NHÓM TRỐNG ĐẶC THÙ PEJENG, NAM DƯƠNG

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

NHÓM TRỐNG ĐẶC THÙ PEJENG, NAM

DƯƠNG

Nguyễn Xuân Quang

 

Trống đồng nòng nọc, âm dương của Nam Dương có hai loại: một loại có hình dạng giống các trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn tức là loại trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn ở Nam Dương. Một loại nữa có hình dạng đặc thù chỉ có ở Nam Dương. Đây là nhóm trống gọi chung là pejeng.

Sẽ có một bài viết riêng về các trống có hình dạng giống hệt các trống của đại tộc Đông Sơn ở Nam Dương.

Bài viết này nói về nhóm trống đặc thù  pejeng chỉ thấy ở Nam Dương không thấy ở chỗ nào khác.

Qua bài viết Các Nhóm Trống Theo Hình Dạng ta đã biết một cách tổng quát về các trống đặc biệt pejang này của Nam Dương.  Xin nhắc lại các điểm chính ở đây

Nhìn tổng quát trống pegeng có hình ống của loại trống Nguyễn Xuân Quang II (NXQ. II) hay trống Hình Trụ Ống, trống Tượng Lửa Dương, Lửa Vũ Trụ, trống Mặt Trời Lửa, trống Thái Dương, trống Càn, trống Cực Dương.

Trống chỉ khác là có eo thắt nhiều hay ít ở giữa thân trống. Vì thế đây là loại trống Nguyễn Xuân Quang II biến dạng đi. Sự biến dạng này vì bị ảnh hưởng của văn hóa địa phương (xem dưới).

 Trống loại Pejeng được chia ra: trống hết sức lớn là “Trăng” Pejeng, trống lớn là trống Manuaba, cỡ trung, trống nhỏ: loại mokos Alor và trống tí hon (Kempers, p.329).

 

 Trống pegeng khổng lồ Trăng Bali (nguồn: A.J. B. Kempers Pl 3.01d, e).

Trống moko (nguồn: A.J. B. Kempers Pl 2108).

 Trống hình trụ có thắt eo. Thân trống giống chiếc chầy có eo cầm hay hình giống chiếc đồng hồ nước, đồng hồ cát.

 

Chầy tay bằng gỗ có eo cầm (nguồn: metmuseum.org).

Tôi gọi trống này là trống chầy vì chầy cặp đôi với trống. Tổng quát trống chầy có hình trụ tròn, hình nọc mang nhiều dương tính, chầy là biểu tượng cho dương, nọc, bộ phận sinh dục nam (lật ngửa lên là cái cối hình ống, hình âm đạo) vì thế trống loại này có thể coi là loại mang dương tính tột độ nhưng vì có eo nên là một dạng biến thể của trống hình ống trụ tròn của một tộc ở hải đảo nghiêng về văn hóa nước.

Trống pejeng ruột thịt với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trống pejeng cũng là một loại trống của đại tộc Đông Sơn. Giống như trống của đại tộc Đông Sơn, trống pejeng cũng có mặt đáy để hở mang âm tính, mặt trống đặc mang dương tính và ở tâm trống có hình mặt trời mang dương tính nằm trong vòng tròn không gian mang âm tính.

Lưu Ý

Xin nhắc lại:

Điều kiện ắt có và đủ để một trống đồng là một trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn thì trống đó phải có mặt đáy để hở và ở tâm trống có mặt trời nằm trong vòng tròn không gian. 

Vì thế trống Pejeng cũng mang ý nghĩa  của vũ trụ thuyết giống như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Ta thấy rõ điểm này qua hình ảnh Mẹ Đời, Người Đàn Bà Nguyên Khởi khắc trên chiếc trống moko ở  hình trên.

Mặt trống Pejeng có phần giữa tâm trống cũng vẫn là hình chiếu của cõi trên Thượng Thế. Phần mặt trống còn lại ở, phía ngoài là vùng đất cõi nhân gian của Trung Thế. Tang trống là vùng  nước của Trung Thế. Phần dưới eo trống là Hạ Thế, cõi âm. Trụ trống hay eo trống là Trục Thế Giới thông thương ba cõi.

Trống cũng tìm thấy chôn trong các mộ và dùng trong các nghi thức tôn giáo, lễ hội, biểu tượng cho quyền lực, phú quí và dùng làm vật sính hôn…

Cũng giống như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn  các trống loại Pejeng có trang trí thay đổi theo Vũ Trụ Tạo Sinh  theo các ngành, đại tộc, tộc, tùy theo cỡ lớn nhỏ của trống.

 Tại sao trống pejeng, moko có hình chiếc chầy? Trống chầy pejeng nhất là loại nhỏ moko, thấy rất rõ mang hình ảnh của dóng sấm hay búa thiên lôi đơn (simple thunderbolt, vajra).

 Trống pejeng, moko có hình dạng của dóng sấm đơn.

Lưu Ý

Dóng sấm đơn có thể có hai dạng.

.Một dạng hình trụ ống thẳng như cây dóng (dùi) trống của ông Dóng Phù Đổng Thiên Vương hay hình nọc thẳng như gậy thiên lôi của thần Zeus Hy Lạp, cây gậy sắt của ông Dóng sau này. Lọai này mang dương tính trội. Đây là dạng trống Nguyễn Xuân Quang II.

.Một loại có eo. Loại này cho thấy âm tính còn có mặt. Đây là dạng trống pejeng, moko.Đây là dạng trống Nguyễn Xuân Quang II biến thể.

Loại trống thường bằng da có hai mặt kín thuộc loại có hình dóng sấm đơn như trống pejeng, moko này thường thấy ở Ấn Độ. Ví dụ trống của thần Shiva có hình dóng sấm đơn giống trống moko, pejeng nhưng là trống thường có hai mặt bịt kín.

Thần Shiva có một biểu tượng là chiếc trống hình dóng sấm có cùng hình dạng với trống moko.

 Thần Shiva là thần Sinh Tạo và Hủy Diệt cho thấy chiếc trống biểu tượng của thần hình dóng sấm mang ý nghĩa của Vũ Trụ giáo trong đó có ba khuôn mặt Sinh Tạo, Hủy Diệt và Tái Sinh.

Trống pejeng, moko lật ngược lên thành một loại cối giống hệt loại cối có hình dóng sấm của Ấn-Độ như  thấy khắc ở đền Lakshamana, Khajuraho, Ấn-Độ:

 

Hai người đang giã thuốc kích dục ở giữa một cảnh tình thuật (ảnh của tác giả). 

Ở đây ta cũng thấy rõ trống pejeng, moko là nhánh trống của đại tộc Đông Sơn ở Nam Dương bị ảnh hưởng của Ấn giáo nên mới có hình dóng sấm.

Như thế trống pejeng hình dóng sấm đơn có một khuôn mặt chính ở đây là biểu tượng cho sấm. Ta biết rõ là sấm do liên tác giữ lửa vũ trụ, bầu trời tức tia chớp liên tác với nước vũ trụ, bầu trời tức mưa.

Ta đã biết sấm mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Tiếng nổ big bang vào lúc khai thiên lập địa là một tiếng sấm. Hình chữ S trong đĩa thái cực theo duy dương ở nửa phần mặt trắng của đĩa là sóng lửa và theo duy âm ở nửa phần mặt đen, âm của đĩa là sóng nước (lưu ý ở dạng sóng là ở dạng chuyển động, vận hành, sinh tạo). Vì thế mà chữ S trong đĩa thái cực có một khuôn mặt sấm khai thiên lập địa.

Về hình thể, kiểm chứng với chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ta cũng thấy rất rõ điểm này. Nhìn tổng quát thì trống chầy hình dóng sấm có hình nọc, dương, lửa I đâm xuyên qua phần tròn nòng O ở giữa, tức nòng nọc, âm dương, nước lửa giao hòa sinh ra vũ trụ, muôn sinh. Nước lửa giao hòa ở cõi vũ trụ, cõi trời sinh ra sấm. Điểm này cũng cho thấy rõ sấm có một khuôn mặt sinh tạo trong Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

Đọc theo duy dương (vì trống có một nghĩa là đực) tức có tính dương trội, thì hai phần ống ở trên và dưới eo mang dương tính coi như hai nọc que I, I và phần eo tròn coi như là một nòng O. Như thế theo duy dương ta có IOI, tức quẻ Li, lửa thiếu dương. Đọc theo duy âm tức có tính âm trội, thì hai phần ống ở trên và dưới eo mang âm tính coi như hai nòng OO và phần eo coi như là một nọc que I. Như thế theo duy âm ta có OIO, tức quẻ Khảm, nước thiếu âm. Rõ như hai năm là mười trống chầy pejeng hình dóng sấm đơn có hai khuôn mặt dương âm lửa Li nước Khảm có thể tạo ra sấm.

Như thế trống pejeng, moko, mang ý nghĩa triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh giống như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Tuy nhiên cần phải phân biệt là triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của trống pejeng Nam Dương nhìn dưới lăng kính chính của dóng sấm tức có tính lửa vũ trụ mang tính chủ. Trong khi trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn hình Nấm Vũ Trụ mang trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh dưới nhìn lăng kính Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống), tức dưới góc cạnh trọn vẹn của triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh dựa trên nòng nọc, âm dương bao quát.

Lưu Ý

Ở đây một lần nữa qua nhóm trống pejeng, moko, này  xác thực trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc, âm dương mang trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, là trống biểu của Vũ Trụ giáo.  

 Như thế trống pejeng, moko cũng có đủ các loại trống diễn tả tất cả các khía cạnh, các khuôn mặt của Vũ Trụ Tạo Sinh và có tất cả các trống biểu tượng cho họ, ngành, đại tộc, tộc ứng với các khuôn mặt của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, dĩ nhiên là của đại tộc tượng lửa mang ảnh hưởng của văn hóa hải đảo và Ấn giáo.

 Cần lưu tâm

Trống loại này mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của tượng lửa hay tất cả các khuôn mặt của đại tộc lửa. 

Vì lửa thái dương mang nghĩa Càn, cực dương, lửa, vì thế,  trống hình trụ ống có ít nhất ba khuôn mặt của ngành nọc lửa: vũ trụ dương, cực dương và tượng lửa Càn của ngành dương. Cần phải dựa vào các chi tiết khác để phân định.

Điểm này cho thấy rõ trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn khi xuống Nam Dương trở thành trống pejeng, moko đã pha trộn với văn hóa Ấn giáo nên có hình dóng sấm. Ta sẽ không ngạc nhiên thấy trống pejeng, moko trang trí với các biểu tượng, hoa văn của văn hóa Ấn-Độ , của Ấn-Độ giáo.

Hoa văn văn hóa Ấn-Độ (nguồn: A.J. B. Kempers).

 Trống penjeng

 Tổng quát.

Đây là loại trống chầy hết sức lớn, thường gọi là trống Trăng Pejeng hay Trăng Bali, là chiếc trống đồng lớn nhất thế giới, hiện để tại miếu thờ Pura Panataran Sasih (Sasih có nghĩa là Trăng), ở làng Intaran-Pejeng, Gianyan, gần Ubud, miền trung Bali. Trống được dân bản xứ coi là vật rất linh thiêng. Ngày nay hiểu theo nghĩa duy thực (theo tiếng gọi của cái dạ dầy) nên cho trống là di vật của sự tế lễ trồng gạo nước. Trống cao 186.6 cm và đường kính mặt trống là 160 cm.

Có nhiều ttruyền thuyết dân gian Bali nói về trống. Một số cho đây là cái nhét lỗ tai subangs (ear-plugs) của mặt trăng. Đa số coi là asasih, mặt trăng. Truyền thuyết phổ thông nhất cho rằng trống Pejeng Moon là chiếc bánh xe của chiếc xe chở mặt trăng đi qua vòm trời đêm. Một đêm bánh xe rời ra và rơi xuống trái đất, nằm kẹt trên một cây lớn và vẫn chiếu sáng. Ánh sáng làm một tên trộm bực bội. Hắn trèo lên cây và tiểu vào bánh xe đó để làm tắt ánh sáng đi. Bánh xe nổ tung. Tên trộm chết tan xác. Bánh xe trăng rơi xuống đất bị vỡ mất một mảnh, nguội đi và được dân làng lưu giữ lại thờ phượng.

Về nguồn gốc đích thực của trống Pejeng Moon chưa biết rõ. Có tác giả cho là đặt làm từ đất Đông Sơn Việt Nam. Nhưng phần lớn cho là trống làm tại bản địa Bali vì dựa vào các mảnh khuôn đúc đồ đồng (không phải của trống này) tìm thấy ở Bali và lý luận là ở Bali đã có kỹ thuật đúc đồ đồng.

Giải Đọc Trống Pejeng Trăng Bali.

                    Ttrống Trăng Bali (nguồn: A.J. B. Kempersplate 3.01a).

Chỉ xin chú tâm nói tới các điểm chủ yếu.

Trống không còn làm theo bố cục qui ước chính thống của trống đồng nòng nọc, âm dương đại tộc Đông Sơn.

Mặt trống chờm ra ngoài tang trống rất nhiều, trông như cái mâm đồng để trên cái đế hình trụ có eo.

Mặt trống Trăng Bali (nguồn: A.J. B. Kempersplate 3.018).

.Thượng Thế

Vỏ hư vô hay vỏ không gian ở đây khá đậm nét mang âm tính.

Mặt trời

Ỡ đây mặt trời sáng chói có khối lửa thuộc dạng cầu gai. Mặt trời có 8 nọc tia sáng Khôn/Càn (số 8 là số Khôn tầng 2).

Lưu Ý

Xin nhắc lại, mặt trời 8 tia sáng là mặt trời phổ thông nhất thấy trong nhiều nền văn hóa cổ, trong các tôn giáo lớn bởi vì nó diễn tả mặt trời Càn Khôn, vũ trụ, tạo hóa, sinh tạo một cách bao quát.

Như thế trống này với mặt trời 8 tia sáng có thể mang một biểu tượng tổng quát cho Vũ Trụ Tạo Sinh hay cho một ngành.

Tia sáng hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) nhưng ngắn, không sắc cạnh, không nhọn, và khoảng hai phần ba phía đầu trở thành hình que, hình sợi dây (filiform) dài nên nọc tia sáng có hình chữ Y, hình chiếc phễu (funicular) hay cánh hoa kèn (trumpet flower) mang âm tính, êm dịu.

Đây là mặt trời nọc thái dương âm nam êm dịu, mặt trời chiều tà, mặt trời lặn, mặt trời dòng nước, mặt trời Chấn thái âm ngành thái dương.

Lưu ý

Xin nhắc lại ánh sáng hiệp (accord) theo tính nòng nọc, âm dương của mặt trời (mặt trời càng sáng, càng nóng càng mang dương tính thì nọc tia sáng càng cũng càng mang dương tính tức càng dài, càng nhọn, càng sắc, càng có nét thẳng, góc cạnh… Ngược lại mặt trời càng mang âm tính thì nọc tia sáng càng mang âm tính tức càng dịu, càng mát, càng ngắn, càng cùn, càng cong giống như đầu bút lông, cánh hoa như mặt trời hoa hương dương của Aztec, mặt trời hoa thị của Việt cổ, hoa cúc của thái dương thần nữ Amatearsu Nhật Bản).

 Không gian

Các khoảng không gian giữa tia sáng có các hình thái đồng nhất trông giống hình cánh hoa sen hay con mắt bao quanh bởi các hình sọc không gian, nước cong.

Chi tiết mộc góc trống.

Các khoảng không gian giữa tia sáng nhìn chung giống một đóa hoa sen tám cánh nở rộ. Các cánh nằm xen kẽ với các tia sáng hình hoa kèn, hình phễu. Nhìn tổng quát ta có cảm tưởng vũ trụ gồm hai chiếc hoa với các cánh hoa xen kẽ đan vào nhau, là hoa mặt trời nọc lửa âm chồng lên hoa sen không gian nước. Vũ trụ tạo ra cảm giác êm dịu. Mặt trời không gian êm dịu mang âm tính dòng nước.

Trong các khoảng không gian giữa tia sáng cánh hoa sen có một hình tròn như con mắt trong có một bán cầu nổi (hemispheral knob) hiện ra dưới mầu đậm mang âm tính, nửa còn lại mầu trắng mang dương tính tạo ra ấn tượng  đen trắng, thực hư, âm dương, khôn càn. Đây chính là hình ảnh đĩa nòng nọc, âm dương, một dạng của đĩa thái cực ở dạng tĩnh.

Núm nòng nọc, âm dương này được bao quanh bởi ba vòng tròn tức là ba nòng OOO tức quẻ Khôn. Như thế đĩa nòng nọc, âm dương, thái cực mang tính Khôn âm.

Phần còn lại của khoảng không gian giữa tia sáng có các sọc cong (curved hatches) diễn tả không gian âm, nước.

Nếu nhìn núm là một vật sáng và ba vòng tròn là ba vòng ánh sáng âm thì đây là mặt trăng nhất thể nòng nọc, âm dương. Không gian mặt trăng hôn phối với mặt trời theo càn khôn, vũ trụ. Với tính nòng nọc, âm dương, nhất thể  mặt trời không gian mặt trăng là vũ trụ sinh tạo, tạo hóa. Điểm này ăn khớp mặt trời càn khôn 8 tia sáng ở tâm trống.

Nhìn chung 8 con mắt ở các khoảng không gian giữa các tia sáng trông nổi bật khiến mặt trời bị lấn áp lu mờ đi. Rõ ràng đây là mặt trời êm dịu dòng nước.

Nói tóm lại thượng thế ở đây là vũ trụ mặt trời, mặt trăng càn khôn, sinh tạo của phía nòng Khôn âm, nước.

Điểm này ăn khớp với các tộc hải đảo.

Các vành giới hạn

Vành giới hạn là những vành trống không mang âm tính mang nghĩa không gian, bầu trời.

Hai vành vận hành.

Gồm có hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) nọc âm thái dương. Đặc biệt các hình thanh đường rầy hay thanh thang đứng (răng lược) gồm những sọc nhỏ tạo thành. Các sọc nhỏ là dạng biến thể của chấm nọc. Điểm này cho thấy rõ các thanh ngang đường rầy hay thanh thang đứng (răng lược) mang nghĩa nọc que của không gian tức nọc âm thái dương.   

Tóm lại phần chiếu của vũ trụ tạo hóa xuống tâm trống có đủ cả bọc, trứng hư vô, lưỡng nghi mặt trời-không gian,  hai vành vận hành mang âm tính với nước lửa Chấn càn khôn là khuôn mặt mang tính chủ.

.Trung Thế

-Vùng đất

Không có cảnh sinh hoạt nhân sinh, chỉ có một vành lớn sóng nước chuyển động nối kết bằng 16 các hình con mắt đĩa tròn nòng nọc, âm dương như ở các khoảng không gian giữa tia sáng. Số 16 là Khôn tầng 3, cõi nước trần gian. Ở bốn góc có bốn hình chữ V choãi ở đỉnh có con mắt đĩa tròn nòng nọc, âm dương mang nghĩa tứ hành nọc âm, lửa âm sinh tạo hướng ra tứ phương.

Các cuộn sóng có phụ đề bằng các gạch nhỏ, một dạng biển thể của chấm nọc mang dương tính. Các gạch nhỏ này cũng diễn tả dòng nước đang chẩy cho biết các sóng chữ S nằm này là sóng nước chuyển động mang dương tính.

Như thế vành các sóng chữ S nằm chuyển động mang dương tính lưỡng hợp Chấn đi cùng các đĩa nòng nọc, âm dương sinh tạo cho biết trống có một khuôn mặt nước dương Chấn sinh tạo của ngành nước. Chú ý ta thấy mặt trống trông rất êm dịu mang nhiều âm tính,  toàn cõi nhân nhân gian chỉ có hình sóng nước cho thấy đây là trống biểu của một đại tộc, một tộc thuộc dòng mặt trời nước.

Hai vành ở biên trống

Hai vành này giống hai vành ở vùng vận hành.

Như đã biết các vành ở biên trống cho biết trống thuộc về ngành nào. Với hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) này cho biết trống thuộc ngành nọc âm thái dương. Với các vành sóng nước thì trống thuộc ngành nọc nước âm thái dương với khuôn mặt Chấn mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Chấn có một khuôn mặt lửa nước, sấm mưa. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với trống có hình dạng của dóng sấm, búa thiên lôi.

Không có các tượng cóc/ếch, trống không phải là trống mưa, trống cầu mưa làm ruộng lúa nước mà trống diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, sinh tạo một cách phổ quát.

-Vùng Nước

Tang trống Trăng Bali (nguồn: A.J. B. Kempersplate 3.01 d).

Tang trống không có hình thuyền.

Phía trên cùng tang trống có 12 vòng tròn đường chỉ. Số   12 là Cấn hôn phối với Chấn. Kế đến là vành trống không. Rồi tới 5 vành hoa văn gồm: Vành 1, 2 và 3, 4 là những vành răng cưa thái dương kẹp ở giữa vành chữ S đứng có gạch ngang ở ngay phía trên các quai trống. Chữ S biểu tượng cho sóng và gạch ngang là nọc que (dương, lửa). Chữ S có gạch ngang diễn tả nước dương, nước lửa Chấn. Như thế 5 vành gộp lại là lửa nước chuyển động Chấn thái dương.

Tiếp đến là vành có hình 8 mặt người hay mặt nạ. Số 8 là số Khôn tầng 2 đi với mặt trời 8 nọc tia sáng. Như thế 8 mặt người này mang tinh sinh tạo, tạo hóa. Đây có thể là biểu tượng cho đấng tạo hóa hay một vị thần tổ đội lốt đấng tạo hóa.

Phần dưới tang trống Trăng Bali (nguồn: A.J. B. Kempersplate 3.01c).

Trước hết đây là vùng nước tang trống ta biết  chắc chắn ngay  các mặt người, mặt nạ này là biểu tượng của thần tổ hay người đại diện cho một tộc người thuộc đại tộc, ngành Nước.

clip_image008

Mặt thần, người hay mặt nạ thần linh trên trống Pejeng Manuaba, Bali, Nam Dương.

-Mặt hình trái tim, hình lá đa, lá da mang âm tính bậc ba vì có ba đường viền do từ nòng ba vòng tròn tạo thành. Mặt hình trái tim hay chiếc lá thiêng (lá đề) biểu tượng cho dòng nước dương. Có tác giả cho là có hình tam giác (ngược). Mặt người hình trái tim, hình lá đề, hình tam giác ngược là thể dương hóa của nòng O. Khuôn mặt này mang âm tính ngành dương. Thứ nhất là mặt lạ ở vùng nước tang trống nên theo chính thống thuộc ngành nước. Mặt hình trái tim, hình lá có cầm thuôn nhọn hình chữ V (vì thế có tác giả cho là mặt hình tam giác ngược). Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình chữ V, tam giác ngược có nghĩa ngược với chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) và tam giác thuận. Nòng O dương hóa mở ra thành chữ U, chữ V. Chữ V là dạng nòng O thái dương. Chữ V mang nghĩa nòng, âm, nữ, bộ phận sinh dục mang tính thái dương (Chữ Nòng Nọc). Trong The Davinci Code, Dan Brown gọi là chalice và cho là có nghĩa âm, nữ, mắn sinh, bộ phận sinh dục nữ. Như thế bộ mặt hình trái tim, chiếc lá, hình tam giác ngược, chữ V là khuôn mặt của người hay thần của tộc nước thái dương.

-Nhưng quan trọng nhất là con mắt. Con mắt gồm: tròng trắng có 3 vòng tròn. Một vòng tròn riêng rẽ còn hai vòng tròn tạo thành vành sóng nước bện thừng có các sọc soắn (hatched frame) trông như một phần của xoáy nước, nước cuộn, nước dương mang tính động tức nước dương Chấn. Như vậy tròng trắng có một nghĩa không gian O nước OO chuyển động sinh tạo. Con ngươi là chữ nọc chấm đặc có một khuôn mặt là mặt trời sinh tạo. Con mắt là không gian-mặt trời, vũ trụ bậc ba.

Ta thấy rõ đây là vị thần hay vị tổ nhánh nòng nước. Ngoài mặt lá đa, lá da và mắt nòng siêu nòng âm còn, âm tính còn thấy rõ thêm qua các yếu tố sau đây:

./Mũi hình chữ Y có chỏm chữ V có một nghĩa âm, nữ bộ phận sinh dục nữ, nước… mang tính nọc âm thái dương và mũi cũng trông giống như chiếc bình đựng nước mang âm tính nòng thái âm nước.

Nếu nhìn dưới diện nòng nọc, âm dương đề huề, mũi có hình chiếc bình biểu tượng cho nước có cổ cao hình nọc mang dương tính. Đây có thể mang hình ảnh của một hình bầu nậm cách điệu. Miệng bình loe ra có hai mấu nhọn hình chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang ý nghĩa nọc dương, lửa. Như vậy mũi cũng diễn tả nước dương, nước lửa liên hệ với Chấn.

Nếu nhìn theo diện duy dương ngự trị thì mũi có hình chiếc chầy mang tính âm dương hình ảnh của một dóng sấm, búa thiên lôi.

./Cằm có hình sóng nước.

./Hoa tai hình đĩa tròn có lỗ nòng chấm rỗng. Ngoài ra hai tai chẩy dài có lỗ đeo tai rất lớn. Đây là tục căng tai mà chúng ta còn thấy ở một vài tộc ở Tây Nguyên Việt Nam. Các tộc khác có tục cà răng nên chúng ta thường nói “cà răng căng tai”. Nên nhớ ở Tây Nguyên có nhiều tộc có gốc Nam Đảo đi lên hay liên hệ với văn hóa Nam Đảo, Đa Đảo. Mặt nạ căng tai này là một bằng chứng cụ thể của sự nối kết này. Hoa tai có hai hình đĩa tròn mang nghĩa, theo duy âm là không gian, vũ trụ âm, theo duy dương là mặt trời đĩa tròn nhánh âm.N

./Ở vị trí âm vùng nước trên tang trống.

Tóm lại mặt trái tim, lá đa, lá da diễn tả bằng từ nòng ba vòng tròn biến dạng và mắt bằng từ nòng ba vòng tròn dưới dạng đồng tâm diễn tả đấng tạo hóa hay thần tổ, người  đại diện của đại tộc nước dương Chấn liên hệ với thần sấm mưa, mặt trời tạo hóa nhánh nọc âm thái dương. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với các tộc nước hải đảo như Nam Dương, một thứ Lạc Việt hải đảo.

Cuối cùng vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ở dưới cùng tang trống xác thực cho biết chiếc mặt nạ hay mặt người thuộc ngành âm thái dương.

Hạ Thế

Đế trống có 5 vành giống như 5 vành ở ngay phía trên các quai trống. Trống này có trang trí ở đế trống nên không còn là trống làm theo qui ước của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Theo chính thống đế trống biểu tượng cho cõi âm tăm tối thường không có trang trí.

.Trục Thế Giới

Trụ trống hay eo trống có các vành ngang dưới chân và các băng thẳng đứng có những vành răng cưa kẹp giữa vành chữ S có gạch ngang Chấn lửa nước thái dương. Đặc biệt các hình răng cưa ở đây nhỏ, cao, cạnh hơi cong, liền nhau hơn trông giống như hình sóng nước nhọn đầu mang dương tính lức lửa nước Chấn.

Tóm lược

Tóm lại trống pejeng Trăng Bali này là loại trống đặc thù chỉ có ở Nam, không thấy ở chỗ nào khác. Trống có hình dóng sấm búa thiên lôi đơn.

.Nội dung và trang trí trống chỉ còn giữ lại được ít nhiều tính chất trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Đây là một loại trống của đại tộc Đông Sơn thuộc loại trống Nguyễn Xuân Quang II (NXQ. II) hay trống Hình Trụ Ống, trống Tượng Lửa Dương, Lửa Vũ Trụ, trống Mặt Trời Lửa, trống Thái Dương, trống Càn, trống Cực Dương. Trống chỉ khác là có eo thắt nhiều hay ít ở giữa thân trống. Vì thế đây là loại trống Nguyễn Xuân Quang II biến dạng đi. Sự biến dạng này là theo tính nòng nọc, âm dương của các tộc ngành nước dùng các trống này làm trống biểu.

Tống pejeng có hình dáng dóng sấm vì bị ảnh hưởng của Ấn giáo. Ta cũng thấy rất rõ tại sao trống pejeng Trăng Bali lại có mặt hay được làm ra ở đảo Bali. Bởi vì Bali là nơi bị ảnh hưởng rất sâu đậm của Ấn giáo.

.Trống là trống biểu của sấm mưa, lửa-nước vũ trụ, cõi trời Chấn, ăn khớp với hình dạng dóng sấm của trống và là trống biểu của một tộc nước Chấn.

Điểm này cũng giải thích tại sao trống được gọi là Trăng Bali. Theo duy âm, trăng đi với nước. Ta có từ đôi trăng nước. Trăng ảnh hưởng tới nước thủy triều và con nước. Theo duy dương trăng là mặt trời đêm. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, mặt trời hoàng hôn, mặt trời đêm, mặt trời nước Lạc Long Quân có một khuôn mặt là ông trăng. Câu ca dao

Ông trăng mà lấy bà giời,

Mồng năm dẫn cưới, mồng mười rước dâu.

Chỉ ông trăng Lạc Long Quân lấy bà giời Âu Cơ (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

.Trống Pejeng Trăng Bali có mặt trời 8 tia sáng càn khôn nên là trống có mang triết thuyết vũ trụ giáo, tín ngưỡng ở cõi tạo hóa một cách tổng quát, toàn diện vì thế được chế tạo lớn nhất so với các trống cùng loại.

.Trống là trống muộn diễn đạt không còn theo qui ước như ở đế trống có trang trí.

Đối chiếu với truyền thuyết cổ sử Việt là trống biểu của  tộc lửa nước thái dương dòng Chấn Lạc Long Quân Thần Nông thái dương.

 Trống Manuaba

  

Trống Manuaba (nguồn A.J. B. Kempers Pl 3.0 3b)

Chỉ có hình vẽ mặt bên tang trống.  Mặt người hay mặt nạ ở đây không có tai. Tóc buông xõa hình chữ S sóng nước xác thực người này thuộc ngành nước.

Trống pejeng cỡ trung, không rõ nguồn gốc.

Trống pejeng cỡ trung không rõ nguồn gốc (nguồn A.J. B. Kempers Pl 0.02, p.478.

 Giống trống Trăng Bali chỉ khác những điểm sau đây:

Khoảng không gian giữa các tia sáng cũng có các “con mắt nổi”  nhưng không phân chia ra làm hai phần âm dương đen trắng và hai vòng tròn ngoài biến thành vành có những có những gạch song song ngắn giống như ở con mắt của mặt người dưới tang trống Trăng Bali. Điểm này khẳng định là hai vòng tròn ngoài OO mang ý nghĩa thái âm nước.

Những con mắt nổi ở phần còn lại vùng đất của mặt trống chỉ còn có 4.

Đây là trống loại Pejeng mặt trời âm nam ngành nọc thái dương mang ý nghĩa mặt trời nước càn khôn Chấn.

Trống Bebitra

Trống tìm thấy ở Bebitra, Gianyar, trung bộ Bali, thuộc nhóm Pejeng, chỉ còn mặt và phần trên tang trống. Giống trống Trăng Bali chỉ khác những điểm sau đây:

Trống Bebitra (nguồn A.J. B. Kempers Pl 3.04a-b, p.498).

-Có thêm vòng tròn bao quanh đỉnh phần tia sáng hình nọc nhọn (^) như thế tia sáng xuyên qua vòng tròn này và phần phía ngoài vòng tròn tia sáng trở thành hình que.

-“con mắt” ở đây viết theo chính thống là Chấn càn khôn vòng tròn kép có chấm nọc ở tâm thay vì cục nổi với 3 vòng tròn ngoài như ở trống Trăng Bali. Các con mắt ở phần ngoài trống cũng viết theo chính thống. Điểm này khẳng định là tròng con mắt trên trống Trăng Bali mang ý nghĩa mặt trời nước càn khôn Chấn nhưng đã viết khác đi. Ở trống Trăng Bali diễn tả lưỡng hợp nòng nọc, âm dương (cả hai trống đều có mặt trời âm nam thuộc ngành mặt trời nọc dương thái dương.

Các trống thuộc nhóm Pejeng ở đây đều có mặt trời càn khôn 8 tia sáng cho thấy đây là dạng mang ý nghĩa bao quát càn khôn, sinh tạo. Ngày nay mặt trời tám tia sáng được dùng nhiều nhất với nghĩa bao quát này.

 TRỐNG MOKO                

Đây là trống pejeng cỡ nhỏ thấy nhiều ở đảo Alor.   

 -Một trống moko sớm (early moko) hiện để ở Viện bảo tàng Jakarta.

(nguồn A.J. B. Kempers

Không có hình mặt trống. Trống hình chầy có thắt eo giống trống Trăng Bali. Hình mặt người chi mặt trời nước Chấn ở đây biến thành hình trai tim, hình lá thiêng cụt chỏm đầu. Hai con mắt Chấn càn khôn viết theo dạng chính thống vòng tròn kép có chấm.  Hoa văn gồm hai vành răng lược ở đây rất thưa tạo thành những ô chữ nhật kẹp ở giữa là vành những gạch xéo song song Khôn nước. Gộp lại ba vành là nước không gian, nước thái âm.

-Một mặt trống moko sớm (early moko).

(nguồn A.J. B. Kempers Pl 21.05, p.576).

Thượng Thế

.Vỏ hư không, trứng vũ trụ là một vành trống không mang âm tính.

.Mặt trời đĩa tròn có hai vòng tròn tạo thành một vành tròn. Đây là mặt trời khối lửa âm, mặt trời nòng nước. Mặt trời có tám nọc tia sáng phát ra từ vành tròn là mặt trời càn khôn sinh tạo, tạo hóa.

Lưu Ý

 Như đã nói ở trên phần lớn trống pejeng moko có mặt trời càn khôn 8 nọc tia sáng mang nghĩa tổng quát là mặt trời sinh tạo, tạo hóa.

Nọc tia sáng ngắn mang âm tính. Ở đây cứ hai nọc tia sáng dính vào nhau thành chữ M ở một góc tư của mặt trời. Nhìn chung thấp thoáng giống hình sóng nước nhấp nhô.

.không gian: khoảng không gian gữa các tia sáng, ở phần lõm chữ V của chữ M có hình chữ V song song với phần lõm chữ V của chữ M cho thấy khoảng không gian giữa tia sáng có một khuôn mặt thái âm nước ngành thái dương. Khoảng giữa hai chữ M gồm có hai nọc que thẳng đứng ở hai bên chữ thập chia phần trong mặt trống ra làm bốn phần. Hai nọc có thể mang nghĩa lửa. Hai bên hai nọc que thẳng đứng, mỗi bên có hai que nọc song song vói cạnh chữ M cũng có thể mang cùng nghĩa. Như thế không gian ở đây là khôn âm thái dương Chấn. Ở đây cũng cho thấy đây là trống mặt trời Càn đi với không gian Khôn Chấn (ăn khớp trăm phần trăm với mặt trời 8 tia sáng).

Trung Thế

Vùng đất trang trí hình sóng nước thể điệu hóa. Ở đây có hình chữ Y mang ý nghĩa lửa nước, biểu tượng của sấm sét trong mưa. Bốn “con mắt” ở đây là vòng tròn kép thái âm, nước. nằm trên đầu chữ thập chia mặt trống ra làm bốn. Bên ngoài bao bọc bởi vành hai vòng tròn đứt đoạn gồm những gạch nho có thể mang ý nghĩa nước vận hành Chấn vì những gạch này giống với các gạch ở hình sóng cuộn Chữ Y.

Điểm này cho thấy rõ vùng đất ở đây thuộc tộc nước thái dương Chấn. Đây là trống của tộc Chấn nước thái dương mang tính chủ. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với các tộc ở hải đảo.

Những vành ngoài biên mặt trống gồm:

-vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang nghĩa nọc, lửa, thái dương. Đặc biệt các nọc mũi tên ở đây biến thành một thứ trang trí vì xẻ ở hai bên khiến trông như một thứ ngọn lửa hay một thứ lá nhọn cách điệu. Vành nọc mũi tên nổi mầu đậm này mang dương tính lửa thái dương làm nổi bật lên vành nọc mũi tên chìm mầu trắng nước thái dương. Nhìn dưới diện lưỡng hợp nòng nọc, âm dương ta có lưỡng hợp của hai vành lửa nước thái dương có một khuôn mặt lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương thái âm, càn khôn, tạo ra sấm sinh tạo.

Ngoài cùng là vành các chấm nọc lửa cho biết trống thuộc ngành lửa, thái dương.

Tổng quát mặt trống cho thấy đây là trống âm nam dòng nọc với khuôn mặt Chấn càn khôn. Trống đã thể điệu hóa và diễn đạt hoàn toàn phá lệ, phá qui ước truyền thống của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

 

-Một trống moko nhìn bên.


(nguồn: A.J. B. Kempers).

Điểm đàng nói nhất là ở đây có hình Mẹ Đời, người đàn bà nguyên thủy tạo sinh ra nhân loại. Mẹ Đời ở đây cũng ngồi ở vị thế sinh con hai tay đưa lên đầu. Bộ phận sinh dục nữ khắc rất rõ.

Điều này khẳng định thêm là các trống Pejeng và moko cũng mang ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, vũ trụ giáo theo phía nòng âm nhận mẹ tổ là Mẹ Đời, Mẹ Sinh Tạo giống như Việt Mường có Mẹ Đời là Dạ Dần sinh ra từ  cây Si, tức Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) .  Cũng xin nhắc lại là trên một căn nhà nàng, không gian ở một trống Sangeang, Nam Dương cũng có hình Mẹ Đời (xem bài viết về trống Đông Sơn ở Nam Dương).

Tổng Kết

Trống đồng ở Nam dương có hai loại: một loại có hình dạng giống các trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (ta có thể nói đây là trống Đông Sơn ở Nam Dương) và một loại có hình dạng đặc thù chỉ có ở Nam Dương là nhóm trống gọi chung là pejeng.

Nhóm trống đặc thù này có những đặc tính:

-Trống vẫn thuộc đại tộc Đông Sơn  bởi vì trống có  tính chất đặc thù của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là có mặt đáy để hở mang âm tính và mặt kín mang dương tính và về nội dung vẫn có mặt trời dương nằm trong không gian âm ở tâm trống. Như thế trống pejeng là trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn khi xuống Nam Dương biến đổi hình dạng đi vì ảnh hưởng văn hóa địa phương.

Điểm này cho thấy rõ trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn phát tán đi khắp nơi và ở mỗi nơi có mang thêm sắc thái văn hóa bản địa nên thay đổi hình dạng và các trang trí. Trống Nam Trung Hoa mang thêm sắc thái văn hóa Trung Hoa. Trống Shan mang thêm sắc thái văn hóa Myanmar. Trống Thái, Lào, Campuchia mang thêm sắc thái văn hóa Thái, Lào Campuchia.

-Trống có hình trụ ống có eo của dóng sấm đơn giống chiếc chầy tay, một biến thể của trống Nguyễn Xuân Quang II hình dóng sấm  trụ ống  thẳng vì ảnh hưởng văn hóa Ấn-Độ, Ấn giáo.

-Trống có hình dạng của dóng sấm đơn, vì thế trống mang trọn vẹn ý nghĩa của sấm. Trống vẫn mang trọn ý nghĩa của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh nhưng qua khuôn mặt chính mang ý nghĩa sinh tạo, tạo hóa của tiếng sấm khai thiên lập địa big bang.

-Ở những trống xưa, Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo còn được diễn tả ít nhiều theo phương cách của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

-Trống thường diễn tả ý nghĩa tổng quát của Vũ Trụ Tạo Sinh qua mặt trời 8 nọc tia sáng càn khôn, vũ trụ.

-Vì ở hải đảo nên trống loại pejeng thường là trống mặt trời nước, Khôn âm thái dương Chấn. Chấn là mặt trời nước của các tộc nước và cũng có một khuôn mặt sấm sinh tạo. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Lạc Long Quân Chấn là Vua Mặt Trời Nước của Lạc Việt và cũng là ông thần Sấm có “nhà” ở đầu non Âu Cơ.

-Vì trống diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo một cách phổ quát, sinh tạo, khuôn mặt sấm Chấn ở đây mang nghĩa sinh tạo, tạo hóa nên trống pejeng cổ không có các tượng cóc/ếch, không phải là trống mưa, trống cầu mưa làm ruộng lúa nước như các học giả hiện nay cho là vậy.

-Hầu hết là trống muộn. Như đã nói ở trên vì nhu cầu cưới xin quá nhiều nên các trống ở thế kỷ 19 thường được làm ở Trung Hoa và Java mang tới đảo Alor. Vì thế các trống muộn này đã mất chính thống, không còn mang giáo thuyết vũ trụ giáo trọn vẹn. Ngoài ra vì bị ảnh hưởng của văn hóa Ấn-Độ giáo nên hình dạng trống chầy hình dóng sấm lấy theo văn hóa Ấn-Độ giáo qua hình ảnh trống dóng sấm của thần Shiva. Do đó cũng thấy các cách trang trí và rất nhiều hoa văn cùa Ấn-Độ giáo trên trống moko. Chữ viết nòng nọc đã biến dạng, lai căng, “cải  tiến” một cách “bình dân học vụ”.

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: