TRỐNG HÙNG KÌ NHÁNH NỌC ÂM THÁI DƯƠNG THÀNH VÂN.

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

TRỐNG TỘC HÙNG KÌ NHÁNH NỌC ÂM THÁI DƯƠNG THÀNH VÂN.

NHÓM TRỐNG MẶT TRỜI THIẾU ÂM.

Nguyễn Xuân Quang

Tổng quát

Chỉ xin nói chú tâm nói tới các điểm chủ yếu.

Trống Thành Vân tìm thấy ở xã Thành Vân, huyện Vĩnh Thạch, tỉnh Thanh Hóa năm 1979.

Trống Thành Vân cùng nhóm trống thiếu âm mặt trời 10 nọc tia sáng với Trống Làng Vạc II  nhưng thuộc nhánh nọc âm thái dương có vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống. Trống này khác với trống Làng Vạc II thuộc nhóm nọc dương thái dương  có vành nọc mũi mác nọc dương thái dương ở biên trống. 

Khảm OIO thường hiểu theo dịch thế gian là Nước.  Phân tích quẻ Khảm OIO ta thấy là Nòng (O) thiếu âm (IO). Ta đã biết thiếu âm là nguyên thể của khí gió. Vậy ở cõi nguyên tạo, tạo hóa Khảm là hơi nước sinh tạo âm, nước thiếu âm (khác với Chấn có một khuôn mặt là nước thái âm ngành thái dương).

Theo nòng nọc, âm dương hôn phối ở cõi thế gian ta có Khảm hôn phối với Li.

 

  Trống Thành Vân (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống Thành Vân có thân và đế cùng choãi ra hình tháp cụt là trống Tượng Đất Dương Nguyễn Xuân Quang V (Heger II) (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Đặc biệt về hình dạng trống khác trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, trống đồng âm dương Hoàng Hạ. Hai trống này có thân trống hay trục trống thẳng đứng diễn tả Trục Thế Giới vì hai trống diễn tả trọn vẹn quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh nên trống có hình Cây Nâm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) gồm đủ cả ba cõi, Tam Thế. Trong khi ở trống Thành Vân này thân trống hợp cùng với đế trống gần như là một đường thẳng và choãi rộng ra hình núi tháp cụt đầu diễn tả tượng Lửa đất dương thế gian Li. Về hình dạng, trống thuộc nhóm trống tượng đất dương Li Nguyễn Xuân Quang V (Heger II). Trống Thành Vân này có thân trống giống trống Làng Vạc II.

1.  Mặt trống

Nhìn tổng thể, trống rất “mát dịu”mang nhiều âm tính của ngành nọc âm thái dương. Các yếu tố trên mặt trống phần lớn mang âm tính.

  1. A.    Cõi Giữa, Thượng Thế.

.Mặt trời có 10 nọc tia sáng là mặt trời thái dương thuộc nhóm thiếu âm như đã nói ở trên.

.Vỏ hư không hay vỏ vũ trụ rất nhỏ nét mang dương tính, lửa.  Bên ngoài là vành giới hạn có chấm nọc lửa, dương. Trong khi đó các vành giới hạn còn lại là vành trống không mang âm tính ăn khớp với khuôn mặt thiếu âm của nhóm trống nhánh nọc âm thái dương. Sự cọc cạnh này cho thấy đây là trống rất muộn (C-I-3 theo các xếp loại của các nhà khảo cổ Việt Nam).

.Khoảng không gian có hình thái đơn đồng nhất cho biết trống chỉ diễn tả một tộc duy nhất (trong khi hình thái tứ tượng thường gọi lầm là ‘họa tiết lông công” diễn tả thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh trọn vẹn là trống biểu của họ, ngành, đại tộc). Ở đây có hình thái nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) > képcó sọc nghiêng đá diễn tả núi tháp Li.

.Ba vành tứ hành ở đây đã không còn giữ theo thứ tự và diễn tả theo qui ước chính thống như ở trống  Ngọc Lũ I.

Vành thứ nhất sát vỏ không gian-mặt gồm có chữ S diễn tả nước chuyển động Chấn. Hai bên có hai nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang nghĩa thái dương Càn.

Vành ở giữa là vành sóng mang nghĩa chuyển vận sinh tạo, đọc theo duy dương gồm vòng tròn có chấm có nghĩa là thiếu dương Lithấy rõ qua tiếp tuyến ở đây là tiếp tuyến dương có tiếp điểm ở trên vòng tròn đi xuống.

Vành ngoài cùng hình vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) có một nghĩa là nọc âm thái dương, ở đây là không gian dương tức Đoài vũ trụ khí gió (vỏ không gian có vành giới hạn nọc chấm đặc mang dương tính).

Như thế ba vành tứ hành ở đây diễn tả tứ tượng vận hành dưới dạng lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương Càn thái âm Chấn và tiểu vũ trụ thiếu dương Li và thiếu âm Đoài vũ trụ.

Ta thấy rõ có sự cọc cạnh ở đây là khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn, đồng nhất biểu tượng cho một tộc thì theo nguyên tắc ở vùng sinh tạo vận hành bao quanh mặt trời-không gian chỉ có một hay hai hành mà thôi. Ở đây có tứ tượng. Điểm này cho thấy trống này là một trống rất muộn.

B. Trung Thế.

Trung Thế là cõi giữa nhân thế gồm có vùng đất và vùng nước. Vùng đất là phần mặt trống còn lại và vùng nước là tang trống.

-Vùng Đất.

Vành sinh hoạt nhân sinh gồm những người chim mặt trời hết sức thể điệu hóa.

Người Hươu Mặt Trời và cò Li.

Những người nàycó con mắt dương chấm-vòng tròn có một nghĩa là thiếu dương Li. Nhưng mấu chốt quan trọng nhất là họ có cặp sừng trong có chấm nọc mang dương tính lửa, Li nhưng sừng có đường nét thon nhọn, không có nhánh nhọn mang âm tính. Như thế các hình người thể điệu hóa này là Người Hươu Mặt Trời  tức tộc Li ngành nọc âm thái dương. Tổng cộng có 28 người. Số 28 là số Cấn tầng 4 (4, 12, 20, 28). Cấn 4 là núi âm tức non, có Li số 5 là núi dương đại diện. Số người cũng cho biết khuôn mặt Li âm của ngành nọc âm thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là tộc Người Hươu Mặt Trời Xich Quỉ của đại tộc Li Hươn Mặt Trời Kì Dương Vương, Hươu Đực, Hươu Đục Lộc Tục.

.Vành chim có 10 con cò bay. Số 10 là số Khảm tầng hai hôn phối với Li thế gian. Như thế các con cò này có một khuôn mặt là cò Li.

Thật vậy, ta thấy rất rõ những con có này có thân vàcánh hình chữ T có một khuôn mặt biểu tượng núi trụ thế gian Li. Thân và đuôi hình núi tháp Li gồm hai nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) lồng vào nhau và có  chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc mũi mác có nghĩa là dương, lửa, có một khuôn mặt Li. Cò có con mắt dương vòng tròn-chấm có một nghĩa thiếu dương Li. Cổ có chữ nọc que mang nghĩa dương, lửa, núi trụ. Hai đầu cánh có hai mấu hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang nghĩa lửa, Li. Tóm lại những con cò này là cò Li.

.Những vành ngoài biên chỉ có hai vành thay vì 4 vành như ở các trống nọc âm thái dương khác. Điểm này cũng không làm theo qui ước chính thống vì trống đã rất muộn.

-Vành sóng vòng tròn-chấm có tiếp tuyến giống như vành ở vùng tứ hành có một nghĩa là là thiếu dương Li.

-Vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) nọc âm thái dương

Như thế hai vành ngoài biên diễn tả tộc Li nhánh nọc âm thái dương.

-Vùng Nước tang trống.

Có các trang trí là các vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) và vành chấm-vòng tròn n hư ở biên trống. Không có hình thuyền.

C. HẠ THẾ

Hạ Thế hay Cõi Âm là phần chân hay đế trống. Đế trống Thành Vân không có trang trí. Trống còn giữ được chính thống.

D. TRỤC THẾ GIỚI.

Như đã biết thân hay lưng (waist) trống ở những trống diễn tả thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh trọn vẹn hình Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I diển tả trục thế giới, trục vũ trụ kết nối, liên lạc giữa Tam Thế thì thân trống thẳng đứng trong khi thân trống choãi ra nhiều thường biểu tượng cho Núi trụ Thế Gian. Thân trống Thành Vân nối tiếp với để trống gần như thành một đường thẳng và choãi rộng ra có hình núi tháp cụt biểu tượng cho Núi Trụ Thế Gian ứng với tượng Li lửa đất thế gian giống như trống Làng Vạc II.

Thân trống có hình người hóa trang hình chim. Rất tiếc một phần bị vỡ mất và phần còn lại không có hình vẽ chi tiết.

Tổng Kết

Trống Thành Vân cùng nhóm trống thiếu âm mặt trời 10 nọc tia sáng với trống Làng Vạc II . Tuy nhiên trống Thành Vân thuộc nhánh nọc âm thái dương trong khi trống Làng Vạc II thuộc nhánh nọc dương thái dương.  

So sánh tính nòng nọc, âm dương với trống Làng Vạc II ta thấy rất rõ:

.Mặt trống Thành Vân rất “mát dịu” gần như hầu hết các yếu tố đều mang âm tính trong khi mặt trống Làng Vạc II tuyệt nhiên không có một yếu tố âm nào, trăm phần trăm mang dương tính cho thấy trống có một khuôn mặt dương cực độ.

.Trống có khoảng không gian giữa tia sáng  hình núi tháp có sọc nghiêng Li mang âm tính  trong khi trống Làng Vạc II có hình thái 5 nọc mũi mác chồng lên nhau diễn tả Li mang dương tính cực độ.

.Ngoại trừ vành giới hạn sát vỏ không gian là vành chấm nọc mang dương tình còn lại tất cả các vành giới hạn khác đều là vành trống không mang âm tính.

.Trống nầy có 3 vành tứ hành nhưng diễn tả không còn theo qui ước chính thống vì trống đã quá muộn trong khi trống Làng Vạc II không có các vành  tứ hành.

.Trống này có vành Người Hươu Mặt Trời hết sức thể điệu hóa nhưng mang âm tính (sừng có đường nét âm cong thon nhọn, không có nhánh nhọn). Có 28 người. Số 28 là số Cấn núi âm tầng 4 ( 4, 12, 20, 28). Những người này mang khuôn mặt Li âm.

.Trống này có vành 10 con cò bay Li thân và đuôi hình núi tháp có vách kép hai nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói. Tuy nhiên thành núi không có chấm nọc nên mang âm tính.

.Trống này chỉ có hai vành ngoài biên diễn tả tộc Li nhánh nọc âm thái dương trong khi ở trống Làng Vạc II hai vành nọc mũi mác diễn tả nọc dương thái dương.

Hai trống đều có thân trống choãi rộng ra hình núi tháp cụt Li.

Hai trống diễn tả đơn giản chỉ là trống biểu của một tộc Li nhưng thuộc về hai phía nòng nọc, âm dương của ngành mặt trời nọc thái dương.

Tóm lại trống Thành Vân là trống biểu của một tộc Li thuộc ngành nọc âm thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là trống của một tộc thuộc nhánh Li/Khảm Kì Dương Vương/Thần Long có khuôn mặt là mặt trời thiên đỉnh, trên đỉnh Núi Trụ Thế Gian, Núi Kỳ, sáng chói của ngành mặt trời thái dương Thần Nông-Viêm Đế. Tôi gọi nhánh này là Hùng Kì/ Kì Việt nhánh nọc âm thái dương Thần Nông (Lưu ý khuôn mặt Thần Nông thái dương là mặt trời không phải là Thần Nông thái âm là không gian).

Trống Thành Vân và trống Làng Vạc II là trống biểu của hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương nọc âm thái dương và nọc dương thái dương của ngànhmặt trời nọc thái dương

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: