SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA CỞ SỬ ĐẠI HÀN và CỔ SỬ VIỆT (2 và hết).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài). 

SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA CỔ SỬ ĐẠI HÀN

VÀ CỔ SỬ VIỆT.

(phần 2 và hết).

Nguyễn Xuân Quang

Bây giờ ta hãy so sánh văn hóa Đại Hàn với văn hóa Việt Nam qua Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên cốt lõi Chim-Rắn, Tiên Rồng của văn hóa Việt Nam.

Vũ Trụ Giáo

Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo và Dịch còn thấy rất nhiều trong văn hóa Đại Hàn hiện nay.

Như đã nói ở trên, truyền thuyết sáng thế Đại Hàn cũng giống Việt Nam (Bách Việt) quan niệm thoạt khởi đầu của Vũ Trụ Tạo Sinh là cõi hỗn mang sau đó mới mở ra trời đất giống như của Bách Việt như đã được ghi lại trong “lịch Rùa của Việt Thường”. Đây chính là quan niệm khởi đầu của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo.

 Hư Vô, Hư Không, Vô Cực

Vũ trụ khổi đầu từ hư không, hư vô, từ cái không có gì cả, nói theo Dịch là Vô Cực. Hư vô là khởi đầu của vòng sinh tử và cũng là điểm cuối cùng. Con người từ hư vô sinh ra khi chết lại trở về hư vô. Và tiếp tục như thế, một chu kỳ sinh tử khác, cứ tiếp nối vô cùng vô tận.

Hư vô, hư không, vô cực thường được diễn tả bằng một vòng tròn hay một vật hình bầu tròn. Thoạt đầu, khi còn ở trạng thái chưa định hình, còn trong trạng thái hỗn mang thường được điễn tả bằng vòng tròn đứt đoạn như thấy trong bát quái đồ. Sau đó khi đã định hình, được diễn tả bằng hình vòng tròn liền nét.

Vì thế các nền văn minh cổ, nhất là các nền văn minh theo Vũ Trụ giáo, quan niệm hư vô là cái túi, cái bọc, cái bầu tròn, cái dạ con của vũ trụ. Con người từ hư vô sinh ra (người Việt cổ sinh ra từ quả bầu), khi chết trở về với hư vô vì thế mà người chết được chôn trong các giỏ, các hố, các vật hình tròn như cái vò, chum tròn hay thuôn tròn hình dạ con.

Đại Hàn tiền cổ cũng có tục chôn người trong các hố tròn,

Trong các mộ cổ có mộ hình trụ tròn như các cấu trúc thờ tự kiva của thổ dân Tây Nam Mỹ châu như tộc Pueblo (ảnh của tác giả chụp trong Bảo Tàng Viện Quốc Gia Korea, Seoul).

chôn trong các chum, vò mang hình ảnh hư không, không gian, dạ con vũ trụ.

Quan tài chum (ảnh của tác giả chụp trong Bảo Tàng Viện Quốc Gia Korea, Seoul).

giống hệt như của người cổ Việt thấy ở các di chỉ khảo cổ ở Bắc Việt và ở Sa Huỳnh.

Quan tài chum ở Việt Nam (ảnh của tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Lịch Sử Việt Nam, Hà Nội).

Người chết cũng để ở tư thế ngồi bó gối như thai nhi ngồi trong bụng mẹ. Chết là trở về lòng Mẹ vũ trụ, trở về hư vô.

Người chết chôn ở tư thế ngồi bó gối như thai nhi ngồi trong bụng mẹ (ảnh của tác giả chụp trong Bảo Tàng Viện Quốc Gia Korea, Seoul).

Tư thế này thấy nhiều trong các tộc theo Vũ Trụ giáo như ở Việt Nam, Đa Đảo, Nam dương (liên hệ với Bách Việt)

Hình quang tuyến chụp một mộ chum với người chết ngồi ở tư thế thai nhi trong dạ con ở Đa Đảo.

và các thổ dân Mỹ châu (liên hệ với cổ Việt) với các xác ướp ngồi ở tư thế bó gối này…

Nhưng đặc biệt nhất cổ Triều Tiên còn giữ hình dáng chính thống của các ngôi mộ có nóc vòm tròn hư vô, hư không từ cổ thời cho tới ngày nay.

Các gò đống lăng mộ của các vị vua Triều Tiên có nóc hình cầu tròn hư vô.

Mộ gò đồng hình cầu tròn chôn các vua Triều Tiên tại Khánh Châu còn gọi là Kinh Châu Gyeongju, đế đô của Tân La, Silla (ảnh của tác giả).

Mộ Vua Cheonmachong đời Silla ở Khánh Châu (A  Field Guid to History Gyeongju, Korean Cultural and Historical Surveu Society, 2007).

Chúng ta cũng có các gò đống như Gò Đống Đa, Gò Đống Anh, Gò Đống Hoa, Gò Đống Lã…

Mộ nóc hình vòm trỏn hư vô này ngày nay còn thấy ngay cả trong các mộ của giới thường dân.

Mộ hình cầu tròn hư vô của dân dã Đại Hàn ngày nay (ảnh của tác giả).

Thái Cực, Trứng Vũ Trụ.

Hư Vô cực hóa thành Trứng Vũ Trụ, nói theo Dịch là Thái Cực. Giai đoạn này dưới dạng nhất thể, nòng nọc, âm dương  còn quyện vào nhau.

Ví dụ: Bọc trứng thế gian 100 langTổ Hùng mang hình ảnh bọc Trứng Vũ Trụ, Thái Cực, Nhất Thể.

Hình ảnh đĩa thái cực thấy rất nhiều trong văn hóa Đại Hàn từ cổ tới nay. Cổng chào có đĩa thái cực thường thấy ở những nơi linh thiêng, đền miếu, chùa chiền, cung vua.

Cổng chào có đĩa thái cực (ảnh của tác giả).

Và ngay cả  ở lá cờ hiện nay của Nam Hàn.

Cờ Nam Hàn với đĩa thái cực Âm (Um) Dương (Yang) vá bốn què Kiền (Geon), Khôn (Gon), Li (Ri) và Khảm (Gam).

Thái Cực hay Trứng Vũ Trụ cũng thường được diễn tả bằng quả bầu nậm có phần cổ hình nọc que biểu tượng cho nọc dương phần bầu đựng hình bầu tròn biểu tượng cho nòng âm. Bầu là cái bọc, cái túi, vật đựng có một khuôn mặt nhìn theo nòng nọc, âm dương đề huề, nhất thể là bầu tạo hóa, bầu vũ trụ, bầu trời, bầu sinh tạo, trứng vũ trụ, Thái Cực. Bầu biểu tượng cho nòng nọc, âm dương nhất thể giao hòa.

Bầu thấy rất nhiều trong văn hóa Việt. Ví dụ điển hình là người cổ Việt sinh ra từ quả bầu tức sinh ra từ bầu vũ trụ, bầu tạo hóa là người tiểu vũ trụ con của đại vũ trụ.  Như đã biết, người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có trang phục đầu hình bầu nậm.

 Trong văn hóa Đại Hàn, trái bầu nậm cũng mang ý nghĩa như trên. Ví dụ điển hình là trong lễ thành hôn cô dâu và chú rể có lễ uống rượu hợp hôn đựng trong hai cái “cốc” làm bằng vỏ của cùng một quả bầu nậm khô xẻ ra làm hai để nòng nọc, âm dương giao hòa.

 

  Cô dâu và chú rể trong lễ uống rượu hợp hôn. Rượu đựng trong hai cái “cốc” làm bằng vỏ của cùng một quả bầu nậm khô xẻ ra làm hai để nòng nọc, âm dương giao hòa (ảnh của tác giả).

Các ngôi mộ hay nóc mộ hình cầu tròn hư vô về sau  chuyển qua dạng hình trứng mang hình ảnh Trứng Vũ Trụ, thái cực. Mộ vòm hình trứng cũng thấy ở Đại Hàn như mộ vua Muryeong.

Vòm mộ vua Muryeong.

Các ngôi mộ cổ và hiện nay của dân dã Việt Nam cũng có nóc vòm hình trứng.

 Lưu ý

 Ngày nay các ngôi mộ ở Việt Nam không còn giữ theo Vũ Trụ giáo nên thường xây hình chữ nhật có nóc bằng.

Tại Hoa Kỳ, ngày nay các ngôi mộ không có mô cao khỏi mặt đất, không còn gọi là mồ đúng nghĩa tiếng Việt nữa (mồ có gốc từ mô đất) mà phẳng lì như mặt đất với mục đích để giữ mỹ quan. Tuy nhiên quan tài ở Mỹ có nóc hình vòm nên vẫn còn mang ý nghĩa người chết sẽ trở vể vỏm hư vô. Các quan tài Việt Nam có nóc bằng thì phải chôn trong các mồ có mô hình vòm quả trứng vũ trụ để hồn người chết trở về được với vòm hư vô, vũ trụ hầu có thể được tái sinh hay về miền vĩnh cửu. Trong khi đó người chết nằm trong các quan tài có nắp bằng và nóc mộ lại xây bằng nữa như hiện nay ở Việt Nam thì hồn người chết chỉ luẩn quẩn ở lại cõi bằng thế gian này thôi.

 Lưỡng Nghi

Thái cực phân cực tách ra thành hai cực nòng nọc, âm dương riêng rẽ. Ví dụ điển hình trong truyền thuyết và cổ sử Việt là bọc trứng thế gian 100 Lang Tổ Hùng phân ra 50 con dòng dương lửa theo mẹ Âu Cơ lên núi tức nhánh dương lửa Hùng Kì và 50 con dòng âm nước lửa theo cha Lạc Long Quân xuống biển tức nhánh âm nước dương lửa Hùng Lạc.

Hình bóng lưỡng nghi nòng nọc, âm dương còn thấy bàng bạc trong Văn hóa Đại Hàn như tục thờ Cây Ông Cây Bà, như tục thờ nõ nường như đã nói ở trên . Ở cổng các nơi thờ phượng, linh thiêng thường thấy hình tượng thần nõ nường, nam nữ,

Thần nõ và thần nường trước cửa nhà (ảnh của tác giả).

Thần nõ hình nọc, cọc, c….c có đầu hình qui đầu. Thần nường đầu hình chữ V.  Chữ V là chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chỉ địa mang âm tính có nghĩa ngược với nọc mũi tên chỉ thiên ^ mang dương tính (nọc, lửa, dương, bộ phận sinh dục nam…). Ta đã biết V có nghĩa là âm, nữ, bộ phận sinh dục nữ (Chữ Nòng Nọc). Dan Brown trong The Da Vinci Code gọi khoảng hở hình chữ V ở giữa Chúa và John trong bức tranh  The Last Supper là chalice (chalice hay calice, calyx  có một nghĩa là cốc, chén có chân) và cho  đây là biểu tượng cho phái nữ, đàn bà. Dan Brown cho chalice còn có thêm nghĩa nữa là tử cung phụ nữ. Biểu tượng này liên hệ với phái nữ và sự mắn sinh. Nhìn theo diện bên ngoài thì hình chữ V giống âm hộ, còn hiểu theo nghĩa chalice là chén là vật đựng thì có nghĩa là bộ phận sinh dục bên trong (Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc). Thần nường ở hình trên có đầu và thân trông cũng giống chiếc ly chalice, calice uống coctails.

Thần âm và thần dương ngự trị trong đời sống tâm linh của người Đại Hàn như trong lễ Đoan Ngọ Dano của Đại Hàn, các pháp sư tế lễ triệu thỉnh các vị thần phù trợ âm và dương về chữa bệnh thể xác lẫn tâm thần (Hồ Động Đình).

Trong văn học thì lưỡng nghi thường diễn tả bằng mặt trời, mặt trăng. Ví dụ trong bức tranh ở phía sau ngai vàng ở Cung Cảnh Phúc (Cảnh Phúc Cung Gyeongbokgung) ở Seoul của các vị vua  đời Triều Tiên.

 Ngai vua ở Cảnh Phúc Cung Gyeongbokgung, Seoul (ảnh của tác giả).

Bức tranh sau ngai vàng diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh có mặt trời là dương ở phía bên tay phải tức phía dương và mặt trăng, âm ở phía bên tay trái tức phía âm.

……

Tứ Tượng

Tứ tượng, Tứ hành là Bốn Nguyên Sinh Động Lực (Four Primary Forces) sinh tạo.

Quan niệm tứ tượng dương liên tác với tứ tượng âm sinh ra Tam Thế  trong có Trục Thế Giới  cũng thấy rõ trong văn hóa Đại Hàn. Trong bức tranh  biểu tượng cho vua ở trên có 5 ngọn núi. Ngọn ở giữa rất lớn là Núi Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế gian trong có Trục Thế Giới biểu tượng cho Đất thế gian, còn 4 ngọn núi nhỏ  là 4 trụ trời ở bốn phương trời ứng với  tứ tượng. Bức tranh diễn tả vua cai trị toàn cả cõi Đất thế gian. Ta thấy rất rõ lưỡng nghi trăng trời sinh ra  tứ tượng (bốn ngọn núi nhỏ). Ta cũng thấy số 5 là số Li, lửa đất thế gian biểu tượng cho cõi đất dương Trung Thế.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, chúng ta có Ngũ Lĩnh thuộc vùng đất tổ Bách Việt. Cũng có thể tổ Việt ví 5 ngọn núi đất tổ này như là cõi đất thế gian của loài người Man, Mán, Mường (có nghĩa là Người).

Hình ảnh Núi Trụ Thế gian và 4 cột trụ ở bốn phương trời ứng với  tứ tượng cũng thấy rõ ở kim tự tháp chôn vua chúa.

Ngôi tháp có bậc tam cấp dùng làm mộ của một vị vua Đại Hàn, có lẽ là vua Zangsu, xây vào thời Kokuryo ở Ziban (nay thuộc Trung Quốc) vào trước năm 500 Sau Tây Lịch (xem dưới)  có bốn dolmen gọi là thần gác mộ ‘Paechong’.

Cấu trúc Thần gác mộ hình dolmen.

(http://www.thelivingmoon.com/42stargate/03files/China_Pyramid.html).

Mộ hình kim tự tháp tương đương với ngọn núi lớn nhọn đỉnh biểu tượng cho Núi Trụ Thế Gian, Cõi Giữa đất thế gian  trong có Trục Thế Giới dùng chôn vua và bốn thần gác mộ hình dolmen biểu tượng cho bốn cột trụ thế gian, tứ trụ của triếu đình ứng với  tứ tượng.

Thành quách Đại Hàn có 4 cửa theo bốn hướng Đông Tây Nam Bắc ứng với tứ tượng. Cửa Nam cắm cờ Li ứng với tượng lửa đất thế gian.

Cờ quẻ Li cho biết là cửa thành phía Nam (ảnh của tác giả).

Đây là dựa vào một loại Dịch cho rằng phía nam là phía Lửa (phía xích đạo) ứng với quẻ Li lửa đất thế gian.

Văn hóa Đại Hàn có bốn mầu chính ứng với tứ tượng.

……..

Tứ tượng vận hành ở dạng sinh tạo năng động trở thành  tứ hành. Trên một tảng đá ở chùa Gameun (Gameunsa) có  một hình khắc được gọi là Biểu Tượng Tối Thượng (Supreme Ultimate Symbol):

Hình tứ hành ở dạng chong chóng (A  Field Guid to History Gyeongju, Korean Cultural and Historical Surveu Society, 2007).

Nhìn theo Vũ Trụ Tạo Sinh, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thì  hình này diễn tả tứ hành ở dạng chuyển động như chiếc chong chóng quay tít. Hình tứ hành có bốn nhánh (tay) chuyển vận gồm hai nhánh nổi là hai tượng dương và hai nhánh chìm là hai tượng âm. Hình này ruột thịt với chữ vạn có các tay cong tròn và hình tứ tượng, tứ hành của Aztec và các tộc xây Gò Đồng (Mound Builders) ở Bắc Mỹ Châu (Các tộc xây đắp gò đồng này giống như Đại Hàn, Việt Nam có văn hóa gò đống vì họ từ Đông Nam Á qua châu Mỹ):

      Tứ hành hay Bốn Nguyên Sinh Động Lực (Four Primary Forces)  của Aztec, Mound Builders (Jame Churchward, Children of Mu).

Ta biết chắc hình này là hình tứ hành vì đi cùng với các hình thái ‘hình học’ ở bên. Những hình thái ‘hình học’ ở đây chính là chuỗi các chữ viết nòng nọc vòng tròn-que nổi hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chỉ thiên có nghĩa là nọc dương sinh động (vì có mũi nhọn) xen kẽ với các nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chìm, âm hình chữ V như đã nói ở trên. Đây là nòng nọc, âm dương giao hòa ở dạng sinh động phía nọc dương. Nòng nọc, âm dương sinh động giao hòa sinh ra tứ tượng ở dạng sinh động tức  tứ hành được diễn tả bằng hình tứ hành dạng chong chóng. Cả khối đá này diễn tả quá trình sinh tạo vũ trụ từ lưỡng nghi tới tứ tượng, tứ hành.

Xin nhắc lại văn hóa Bách Việt chỉ có tứ hành và Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) còn ghi khắc lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, trong khi văn hóa Trung Hoa có ngũ hành (họ lấy Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống làm hành Mộc). Trong quá trình sinh tạo vạn vật, tứ hành đúng hơn ngũ hành. Điểm này được xác thực qua di truyền học. DNA chỉ gồm có 4 yếu tố CGAT gọi là Bốn Chữ của Đời Sống  (Four Letters of Life) hay Bốn Chữ của Đấng Tạo Hóa (Four Letters of Creator). Ở đây ta thấy Đại Hàn cũng chỉ có tứ hành như chúng ta.

Tam Thế

Trở lại bức tranh sau ngai vàng biểu tượng cho vua ở trên. Bức tranh này được dùng ở nhiều nơi vì được coi như là biểu tượng quốc gia Nam Hàn ví dụ tại một sân khấu lộ thiên ở dưới phố Seoul sau đây:

Bức tranh biểu tượng cho ngôi vua Đại Hàn ở một sân khấu lộ thiên ở Seoul (ảnh của tác giả).

Nếu nhìn tổng quát, như đã thấy, lưỡng nghi trăng trời ở bầu trời phía trên biểu tượng cho Thượng Thế; 5 ngọn núi biểu tượng cho Trung Thế và phần sóng nước ở dười biểu tượng cho Hạ Thế. Nếu chỉ nhìn theo Trung Thế cõi nhần gian thì phần trăng tròi và bầu trời xanh là cõi trời, 5 ngọn núi là cõi đất dương và vùng nước là cõi nước của cõi Trung Thế nhân gian.

Ở trên ta cũng đã biết Thượng đế Hwanin trao cho Hwangun ba cái ấn để cai trị Tam Thế hay Ba Cõi trần gian và Tam Thánh Đại Hàn gồm có Thượng Đế Hwanin ứng với nghĩa duy tục thế gian là Thiên, Hwangun ứng với Địa và Dangun ứng với Nhân. Thiên Địa Nhân là ba tiểu thế cõi nhân gian.

Ta thấy rõ Tam Thế hơn nữa ở bức tranh của Lee Sookja vẽ truyền thuyết sáng thế Đại Hàn năm 1999 sau khi đi thăm mộ Vua Tổ Dangun ở Bình Nhưỡng, Bắc Triều Tiên về.

Tranh sáng thế của Lee Sookja 1999.

Ta thấy rất rõ  bầu vũ trụ lưỡng nghi trăng trời biểu tượng cho Thượng Thế, Trung Thế  biểu tượng bằng  vòng dẫy núi trụ trời và biển hay hồ nước biểu tượng cho Hạ Thế. Người đàn ông là hoàng tử cõi trời Hwangun và người nữ là Nàng gấu, cha mẹ của vua tổ Đại Hàn Dangun.

Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống)

Tam Thế được biểu tượng bằng một cây gọi là Cây Tam Thế (CâyVũ Trụ, Cây Đời Sống). Như đã biết ở trên, trong truyền thuyết vua tổ Dangun , Cây Trầm (sandalwood) mang hình bóng Cây Đời Sống (Cây Vũ Trụ,Cây Tam Thế) .

Ngày nay người Đại Hàn vẫn còn giữ tục thờ Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) giống chúng ta thờ cây đa , cây si (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt). Ví dụ như ở làng Hà Hồi (Hahoe)

Thờ Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống) ở làng Hahoe (ảnh của tác giả).

Ở ngay chính giữa làng Hahoe có một cây Zelkova gọi là Tam Thần Điện thờ ba vị thần. Cây cũng được thờ như các âm thần của làng. Khắp nước Đại Hàn tin là có Tam Thần ở mọi nhà và được thờ ở gian chính nhưng ở làng Hahoe, cây này được thờ như Tam Thần. Vào ngày 15 tháng giêng âm lịch (rằm thượng nguyên) dân trong làng tổ chức tế lễ cầu an cho làng.

Hình bóng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) cũng thấy qua hình ảnh cây đèn đá hay chóp tháp  (stupa) giống như ở các nước khác thờ hay bị ảnh hưởng Vũ Trụ giáo trong đó có Việt Nam .  Trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn loại Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) có hình Cây Nấm Vũ Trụ (Nấm Tam Thế, Nấm Đời Sống) có cơ thể học giống cây đèn đá hay tháp chóp này (Cơ Thể Học Trống Đồng).

Chóp tháp giống cây đèn đá Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Chóp tháp này bị Nhật lấy đem về nước và mới đây Nhật trả lại cho Đại Hàn (ảnh của tác giả chụp tại Bụt Quốc Tự, Bulguksa, Khánh Châu).

Hình Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) cũng thấy qua các kiến trúc tại “mộ” chôn cuống nhau của các vị vua (xem dưới).`

Trục Vũ Trụ

Như đã nói ở trên Núi Đại Bạch có một khuôn mặt là Trục Thế Giới dùng làm con đường để Hwangun xuống cõi thế gian.

Một hình ảnh thấy rõ nhất là các mô, đống, tháp dùng chôn các tù trưởng, vua chúa có một khuôn mặt là Trục Thế Giới để hồn người chết về được cõi trời, Thượng Thế và cũng dùng để dâng cúng tế vật tới Tam Thế. Rõ nhất là các tháp có cấp bậc (như kim tự tháp của Ai Cập cổ). Các mộ, đống, tháp thấy nhiều trong các tộc tin theo Tam Thế của Vũ Trụ giáo và mặt Mặt Trời giáo. Triều Tiên cổ cũng có tháp tam cấp. Ví dụ như tháp có bậc tam cấp dùng làm mộ của một vị vua Đại Hàn, có lẽ là vua Zangsu, xây vào thời Kokuryo ở Ziban (nay thuộc Trung Quốc) vào trước năm 500 Sau Tây Lịch.

Tháp bậc tam cấp dùng làm mộ của một vị vua Đại Hàn, xây vào thời Kokuryo ở Ziban http://www.thelivingmoon.com/42stargate/03files/China_Pyramid.html

Mộ tái tạo của vua tổ Đại Hàn Dangun ở Bình Nhưỡng, Bắc Triều Tiên hiện nay cũng xây hình tháp có bậc cấp.

Mộ Dangun ở Bình Nhưỡng, bưu ảnh của Bắc Triều Tiên (nguồn san_sin.org).

Ta thấy rõ mộ hình kim tự tháp có cấp bậc có một khuôn mặt là Trục Thế Giới tức đường lên trời. Tháp bằng đầu cũng mang hình bóng của một cái đàn cao tế lễ ăn khớp với tên vua tổ Đại Hàn Dangun có một nghĩa là đàn dâng tế vật vì thế có tác giả gọi Dangun là ‘Vua Bàn Thờ’ (“Altar King’). Ngoài ra tháp bằng đầu cũng mang hình bóng Núi Trụ Thế Gian biểu tượng cho cõi bằng đất dương trần Trung Thế. Điểm này xác thực  thêm một lần nữa Vua Dangun là vị vua thế gian đầu tiên của Đại Hàn [như đã biết qua chữ viết nòng nọc vòng tròn-que nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) hình tam giác đỉnh chỉ thiên sau đầu  của Dangun ở các tượng Tam Thánh]. Dangun là hình bóng của Vua Tổ Thế Gian Kì Dương Vương đầu tiên của nước Xích Quỉ của chúng ta.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt,  ta có đền Tổ Hùng ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ trên núi Nghĩa Lĩnh.  Qua bài viết Cấu Trúc Đền Hùng Vương ta đã biết Nghĩa Lĩnh là Núi Ơn Nghĩa, Núi Tạ Ơn, Núi Dâng Cúng Tế Vật tới vũ trụ, trời đất, tới Tổ Hùng, con của vũ trụ, trời đất (Lĩnh là núi có đỉnh nhọn, núi dương, núi Hùng). Nghĩa Lĩnh có một khuôn mặt là Núi Tháp Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới, Núi Đàn Thờ Phượng, Núi “Bàn Thỡ” giống như tên của vua tổ Dangun Đại Hàn. Đền Tổ Hùng có ba đền Thượng, Trung và Hạ ứng với Tam Thế. Rõ ràng đền Tổ Hùng  mang hình bóng Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ , Cây Đời Sống), trong có Trục Thế Giới. Tại sao đền thờ Tổ Hùng ở Vĩnh Phú lại liên hệ với Vua tổ Đại Hàn Dangun tương đương với Kì Dương Vương? Xin thưa, Tổ Hùng  có hai nhánh: nhánh lửa, núi, chim phía Âu Cơ thuộc ngành nọc dương Kì Dương Vương vì thế mà đền Tổ Hùng ở ngọn núi nọc Nghĩa Lĩnh có một khuôn mặt là núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới, núi Đàn Thờ Phượng, Núi ‘Bàn Thờ’ tế vũ trụ, trời đất giống như nghĩa của tên vua tổ Dangun của Đại Hàn. Điểm này cho thấy Đại Hàn có thể có một khuôn mặt ngành nọc lửa, núi, chim mang tính trội. Đây là lý do tại sao các nhà khảo cổ Đại Hàn tìm thấy nhiều tượng chim chôn theo các vua chúa Đại Hàn.

Sinh tạo, tái sinh

 Hình ảnh sinh tạo trong Vũ Trụ giáo của Đại Hàn thấy dấu tích có từ thời Đá Mới trong các hình ảnh khắc, vẽ trên đá (petroglyphs).  Đó là sự tôn thờ sinh tạo, sinh đẻ qua hình các bà bầu.

Hình  người đàn bà mang thai vẽ trện đá (ảnh của tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Gyeongju).

Ở đây ta thấy người đàn bà có thai này giơ hai tay lên đầu mang hình bóng của Người Đàn Bà Nguyên Khởi, Mẹ Đời của loài người được sinh ra từ Cây Đời Sống (Cây Vũ Trụ ,Cây Tam Thế,) giống như Dạ Dần của Mường Việt. Ở chỗ khác có hình vẽ Mẹ Đời bụng to như đang mang thai ngồi dạng hai chân ra ở vị thế sinh con

Hình phụ nữ dang hai tay dạng chân giống như ở tư thế sinh con vẽ trên đá ở Uất Sơn (ảnh của tác giả chụp Bảo Tàng Viện Gyeongju).

Lưu ý

Đẻ ngồi còn ghi khắc lại trên vách đền thờ Kom Ombo ở Ai Cập cổ.

Đẻ ngồi. Chú ý phía sau lưng sản phụ có khắc hình các dụng cụ y khoa như dao kéo, muỗng nạo… (ảnh của tác giả).

Hình các thai phụ này giống như hình các phụ nữ mang thai khắc, vẽ ở bãi đá cổ Sapa, Bắc Việt Nam và ở vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây của Lạc Việt Tráng Zhuang (Đạo Mặt Trời của Bách Việt).

Tiện đây cũng xin nói thêm là trong các hình khắc, vẽ trên đá ở Uất Sơn này có những hình khắc, vẽ theo lối nhìn quang tuyến X (X ray) nghĩa là hình người vật thấy rõ cả xương, lục phủ ngũ tạng. Ví dụ hình con thú dưới đây thấy cả con con nằm trong bụng mẹ.

Kiểu vẽ quang tuyến X thấy trên các hình vẽ, khắc trên đá ở Uất Sơn (ảnh của tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Gyeongju).

Kiểu vẽ quang tuyến X này giống như thấy ở các thổ dân Úc châu và trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Đại Hàn có tục chôn lá nhau hay cuống nhau lúc một người sinh ra đời như nhiều tộc Bách Việt trong đó có Việt Nam. Hiện nay hiểu theo nghĩa duy tục thì chôn nhau, cuống nhau là để cho một người gắn liền với đất mình sinh ra, với nơi ‘chôn nhau cắt rốn’. Có khi cuống nhau được treo lên gác bếp cho khô để giữ lại hay nấu cháo cho các anh em cùng ăn để yêu thương nhau. Đặc biệt các vua triều đại Triều Tiên rất trọng tục chôn cuống nhau này. Các vua chọn cả một vùng hợp phong thủy làm nghĩa trang chôn cuống nhau của họ. Sau đây là một ngôi mộ (Đại Hàn hiện nay nói lịch sự gọi là đài tưởng niệm) chôn cuống nhau của vua Yejong ở Jeonju:

Một ngôi mộ chôn cuống nhau của một vị vua Triều Tiên ở Jeonju (ảnh của tác giả).

Ta thấy giữa mộ có một kiến trúc Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) giống như chiếc đèn đá. Điều này cho thấy ngoài các ý nghĩa duy tục kể trên, tục chôn nhau, chôn cuống nhau liên hệ với ý nghĩa sinh tạo của Vũ Trụ giáo.

Dịch

Tứ tượng dương và  tứ tượng âm hợp lại tạo thành bát quái. Dịch thấy rất rõ trong văn hóa Đại Hàn xưa và nay.

Ví dụ điển hình là lá cờ vua, vương kỳ,  của triều đại Triều Tiên có hình Hà đồ, Dịch đồ.

Vương kỳ của triều đại Triều Tiên. 

Lưu ý ở tâm cờ có ba vành nòng nọc, âm dương xen kẽ, ngược nhau diễn tả hôn phối, giao hòa, sinh tạo ở Tam Thế trong vũ trụ. Điểm này cho thấy ở mỗi thế có một quá trình sinh tạo riêng, đội lốt nhau, nhưng có tính nòng nọc, âm dương khác nhau. Ví dụ Hùng Vương lịch sử có một khuôn mặt tạo hóa, sinh tạo của bọc trứng thế gian đội lốt Đế Minh cõi trời tiểu vũ trụ (thái dương hệ), đội lốt Viêm Đế-Thần Nông cõi đại vũ trụ, tạo hóa.  Vì thế phãi hiễu văn hóa Việt và Đại Hàn dưới lăng kính trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch.

Lá cờ Nam Hàn hiện nay như đã thấy ở trên, có hình đĩa thái cực và có hai quẻ ngành nọc dương là Càn Li hôn phối với Khôn Khảm

Ta đã biết Đại Hàn cổ có một rễ lớn Lạc bộ trãi ruột thịt với Lạc bộ trãi Lạc Việt Lạc Long Quân thì hiển nhiên Lạc Dịch của Bách Việt cũng giữ một vai trò trọng yếu đối với văn hóa Dịch của Đại Hàn.

Kết luận

Tóm lại, qua sử miệng truyền thuyết, qua sử sách và qua Vũ Trụ giáo, Dịch ta thấy rất rõ cổ sử Đại Hàn ruột thịt với Cổ Sử Việt. Hiện nay các nhà văn hóa Đại Hàn giải thích cổ sử của họ chưa đúng mức. Phải đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt để giải thích cổ sử Đại Hàn mới trung thực và tới nơi tới chốn được. Phần lớn các nhà làm văn hóa Việt và Đại Hàn hiện nay chỉ nhìn theo một diện, thường là nhìn theo con mắt phải của thời xã hội phụ quyền cực đoan hiện nay nên đều là những người làm văn hóa… chột một mắt trái!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: