trên một chiếc rìu Đông Sơn hình trái tim có mặt thần tổ hình trái tim.

Rìu Đông Sơn (nguồn: nga.gov.au)

Thần tổ nước có hai con mắt âm hình xoáy móc  nước chuyển động, dương Chấn, Lạc Long Quân biển.

Ta cũng thấy rõ Rìu Thần Tổ mặt trái tim Taino nói ở trên giống Rìu Đông Sơn này một trăm phần trăm.

-Trong Văn Hóa Đình Làng Việt Nam.

Như đã biết đình làng Việt Nam là ngôi nhà thờ nọc, dương, phái nam, đền mặt trời mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh ngành mặt trời (Ý Nghĩa Hình Nhà Trên Trống Đồng).

Vì thế hình bóng Thần Tổ Mặt Trời Lạc Việt mặt trái tim cũng thấy trong văn hóa đình làng Việt:

Hình Rồng ở Đình Dư Hàng, Hải Phòng.

Đình Dư Hàng, Hải Phòng, thờ Vua Ngô Quyền.

Ở trán rồng có hình trái tim cho thấy rồng này là rồng Nước. Nên nhớ Vua Ngô Quyền với Trận Sông Bạch Đằng lừng lẫy liên hệ với sông nước, có thể thuộc dòng Lạc Long Quân.

Hình Rồng Dòng Lạc Long Quân ở Đình Lâu Thượng, Việt Trì.

Trên trán con rồng ở Đình Lâu Thượng có hình thần tổ mặt trái tim.

Đình Lâu Thượng, Đình Sủ, Kẻ Sủ, Xã Trưng Vương, Việt Trì, Phú Thọ (nguồn: Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Kự, Đình Việt Nam NXB TP HCM 1998).

Lưu ý Kẻ Sủ, Kẻ Sú là Kẻ Sấu (Mường ngữ sú, khú là cá sấu, giao long: Bua Sú Lường Vường, Vua Sấu Long Vương) vì thế đình làng Kẻ Sủ Giao Việt có hình thần tổ nước trái tim dòng Lạc Long Quân.

 Như thế trăm phần trăm các hình mặt trời người trái tim ở tang trống Pejeng là thần tổ Nước, mặt trời Nước của tộc người Nước. 

Bây giờ ta giải đọc các thần tổ Nước này trên trống Pejeng

Mặt thần hình trái tim, quan trọng nhất là con mắt. Con mắt gồm: tròng trắng có 3 vòng tròn. Một vòng tròn riêng rẽ còn hai vòng tròn tạo thành vành sóng nước bện thừng có các sọc soắn (hatched frame) trông như một phần của xoáy nước, nước cuộn, nước dương mang tính động tức nước dương Chấn. Như vậy tròng trắng có một nghĩa không gian O nước OO chuyển động sinh tạo. Con ngươi là chữ nọc chấm đặc có một khuôn mặt là mặt trời sinh tạo. Con mắt là không gian-mặt trời, vũ trụ bậc ba.

Ngoài ra còn thấy rõ thêm qua các yếu tố sau đây:

./Mũi hình chữ Y có chỏm chữ V có một nghĩa âm, nữ bộ phận sinh dục nữ, nước… mang tính nọc âm thái dương và mũi cũng trông giống như chiếc bình đựng nước mang âm tính nòng thái âm nước.

Nếu nhìn dưới diện nòng nọc, âm dương đề huề, mũi có hình chiếc bình biểu tượng cho nước có cổ cao hình nọc mang dương tính. Đây có thể mang hình ảnh của một hình bầu nậm cách điệu. Miệng bình loe ra có hai mấu nhọn hình chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang ý nghĩa nọc dương, lửa. Như vậy mũi cũng diễn tả nước dương, nước lửa liên hệ với Chấn.

Nếu nhìn theo diện duy dương ngự trị thì mũi có hình chiếc chầy mang tính âm dương hình ảnh của một dóng sấm, búa thiên lôi.

./Cằm có hình sóng nước.

./Hoa tai hình đĩa tròn có lỗ nòng chấm rỗng. Ngoài ra hai tai chẩy dài có lỗ đeo tai rất lớn. Đây là tục căng tai mà chúng ta còn thấy ở một vài tộc ở Tây Nguyên Việt Nam. Các tộc khác có tục cà răng nên chúng ta thường nói “cà răng căng tai”. Nên nhớ ở Tây Nguyên có nhiều tộc có gốc Nam Đảo đi lên hay liên hệ với văn hóa Nam Đảo, Đa Đảo. Mặt thần tổ căng tai này là một bằng chứng cụ thể của sự nối kết này. Hoa tai có hai hình đĩa tròn mang nghĩa, theo duy âm là không gian, vũ trụ âm, theo duy dương là mặt trời đĩa tròn nhánh âm.

./Ở vị trí âm vùng nước trên tang trống.

Tóm lại mặt trái tim, lá đa, lá da diễn tả bằng từ nòng ba vòng tròn biến dạng và mắt bằng từ nòng ba vòng tròn dưới dạng đồng tâm diễn tả đấng tạo hóa hay thần tổ của đại tộc nước dương Chấn liên hệ với thần sấm mưa, mặt trời tạo hóa nhánh nọc âm thái dương. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với các tộc nước hải đảo như Nam Dương, một thứ Lạc Việt hải đảo.

Cuối cùng vành nọc mũi mác ở dưới vùng tang trống xác thực cho biết thần tổ Nước này thuộc ngành âm thái dương.

Lưu Ý.

Ở đây ta có 8 thần tổ dòng Nước suy ra trên mặt đất ta cũng có 8 thần tổ dòng Đất, vị chi là 16 đại tộc. Cộng với hai thần tổ tối cao của hai ngành ta có 18 thần tổ. Con số 18 này ruột thịt với con số 18 của Hùng Vương.

Hạ Thế

Đế trống có 5 vành giống như 5 vành ở ngay phía trên các quai trống. Trống này có trang trí ở đế trống nên không còn là trống làm theo qui ước của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Theo chính thống đế trống biểu tượng cho cõi âm tăm tối thường không có trang trí. Trống đã là trống muộn.

.Trục Thế Giới

Trụ trống hay eo trống có các vành ngang dưới chân và các băng thẳng đứng có những vành răng cưa kẹp giữa vành chữ S có gạch ngang Chấn lửa nước thái dương. Đặc biệt các hình răng cưa ở đây nhỏ, cao, cạnh hơi cong, liền nhau hơn trông giống như hình sóng nước nhọn đầu mang dương tính lức lửa nước Chấn.

Tóm lược

Tóm lại trống Pejeng Trăng Bali này là loại trống đặc thù của Bali, Nam Dương.

.Nội dung và trang trí trống chỉ còn giữ lại tính chất trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

.Trống là trống biểu của dòng Khôn Chấn-Đoài với Chấn mang tính chủ nên có mặt trời thuộc nhóm thái âm Khôn thuộc bộ tộc mặt trời êm dịu nọc âm thái dương.

Trống Pejeng Trăng Bali thường có mặt trời 8 tia sáng càn khôn nên là trống tạo hóa mang trọn vẹn triết thuyết vũ trụ giáo vì thế được chế tạo lớn nhất so với các trống cùng loại.

.Về hình dáng trống có hình trụ ống có eo thắt nhiều hay ít ở giữa thân trống. Đây là một loại trống thái dương Càn phía nòng, âm nước. Trống Pejeng có một khuôn mặt là trống biểu của Thần Tổ Mặt Trời Thái Dương Âm ứng với Mặt Trời Đế Lạc (tiền thân của Lạc Long Quân, ngang hàng với Đế Minh của phía nọc, dương hay là khuôn mặt âm của Đế Minh bởi vì Đế Minh là mặt trời tạo hóa lưỡng tính phái cõi thế gian, đội lốt mặt trời tạo hóa đại vũ trụ Viêm Đế Thần Nông lưỡng tính phái). Trong khi loại trống Nguyễn Xuân Quang II (NXQ. II) hay trống hình Trụ Ống thẳng tuột là trống Tượng Lửa thái dương, Càn, trống Mặt Trời Thái Dương, siêu dương, thuần dương của phía nọc, dương, lửa và có một khuôn mặt là trống biểu của Đế Minh.

Điểm này cũng giải thích tại sao trống được gọi là Trăng Bali. Trăng là một thứ mặt trời đêm, Càn đêm tức Càn phía nòng, âm. Trăng đi với nước. Ta có từ đôi trăng nước. Trăng ảnh hưởng tới nước thủy triều và con nước. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, mặt trời hoàng hôn, mặt trời đêm, mặt trời nước Lạc Long Quân có một khuôn mặt là ông trăng. Câu ca dao:

Ông trăng mà lấy bà giời,

Mồng năm dẫn cưới, mồng mười rước dâu.

Chỉ ông trăng Lạc Long Quân lấy bà giời Âu Cơ (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

Đây là lý do người Bali Nam Dương gọi là trống là Trăng Bali và có truyền thuyết cho rằng trống liên hệ với mặt trăng như trống là cái nhét lỗ tai subangs (ear-plugs) của mặt trăng, là asasih, mặt trăng và phổ thông nhất cho rằng trống Pejeng Moon là chiếc bánh xe của chiếc xe chở mặt trăng đi qua vòm trời đêm. Hiển nhiên trăng là mặt trời đêm, ánh trăng êm dịu là lửa thái dương Càn đêm nên được diễn đạt bằng một trống thái dương âm hình trụ ống thái dương có eo âm.

Mặt Trăng- Mặt Trời Đêm là Thần Tổ của các tộc nòng âm, nước.

Đối chiếu với truyền thuyết cổ sử Việt ta thấy rõ trống Trăng Bali là trống biểu của một tộc Lạc Việt Hải Đảo dựa vào các chứng cứ sau đây:

-Trống dạng chầy có eo, đồng hồ cát, dóng sấm Pejeng đã có hình bóng thấy ở thuyền số 6 Càn Khôn trên trống Ngọc Lũ I. Thuyền này là thuyền biểu của một tộc Càn âm ngành Khôn Chấn-Đoài của ngành người Việt mặt trời bồ cắt thái dương sống trên thuyền nước, một thứ Lạc Việt Mặt Trời Nước Lạc Long Quân. Như thế trống Trăng Ba Li là trống biểu của một tộc Lạc Việt Hải Đảo không có gì là nghịch lý cả.

.Thần tổ Nước mặt trời hình trái tim ở thân trống Pejeng giống hệt các thần tổ Nước thấy trên rìu Đông Sơn và cả trong văn hóa đình làng Việt Nam thờ Thần Tổ Rồng Lạc Long Quân. Người Lạc Việt Pejeng thờ chung một thần tổ Nước, thờ chung mặt trời nước, mặt trời đêm Lạc Long Quân với Lạc Việt đất liền Việt Nam.

-Lạc Long Quân có một khuôn mặt là Ông Trăng như thế trống Trăng Bali cũng có thể là trống biểu của Thần Trăng Lạc Long Quân.

Rõ như ban ngày trống Pejeng là trống biểu của một đại tộc người sống trên sông biển, thuyền nước, Lạc Việt Nước, Dao Việt, Long Nhân, Long Hộ, Lạc Việt Hải Đảo Nam Dương.

Trống hơi muộn hay muộn thấy qua sự cọc cạch giữ hình thái tứ tượng ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng và chỉ có một hành Chấn ở vùng vận hành, tứ hành, nhất là trống có trang trí ở chân trống không còn theo qui ước là phải để trống không.

Trống khá cổ nên có hình dóng sấm theo nguyên dạng của đại tộc Đông Sơn nguyên thủy như thấy trên thuyền ở trống Ngọc Lũ I nên chưa bị ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ như các trống moko muộn sau này.

  1. TRỐNG PEJENG CỠ TRUNG.

-Trống Manuaba.

  

Trống Manuaba (nguồn A.J. B. Kempers Pl 3.0 3b)

Chỉ có hình vẽ mặt bên tang trống.  Mặt Thần Tổ Nước ở đây không có tai. Tóc buông xõa hình chữ S sóng nước xác thực người này thuộc ngành nước.

-Trống Pejeng cỡ trung, không rõ nguồn gốc.

Trống pejeng cỡ trung không rõ nguồn gốc (nguồn A.J. B. Kempers Pl 0.02, p.478.

 Giống trống Trăng Bali chỉ khác những điểm sau đây:

Khoảng không gian giữa các tia sáng cũng có các “con mắt nổi” nhưng không phân chia ra làm hai phần âm dương đen trắng có một nghĩa là Càn, dương, mặt trời và hai vòng tròn ngoài biến thành vành có những có những gạch song song ngắn giống như ở con mắt của mặt người dưới tang trống Trăng Bali. Điểm này khẳng định là hai vòng tròn ngoài OO mang ý nghĩa Khôn âm, thái âm nước. Gộp lại ta có mặt trời Càn không gian Khôn nhìn dưới dạng nhất thể là mặt trời càn khôn, vũ trụ, tạo hóa, thái cực và dưới dạng lưỡng cực là lưỡng nghi.

Những con mắt nổi ở phần còn lại vùng đất của mặt trống chỉ còn có 4. Số 4 diễn tả tứ tượng ứng với tứ phương.

Như thế ta có vỏ thượng thế hư vô, mặt trời-không gian thái cực, lưỡng nghi và tứ tượng nghĩa là trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh ngành nòng nước.

Ngoài ra là số 4 là số Cấn nằm giữa những hình thái sóng lượn uốn khúc Chấn. Ta có Chấn sấm đầu non Cấn. Ở đây mặt trống có mặt trời 8 nọc tia sáng thế gian đội lốt Khôn 0 tạo hóa và mặt trời không có người chim mang tính vũ trụ nên sấm Chấn Cấn ở đây mang tính tạo hóa. Như đã biết sấm có sức mạnh toàn năng trừ khử ác quỉ tà ma nên được dùng bùa che chở, trừ tà. Đây là một trong những lý do trống  được dùng như một vật phù hộ của tổ tiên để lại.

Đây là trống loại Pejeng mặt trời càn khôn thuộc nhóm trống thái âm ngành mặt trời nước Chấn.

-Trống Bebitra.

Trống tìm thấy ở Bebitra, Gianyar, trung bộ Bali, thuộc nhóm Pejeng, chỉ còn mặt và phần trên tang trống. Giống trống Trăng Bali chỉ khác những điểm sau đây:

Trống Bebitra (nguồn A.J. B. Kempers Pl 3.04a-b, p.498).

-Có thêm vòng tròn bao quanh đỉnh phần tia sáng hình nọc nhọn (^) như thế tia sáng xuyên qua vòng tròn này và phần phía ngoài vòng tròn tia sáng trở thành hình que.

-“Con mắt” ở đây viết theo chính thống là Chấn càn khôn vòng tròn kép có chấm nọc có một nghĩa là mặt trời nòng âm, thái âm ở tâm thay vì cục nổi với 3 vòng tròn ngoài như ở trống Trăng Bali. Các con mắt ở phần ngoài trống cũng viết theo chính thống. Điểm này khẳng định là tròng con mắt trên trống Trăng Bali mang ý nghĩa mặt trời nước càn khôn Chấn nhưng đã viết khác đi.

Các trống thuộc nhóm Pejeng ở đây đều có mặt trời càn khôn 8 tia sáng cho thấy đây là dạng mang ý nghĩa bao quát càn khôn, sinh tạo. Ngày nay mặt trời tám tia sáng được dùng nhiều nhất với nghĩa bao quát này.

  1. TRỐNG MOKO.               

Đây là trống Pejeng cỡ nhỏ thấy ở nhiều nơi ở Nam Dương nhưng đặc biệt nhất là ở đảo Alor.

Khi tiếp xúc với văn hóa Ấn giáo, Phật giáo, Hồi Giáo và cả Thiên Chúa giáo trống Pejeng phai tàn đi  rồi bị khai tử nhường chỗ cho trống moko ngày nay nẩy sinh ra. Trống moko là loại trống nhỏ bị ảnh hưởng văn hóa địa phương, Ấn giáo và các tôn giáo khác chỉ còn dùng theo ý nghĩa và chức vụ duy tục hơn như dùng làm tài vật, di sản, của hồi môn, thờ cúng… không còn dùng làm vật tùy táng nữa. Vì thế moko trở thành một sản phẩm thương mại và được ‘made in China’ một cách đại qui mô.

Ở trống moko, vũ trụ giáo của đại tộc Đông Sơn pha trộn với vũ trụ giáo của Ấn giáo và cũng có thể của Phật giáo của văn hóa Nam Dương.  

Vì vậy trống moko chia ra hai nhóm rất rõ: Nhóm sớm và nhóm muộn.

  1. Nhóm Sớm (early moko).

Nhóm moko sớm còn là trống biểu tượng của vũ trụ giáo như trống của đại tộc Đông Sơn tuy diễn đạt khác đi vì là trống muộn và làm ngoài lãnh thổ Việt Nam có thêm các nét văn hóa địa phương. Đây là nhóm chuyển tiếp giữ trống Pejeng của đại tộc Đông Sơn sang dạng moko thuần túy Nam Dương.

-Một trống moko sớm hiện để ở Viện bảo tàng Jakarta.

(nguồn A.J. B. Kempers

Trống hình chầy có thắt eo giống trống Trăng Bali.

Không có hình mặt trống.

Thân trống có hình thần tổ mặt trời nước Chấn nhưng ở đây biến thành hình trái tim, hình lá thiêng cụt chỏm đầu. Hai con mắt Chấn càn khôn viết theo dạng chính thống vòng tròn kép có chấm. Hoa văn gồm hai vành răng lược ở đây rất thưa tạo thành những ô chữ nhật kẹp ở giữa là vành những gạch xéo song song Khôn nước. Gộp lại ba vành là nước nọc âm thái dương, nước dương thái âm Chấn.

-Một mặt trống moko sớm (early moko).

(nguồn A.J. B. Kempers Pl 21.05, p.576).

Thượng Thế

.Vỏ thượng thế mỏng mang dương tính, cho biết mặt trời có một khuôn mặt thái dương Càn ở đây là Càn khôn vì mặt trời có 8 nọc tia sáng.

.Mặt trời có khối lửa hình đĩa tròn có hai nòng vòng tròn thái âm tạo thành một vành tròn. Đây là mặt trời có khối lửa thái âm, mặt trời nòng nước. Mặt trời có 8 nọc tia sáng phát ra từ vành tròn là mặt trời càn khôn sinh tạo, tạo hóa.

Lưu Ý

 Như đã nói ở trên phần lớn trống Pejeng moko có mặt trời càn khôn 8 nọc tia sáng mang nghĩa tổng quát là mặt trời sinh tạo, tạo hóa.

Nọc tia sáng ngắn mang âm tính. Ở đây cứ hai nọc tia sáng dính vào nhau thành chữ M ở một góc tư của mặt trời. Nhìn chung thấp thoáng giống hình sóng nước nhấp nhô. Chữ M gồm 2 nọc mũi mác ghép lại mang tính nọc thái dương.

.Không gian: khoảng không gian gữa các tia sáng hình chữ V kép có một nghĩa nước dương thái âm Chấn. Ở đây cũng có mặt trời thái dương nằm trong không gian Khôn Chấn (ăn khớp trăm phần trăm với mặt trời 8 tia sáng). Ta cũng có dạng lưỡng hợp thái dương thái âm đại vũ trụ mang tính sinh tạo.

.Chữ thập kép.

Hình chữ thập dấu cộng kép diễn tả tứ tượng ngành âm ứng với tứ phương.

Như vậy ta cũng có đủ trọn vẹn qui trình vũ trụ tạo sinh từ hư vô, vô cực xuống tứ tượng.

Trung Thế

Vùng đất trang trí hình sóng nước thể điệu hóa. Ở đây có hình chữ Y mang ý nghĩa lửa (phần nọc que chân chữ Y) và nước thái dương (phần đầu chữ V của Y) gộp lại có nghĩa là nước chuyển động, sóng nước Chấn và cũng có một ý nghĩa biểu tượng cho sấm mưa (do lửa nước liên tác). Bốn “con mắt” ở đây là vòng tròn kép thái âm, nước nằm trên đầu chữ thập chia mặt trống ra làm bốn. Bên ngoài bao bọc bởi vành hai vòng tròn đứt đoạn gồm những gạch nhỏ có thể mang ý nghĩa nước vận hành Chấn vì những gạch này giống với các gạch ở hình sóng cuộn Chữ Y.

Tiếp là vành có hai hành gạch nhỏ (dash) diễn tả dòng nước chẩy cũng diễn tả nước chuyển động Chấn.

Điểm này cho thấy rõ vùng đất ở đây thuộc tộc nước thái dương Chấn. Đây là trống càn khôn của đại tộc Chấn nước dương thái âm. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với các tộc ở hải đảo.

Những vành ngoài biên mặt trống gồm:

-Vành nọc mũi mác nổi mang nghĩa nọc, lửa, thái dương Càn và vành mũi mác chìm, âm, sóng nước nhọn đầu Chấn ở dạng lưỡng hợp đại vũ trụ

Ngoài cùng là vành các chấm nọc lửa cho biết trống thuộc ngành lửa, thái dương.

Tổng quát mặt trống cho thấy đây là trống thái âm càn khôn, tạo hóa ngàng nước dương thái âm Chấn  Trống đã thể điệu hóa và diễn đạt hoàn toàn phá lệ, phá qui ước truyền thống của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

-Một trống moko nhìn bên.

(nguồn: A.J. B. Kempers).

Điểm đáng nói nhất là ở đây có hình Mẹ Đời, người đàn bà nguyên thủy tạo sinh ra nhân loại. Mẹ Đời ở đây cũng ngồi ở vị thế sinh con hai tay đưa lên đầu. Bộ phận sinh dục nữ khắc rất rõ.

Điều này khẳng định thêm là các trống Pejeng và moko cũng mang ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo theo phía nòng âm với khuôn mặt thần tổ nữ còn được tôn vinh thấy rõ qua sự hiện diện của mẹ tổ là Mẹ Đời, Mẹ Sinh Tạo vì là những tộc nước. Cũng xin nhắc lại là trên một căn nhà nòng mặt trời  ở trống Sangeang, Nam Dương cũng có hình Mẹ Đời (Trống Sangeang Malakamau).

  1. Nhóm muộn.

Ở nhóm muộn, thuyết vũ trụ tạo sinh của trống Đông Sơn rất lu mờ hay không còn nữa và trống có các trang trí mang tính văn hóa địa phương hay của các tín ngưỡng khác, nhiều nhất là Ấn giáo.

Hoa văn Ấn giáo? Hay hình hoa sen Phật giáo? Hay hoa lá cành Hồi giáo? (nguồn: A.J. B. Kempers).

\

Trang trí hình mặt trời già (nguồn: antiques by the sea.com).

Nhìn theo diện chính thống mặt trời hình trái tim, lá đa là mặt trời nước. Mặt trời già diễn đạt bằng mặt cụ già râu dài là mặt trời lặn, lạc dương, mặt trời nước ứng với mặt trời Chấn Lạc Long Quân. Nhìn theo Thiên Chúa giáo trông giống hình Đấng Christ.

Xin nhắc lại người Aztec, Tania Caribe lầm tưởng các tay viễn chinh Tây Ban Nha râu dài là thần tổ mặt trời râu dài của họ trở về cứu giúp họ giống như con dân Việt cầu cứu bố già Lạc Long Quân về cứu giúp mỗi khi gặp hoạn nạn. 

 

Ta sẽ không ngạc nhiên thấy trống moko trang trí với các biểu tượng, hoa văn của văn hóa Ấn-Độ, của Ấn-Độ giáo và ngay cả Phật giáo, Hồi giáo Thiên Chúa giáo. Các gia đình người Nam Dương theo Hồi giáo ngày nay cũng tôn vinh trống moko.

  1. TRỐNG MINH KHÍ PEJENG. 

Trống Pejeng cũng có các dạng trống tí hon gọi là minh khí dùng làm vật tùy táng chôn theo người chết (xem hình ở trên).

Tổng Kết Nhóm Trống đặc thù Nam Dương.

Nhóm này có hai nhóm phụ Pejeng và moko

-Nhóm phụ Pejeng.

.Trống vẫn thuộc đại tộc Đông Sơn nhưng thuộc ngành nước hải đảo, Lạc Việt Hải Đảo.

Trống có hình dạng đặc biệt hình chầy có eo diễn đạt Càn ngành âm, nước là khuôn mặt đối ngược tính nòng nọc (âm dương) với trống Trụ Ống (thẳng) Tượng Lửa Dương Thái Dương Càn Nguyễn Xuân Quang II. Bằng chứng cụ thể là người Nam Dương gọi trống này là trống Trăng Bali và cho trống Pejeng liên hệ với mặt trăng. Như đã biết mặt trăng là một thứ mặt trời đêm, Càn đêm mang âm tính, Càn của dòng nòng nước (trăng nước).

Tôi cho rằng trống vẫn thuộc đại tộc Đông Sơn vì hình ảnh trống này thấy trên thuyền số 6 tộc Khôn Càn ở trống Ngọc Lũ I. Trống vẫn là trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn vì có mặt đáy để hở mang âm tính và mặt kín mang dương tính và về nội dung vẫn có mặt trời dương nằm trong không gian âm ở tâm trống.

-Ở những trống xưa, vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo còn được diễn tả ít nhiều theo phong cách của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

-Vì ở hải đảo nên trống loại Pejeng thường là trống dòng mặt trời nước, Khôn âm thái dương Chấn. Trống thường có mặt trời 8 nọc tia sáng càn khôn, vũ trụ mang tính tạo hóa diễn tả trọn vẹn ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh.

-Trống có hình dạng của dóng sấm đơn, vì thế trống mang trọn vẹn ý nghĩa của sấm. Trống vẫn mang trọn ý nghĩa của thuyết vũ trụ tạo sinh nhưng qua khuôn mặt chính mang ý nghĩa sinh tạo, tạo hóa của tiếng sấm khai thiên lập địa big bang.

Ta cũng thấy mặt trời càn khôn với lửa chớp Càn liên tác với nước Khôn Chấn tạo ra sấm. Trống có một khuôn mặt sấm tạo hóa, sinh tạo ăn khớp với khuôn mặt dòng Chấn và với hình dạng dóng sấm.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Lạc Long Quân Chấn là Vua Mặt Trời Nước của Lạc Việt có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa đội lốt mặt trời Thần Nông thái dương và cũng là ông thần Sấm có “nhà” ở đầu non Âu Cơ.

-Vì trống diễn tả vũ trụ tạo sinh chính và khuôn mặt  sấm tiềm ẩn nên trống Pejeng cổ không có các tượng cóc/ếch, không phải là trống mưa, trống cầu mưa làm ruộng lúa nước, trống ‘gạo nước’ như các học giả hiện nay cho là vậy.

-Đối chiếu với truyền thuyết cổ sử Việt ta thấy rõ trống Trăng Bali là trống biểu của một tộc Lạc Việt Hải Đảo Nam Dương dựa vào các chứng cứ sau đây:

-Trống dạng chầy có eo, đồng hồ cát, dóng sấm Pejeng đã có hình bóng thấy ở thuyền số 6 Càn Khôn trên trống Ngọc Lũ I. Thuyền này là thuyền biểu của một tộc Càn âm ngành Khôn Chấn-Đoài của ngành người Việt mặt trời bồ cắt thái dương sống trên thuyền nước, một thứ Lạc Việt Mặt Trời Nước Lạc Long Quân. Như thế trống Trăng Ba Li là trống biểu của một tộc Lạc Việt Hải Đảo khô có gì là nghịch lý cả.

.Thần tổ Nước mặt trời hình trái tim ở thân trống Pejeng giống hệt các thần tổ Nước thấy trên rìu Đông Sơn và cả trong văn hóa đình làng Việt Nam thờ Thần Tổ Rồng Lạc Long Quân. Người Lạc Việt Pejeng thờ chung một thần tổ Nước, thờ chung mặt trời nước, mặt trời đêm Lạc Long Quân với Lạc Việt đất liền Việt Nam.

-Lạc Long Quân có một khuôn mặt là Ông Trăng như thế trống Trăng Bali cũng có thể là trống biểu của Thần Trăng Lạc Long Quân.

Rõ như ban ngày trống Pejeng là trống biểu của một đại tộc người sống trên sông biển, thuyền nước, Lạc Việt Nước, Dao Việt, Long Nhân, Long Hộ, Lạc Việt Hải Đảo Nam Dương.

-Hầu hết là trống muộn. Vì thế các trống muộn này đã mất chính thống, không còn mang giáo thuyết vũ trụ giáo trọn vẹn và diễn đạt theo cách bình dân, phổ thông, nhiều khi sai ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que.

…..

-Nhóm phụ moko.

Nhóm Pejeng theo văn hóa Đông Sơn bị các văn hóa, tôn giáo khác khai tử nẩy sinh ra hậu thân là trống moko thấy nhiều ở đảo Alor. Trống Moko vẫng giữ thân xác của trống Pejeng nhưng nội dung, ý nghĩa và chức vụ đã hoàn toàn khác.

Trống moko chỉ còn dùng làm tài vật, di sản, của hồi môn, thờ cúng… không còn dùng làm vật tùy táng nữa. Vì thế moko trở thành một sản phẩm thương mại và được ‘made in China’ một cách đại qui mô.

Ngoài ra trống moko về hình dạng vốn có hình dóng sấm đơn cũng thay đổi trông rất giống trống dóng sấm của Ấn Độ vì bị ảnh hưởng của Ấn giáo.

Nội dung và trang trí trống moko nhiều khi gần như không còn sắc thái của trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: