PHÉP LẠ NAM HÀN (1)

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

PHÉP LẠ NAM HÀN

Sơ Lược Lịch Sử Nam Hàn.

(phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

 

Đã từ lâu, có nhiều dịp ghé thăm Đại Hàn (đúng ra là Nam Hàn) như trong các chuyến đi Nhật, Đài Loan, Singapore… nhưng chúng tôi cố hoãn lại, chờ một thời điểm tiện lợi nhất mới đi Đại Hàn. Sở dĩ chúng tôi quyết định như vậy vì Nam Hàn có nhiều điều học hỏi, cần nhiều thì giờ để phải nghiên cứu kỹ lưỡng hơn. Thứ nhất vì Nam Hàn có một cái rễ Bách Việt, Nam Hàn có nhiều nét văn hóa tương đồng với Việt Nam. Ta có thể dùng truyền thuyết và cổ sử Việt để hiểu và soi sáng văn hóa Đại Hàn và ngược lại ta có thể dùng văn hóa Đại Hàn để kiểm chứng những điểm văn hóa Việt Nam còn mù mờ hay tìm những mắt xích văn hóa Việt Nam đã mất.

Thứ nhì trong đầu óc tôi cứ lẩn quẩn với câu hỏi là tại sao Nam Hàn trong một thời gian rất ngắn đã vươn lên đứng trong nhóm hàng đầu châu Á và thế giới. CÁI GÌ? PHÉP LẠ nào đã giúp con gà tơi tả vì chiến tranh Triều Tiên trở thành con phượng hoàng cất cánh bay lên bầu trời thế giới.

Chúng tôi vạch định một chuyến viếng thăm riêng tư (private tour) đi vòng quanh Nam Hàn kể cả đảo Tế Châu (Teju) và chờ đợi tới một thời điểm thuận lợi.

Năm nay Nam Hàn có Triển Lãm Quốc Tế (trước đây thường gọi là Hội Chợ QuốcTế) International Expo tại Yeosu. Chúng tôi thường thích đi dự Triển Lãm Quốc Tế như đã dự Triển Lãm QuốcTế Hanover ở Đức năm 2000, Triển Lãm Quốc Tế Thượng Hải 2010. Tại Triển Lãm Quốc Tế, trước hết ta có dịp hiểu tường tận về văn hóa, kỹ thuật, đời sống nước chủ nhà sau đó là của các quốc gia khác trên thế giới có tham dự. Tại các Triển Lãm này, tôi tìm được nhiều tài liệu và hình ảnh của nhiều nền văn hóa thế giới có liên quan với văn hóa Bách Việt, tìm được nhiều dấu tích của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que mà tôi đã khám phá ra. Những tài liệu này sẽ củng cố, xác thực và thuyết phục những ai còn do dự hay nghi ngờ chưa tin.

Chúng tôi quyết định lên đường đến Nam Hàn vào lúc có International Expo Yeosu và cũng chọn vào dịp lễ Phật Đản tại Nam Hàn.

Bản đồ lộ trình.

 Đến phi trường Incheon ngắy 18 tháng năm 2012. Ba mươi hai năm trước ngày này 18-5-1980  sinh viên biểu tình đòi nhân quyền tại đại học Quang Châu Kwangju. Chính quyền đàn áp đẫm máu. Tuy nhiên mồi  lửa dân chủ này đã thắp sáng  được ngọn đuốc Dân Chủ Nhân Quyền Nam Hàn cho tới ngày nay còn rực cháy. Tại phi trường hôm nay cũng có biểu ngữ nhắc nhở tới ngày này. Trong khi đó ngọn lửa Thiên An Môn  Trung Quốc đã bị dập tắt hoàn toàn. Ngọn lửa Dân chủ của sinh viên, nhân dân Đại Hàn quả thật khác ngọn lửa của Trung Quốc và Việt Nam.

Chúng tôi được khuyên là nên dùng phương tiện chuyên chở công cộng để về khách sạn cho rẻ vì đi taxi bình thường khoảng 50 Mỹ kim nhưng gặp lúc kẹt xe có thể lên tới cả trăm Mỹ kim. Chúng tôi dùng hệ thống limosine KAL của hãng hàng không Korea giá chỉ hơn mười Mỹ Kim một người. Cái  cảm phục  đầu tiên về Nam Hàn là chuyến đi xe này. Tại bến limosine có nhân viên tay đeo găng trắng giống như các tài xế Nhật Bản ở Tokyo, gấp đôi người xuống cung kính chào chúng tôi, rỡ hành lý xuống, dán tên khách sạn nơi đến. Khi xe tới họ chuyển hành lý lên. Tài xế cũng cung kính nhã nhăn và đã có giấy cho biết rõ chúng tôi sẽ về đâu. Họ cung kính lễ độ làm việc tận tụy không phải có mục đích để được nhiều tiên hoa hồng, tiền tip. Ở Nam Hàn không có lệ cho tiền tip. Xe về ngay cửa  khách sạn Renaissance, Seoul, nơi chúng tôi ở.

Tôi bị lôi cuốn ngay bởi các cổ vật và giả cổ vật trưng bầy tại đại sảnh khách sạn. Trong đó  có  một cái đỉnh đồng  mạ vàng chim phượng, biểu tượng của vương quốc Bách Tế.

Đỉnh  đồng mạ vàng chim phượng, biểu tượng của vương quốc Bách Tế (ảnh của tác giả).

và hình mẫu  một ngôi chùa gỗ năm tầng kiểu thời Bách Tế.

Hình mẫu  một ngôi chùa gỗ năm tầng kiểu thời Bách Tế.

Trước hết để thấu hiểu cặn kẽ về những nét chính yếu của cổ sử Đại Hàn, ngay ngày hôm sau chúng tôi tới thăm Bảo Tàng Viện Quốc Gia Đại Hàn (National Museum of Korea) ở Hán Thành để đi dọc theo suốt chiều dài của lịch sử Đại Hàn từ thời thượng cổ tới gần đây. Chúng tôi có thói quen là đi tới bất cứ một quốc gia nào, cũng dành thì giờ ghé vào thăm Bảo Tàng Viện quốc gia của xứ đó.

Bảo Tàng Viện Quốc Gia Đại Hàn, Hán Thành.

Bảo Tàng Viện Quốc Gia Đại Hàn trưng bầy về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật.

Trong nhiều bảo vật quốc gia trưng bầy ở hành lang chính của Bảo Tàng Viện có ngôi tháp 10 tầng ở chùa Gyeongcheonsa.

Tháp 10 tầng ở chùa Gyeongcheonsa (Bảo vật quốc gia Đại Hàn số 86) xây dựng vào năm thứ 4 đời vua Chungmok, nước Goryeo. Năm 1907 bị lấy đưa về Nhật nhưng nhờ sự can thiệp của hai nhà báo Anh và Hoa Kỳ E. Bethell và H. Hulbert, tháp được trả lại cho Nam Hàn năm 1918.

Thời Thượng Cổ

Thời Đá Cũ cổ thạch được coi là giai đoạn văn hóa đầu tiên của loài người, khởi đầu từ việc làm ra dụng cụ bằng đá và dùng lửa. Các khai quật khảo cổ học cho thấy đã có sự hiện diện của con người sống ở bán đảo Đại Hàn từ giữa thời Pleistocene khoảng 780.000-130.000 năm trước đây, vào cuối thời Đồ Đá Cũ.

Đồ gốm Triều Tiên cổ nhất vào khoảng 7.000 TTL.

Những hình vẽ trên đá (petroglyphs) cho thấy cảnh sinh hoạt của con người tiền sử như săn bắn, đánh cá, lễ hội với người nhẩy múa với bộ phận sinh dục diễn tả cương cứng giống như các hình người mặt trời, thờ phượng mặt trời của Bách Việt.

Hình vẽ trên đá ở Uất Sơn (Ulsan) cho thấy cảnh sinh hoạt của con người tiền sử (ảnh của tác giả chụp trong Bảo Tàng Viện).

 

Thuyền tiền sử (ảnh của tác giả chụp trong Bảo Tàng Viện).

Thời Huyền Sử

Có một vài huyền thọai sáng thế trong huyền sử Đại Hàn. Theo truyền thuyết truyền khẩu thì thoạt đầu là thời hỗn mang, sau đó trời đất tách ra. Truyền thuyết được nhắc tới nhiều nhất là truyền thuyết của vị vua tổ huyền sử Tangun hay Dangun (Đàn Quân).

Theo sự tích Đàn Quân, Triều Tiên được thành lập năm 2333 TTL. Sẽ khai triển vào chi tiết trong bài Sự Tương Đồng Giữa Cổ Sử Việt với Đại Hàn.

Cổ Triều Tiên Gojoseon (2333-108 TTL).

Gojoseon, Cổ Triều Tiên có Go- là Cổ, Joseon, Triều Tiên coi như là quốc gia Triều Tiên đàu tiên.

Các tài liệu khảo cổ và sử sách cho biết có một vương triều ở bán đảo Triều Tiên đã đánh nhau với nhà Chu vào giữa thế kỷ thứ 7 và 4 TTL. Người Trung Hoa cổ gọi người Cổ Triều Tiên là rợ Đông Di (Hàn ngữ là Dongi, phiên âm Hán ngữ Dongyi) “Eastern Barbarians” (trong khi gọi Cổ Việt là Nam Man). Đông Di liên hệ với Bách Việt (xem dưới).

Hai nét khảo cổ học đặc thù của Gojoseon là các ngôi mộ đá dolmen dùng chôn cất các lãnh tụ, vua chúa  kiểu hình bàn (dolmen gốc từ ngôn ngữ Breton taol maen có nghĩa là “bàn đá”):

Mộ đá kiểu hình bàn (table type dolmen)  đặc thù thời Cổ Triều Tiên (chụp lại hình tại Bảo Tàng Viện).

và dao găm hình cây đàn mandolin.

Dao gằm hình đàn mandolin thời Cổ Triều Tiên (ảnh của tác giả).

Cho tới năm 108 TTL, lãnh thổ Đông Di Cổ Triều Tiên gồm vùng bao gồm cả phía trên Mãn châu, Mã châu và bán đảo Triều Tiên.

Lãnh thổ  Cổ Triều Tiên dựa vào các dấu tích khảo cảo là các mộ đá kiểu hình bàn (mầu đen) và các dao găm hình đàn mandolin (đốm đỏ) (nguồn buyeongjupark. wordpress.com).

Lúc đó gọi là Triều Tiên 朝鮮 thu gọn của tên Triều Nhật Tiên Minh. Hán Việt Triêu dương , (cũng thường viết là chiêu dương) là mặt trời ban mai, mặt trời mới mọc, phía đông. Đọc là triều dương có nghĩa là hướng về mặt trời. Như thế Triều Nhật Tiên Minh có nghĩa là “Mặt trời tinh mơ với ánh sáng đầu ngày”. Triều Tiên thường được dịch là “Buổi sáng Yên Bình” và chuyển qua Anh ngữ là “morning calm/sun”. Mặt trời tinh mơ êm dịu chưa có nọc tia sáng  là mặt trời  đĩa tròn phía nữ, thái dương thần nữ. Mặt trời Triều Tiên là mặt trời nữ, khi truyền sang Nhật thành thái dương thần nữ Ameraterasu. Các vị thái dương thần nữ này cùng đại tộc với thái dương thần nữ Âu Cơ của Việt Nam (xem dưới).

Về sau cũng có một triều đại lấy tên Triều Tiên (xem dưới) nên thời kỳ Triều Tiên cổ này gọi là Cổ Triều Tiên để phân biệt. Hiện nay tên Triều Tiên cũng được miền bắc Đại Hàn dùng làm tên chính thức cho nước Dân Chủ Nhân Dân Cộng Hòa Triều Tiên.

Từ Triều Tiên Joseon được cho là có liên hệ với tổ tiên của họ là người Jurchen. Các học giả khác lại cho là Triều Tiên dịch nghĩa từ tiếng cổ Triều Tiên Asadal, thủ đô của Gojoseon. Asa là gốc ngôn ngữ Altaic có nghĩa là “buổi sáng” và dal là “núi”. Rạng  sáng mới ló đầu núi là mặt trời mọc.

Liên Minh Tam Hàn

Tam Hàn và gaya năm 375 (Wikipedia).

Khi Cổ Triều Tiên suy tàn,  năm 108 TTL nhà Hán đánh chiếm và cai trị một phần đất Triều Tiên cho tới năm 313. Chỉ còn một nước tên là Thìn (Jin) rất giỏi trong việc làm đồ đồng và đồ sắt ở miền nam Triều Tiên còn thoát được khỏi ách thống trị của nhà Hán. Từ nước này một liên minh gồm ba thứ rợ (danh từ của Trung Hoa cổ) gọi là Tam Hàn nổi lên đánh đuổi được quân Hán vào năm 313 TTL. Hàn có gốc Hàn ngữ có nghĩa là “lãnh tụ” hay lớn, vĩ đại như hanabi (ông, grandfather), maripgan, vua (theo g=h, gan = han), có thể liên hệ với khan của Mông Cổ/Thổ Nhĩ Kỳ, với Việt ngữ khuấn (ông tổ), với anh ngữ king (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Xương tiên tri Oracle thời Tam Hàn (Mahan) thế kỷ thứ 3 Haenam, Jeollanam do (ảnh của tác giả).

Trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, ta đã biết cổ sử Trung Hoa chép về đời nhà Thương rợ Tam Hàn đã lập thành ba tiểu quốc tên là Câu Cú Lệ tức Cao Câu Ly (Koguryo) (sau này gọi tắt lại là Cao Ly), Bách Tế  (Paeche, Baekje) và Tân La (Silla).

Ngoài ra ở phía nam cũng còn có  một nước nhỏ Gaya.

Thời kỳ Tam Quốc, dựa trên tiến bộ về văn hóa đồ sắt, Goguryeo. Baekje, Silla và Gaya tiếp tục lớn mạnh cho tới thời Tam Quốc, lúc đó Gaya bị sáp nhập vào Silla. Tam Hàn ngự trị bán đảo Triều Tiên và Mãn châu. Trong thời kỳ này văn hóa nở rộ đáng kể với sự hòa nhập văn hóa bản địa với văn hóa ngoại quốc. Đặc biệt Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn trên sự thành hình và phát triển văn hóa.

Về sau Tam Hàn đánh lẫn nhau. Tân La có một hệ thống quân sự tinh nhuệ gọi là Hoa Lang (Hwarang) lại liên minh với nhà Đường thôn tính được Bách Tế và Câu Cao Ly tạo dựng nên nước Tân La thống nhất.

Vào cuối thế kỷ thứ 9 STL, Tân La Thống Nhất sụp đổ. Thời kỳ Hậu Tam Hàn Bắt Đầu. Nối tiếp theo sau là triều đại Goryeo dựa theo tên Goguryeo. Marco Polo chuyển Goryeo dang tiếng Ý là “Cauli”. Anh ngữ Corea là con đẻ của Cauli. Ngày nay thành Korea.

Triều Đại Cao Ly (918-13920).

Vương triều Cao Ly thay thế Tân La Thống Nhất. Trong thời kỳ này hệ thống quan lại, luật pháp được thiết lập và Phật giáo rất thịnh hành.

Năm 1238, Cao Ly bị Mông Cổ xâm chiếm cho tới năm 1340 mới thoát khỏi ách cai trị của Mông Cổ khi đế quốc này suy tàn.

 Triều Đại Triều Tiên Joseon (1392-1910).

Năm 1392 tướng Lý Thành Quế (Yi Seong Gye) lật đổ triều đại Cao Ly lập nên triều đại Triều Tiên. Ông là Thái Tổ (Taejo) của triều đại Triều Tiên còn gọi là Nhà Lý kéo dài năm trăm năm. Đặt tên nước là Đại Triều Tiên Quốc với ý định khôi phục lại nước Triều Tiên thời cổ tức Cổ Triều Tiên 4.000 năm trước. Thủ đô đặt tại Hán Thành (Hanseong) ngày nay gọi là Seoul.

Vương kỳ triều đại Triều Tiên 

 Lý Thái Tổ Lý Thành Quế

Thời gian đầu Lý Thành Quế đã phải đối phó với quá nhiều cuộc nổi loạn của giới quý tộc Quyền môn (Gwonmun) muốn khôi phục lại triều đại Cao Ly. Thời gian sau lại xẩy ra sự tranh giành kế vị của các hoàng tử do những phe phái khác nhau trong triều hỗ trợ.

Lý Thành Quế vốn theo nhà Minh, nên thời này Nho giáo cũng rất thịnh hành.

 Lý Thái Tông  (Taejong).

Thế tử Phương Viễn trở thành vua Thái Tông của triều đại Triều Tiên sau những cuộc tranh giành đẫm máu để được nối ngôi. Lý Thái Tổ từ chối không trao ngọc tỷ cho Thái Tông.

Để tỏ ra mình có thực tài, Thái Tông đã nỗ lực cải tổ đất nước. Ông xóa bỏ những đặc quyền của những quan chức cao cấp trong triều đình cũng như xóa bỏ quân đội riêng của các quý tộc phong kiến, sửa đổi hành chánh, luật pháp, thuế má, quyền sở hữu ruộng đất.

Ông đã thành công thâu tóm được tất cả quyền lực vào tay mình.

Thế Tông Đại Vương (Sejong the Great)

Tháng 8 năm 1418, hai tháng sau khi Thái Tông thoái vị, Thế Tông kế vị ngai vàng của cha mình.

Thế Tông ( Wikipedia).

Thế Tông tiễu trừ được hải tặc Nhật bản lấy được đảo Đối Mã (Tsushima).

Ở biên giới phía bắc, Thế Tông đã đánh đuổi được người Trung Hoa và Mãn Châu mở rộng thêm bờ cõi.

Dưới thời cai trị của Thế Tông, Triều Tiên có nhiều tiến bộ kỹ thuật về khọc học, kỹ thuật, nông nghiệp, văn học, y học cổ truyền…

Công trạng đáng ghi nhớ nhất của Thế Tông là phát minh ra hệ thống chữ viết Triều Tiên (gọi là Hangul) vào năm 1443. Hangul tuy viết theo hình vuông như chữ Hán nhưng lại ghép mẫu tự như chữ alphabet La Mã nên rất dễ học. Chỉ học vài tiếng khi ngồi trên máy bay mà tôi đã đọc được tên đường phố và các bảng hiệu.

Vì những thành công của ông, Thế Tông được tôn vinh là Đại Vương.
Vào cuối thập niên 1590, Nhật Bản xâm lăng Triều Tiên hai lần. Với sự trợ giúp của nhà Minh và tầu rùa bọc sắt của đô đốc Lý Thuấn Thuần (Yi Sunsin), quân Triều Tiên đã đánh đuổi được quân Nhật.

Hình mẫu  tầu rùa bọc sắt của Đô Đốc Lý Thuấn Thuần (ảnh của tác giả chụp tại Triển Lãm Quốc Tế Yeosu).

Nhà Thanh Đô Hộ

Sau chiến tranh, triều đại Triều Tiên ngày càng trở nên cô lập. Nhà Thanh thay thế nhà Minh ở Trung Hoa. Triều Tiên bị nhà Thanh đô hộ vào năm 1620-1630.

Giai Đoạn Cuối Của Triều Đại Triều Tiên

Sau những cuộc xâm lăng của nhà Thanh, các đời vua sau cùng của triều đại Triều Tiên trải qua một thời gian gần 200 năm trong hoà bình.

Quốc gia này đã khép kín với thế giới bên ngoài vào thời điểm này và được gọi là “Vương triều ẩn dật”.

Nhật Bản Xâm Chiếm

 Bắt đầu từ thập niên 1870, Triều Tiên đã bị Nhật Bản chi phối. Năm 1895, Hoàng Hậu Minh Thành (Myeongseong) bị Nhật ám sát. Sau chiến tranh Trung Nhật và Nga Nhật, năm 1910 Nhận Bản chính thức chiếm Triều Tiên, sát nhập Triều Tiên vào nước Nhật cho tới cuối Đệ Nhị Thế Chiến.

Đất Nước Chia Đôi.

Năm 1945 Nhật đầu hàng Mỹ. Liên Hiệp Quốc chia đôi Triều Tiên thành hai miền: miền Nam vĩ tuyến 38 do Mỹ cai quản và miền Bắc do Nga Sô. Sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi Đại Hàn, Bắc Triều Tiên được Trung Quốc hậu thuẫn đem quân tấn công miền Nam vào tháng 6 1950. Chiến tranh Triều Tiên chấm dứt vào năm 1953 với một hiệp ước đình chiến và ranh giới hai miền lại trở về vĩ tuyến 38. Không có hiệp ước hòa bình. Chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

.Tên Gọi Hiện Nay

Sau trận chiến Triều Tiên, miền bắc chọn giữ lại tên Triều Tiên Joseon (Choson). Bắc Triều Tiên và các nước “anh em” với Bắc Triều Tiên gọi miền Nam là Nam Triều Tiên.

Miền Nam lấy từ Hàn của Tam Hàn thêm chữ Đại vào thành Đại Hàn. Hàn có nghĩa là Lớn, Vĩ Đại. Miền Nam gọi mình là Nam Hàn và gọi miền Bắc là Bắc Hàn.

Tây phương dùng từ Korea do từ Koryo (Cao Ly) có gốc từ Koguryo (Cao Câu Ly), tên triều đại phía bắc đã thống nhất ba vương quốc Koguryo Cậu Cú Lệ hay Cao Câu Ly, Paekche (Bách Tế) và Silla (Tân La).

Ngoài ra tên Cao Ly có nghĩa là Cao Đẹp (Ly biến âm với Lệ là đẹp như mỹ lệ) gốc từ Cao Câu Ly đôi khi vẫn còn  dùng như sâm Cao Ly.

(còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: