NHÓM TRỐNG MẶT TRỜI THÁI ÂM:  HOÀNG HẠ, TRỐNG BIỂU NGÀNH MẶT TRỜI THÁI ÂM, CHẤN THẾ GIAN (3 và hết).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

*Đang nhuận sắc lại.*

NHÓM TRỐNG MẶT TRỜI THÁI ÂM.

 HOÀNG HẠ, TRỐNG BIỂU NGÀNH MẶT TRỜI THÁI ÂM, CHẤN THẾ GIAN.  

(phần 3)

Nguyễn Xuân Quang

 2. Vùng Nước Tang Trống.

Cấu trúc và trang trí giống như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Chủ thể cũng là 6 chiếc thuyền phán xét linh hồn. Dĩ nhiên những thuyền này khác tính nòng nọc, âm dương với các thuyền trống Ngọc Lũ I vì trống Hoàng Hạ thuộc nhánh thái âm Khôn còn trống Ngọc Lũ I thuộc nhành thái dương Càn.

Tôi chỉ xin nêu ra các chi tiết khác biệt hữu ích.

Như đã biết ở trống Ngọc Lũ I là 6 con thuyền gồm có hai con thuyền 1 và 2 dẫn đầu biểu tượng cho hai phía nòng nọc, âm dương của toàn họ thái dương hay theo duy âm là biểu tượng cho riêng nhánh nòng nước thái dương.

Bốn thuyền còn lại biểu tượng cho cho 4 tộc ứng với tứ tượng.

Ta suy ra 6 con thuyền ở trống Hoàng Hạ này, theo tổng quát cũng như thế.

Sau đây là hình vẽ 6 con thuyền ở trống Hoàng Hạ trong quyển Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hiện Ở Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên.

Thứ tự các con thuyền trên trống Hoàng Hạ theo nguồn Nguyễn Văn Huyên.

Để dễ theo dõi và dễ hiểu tôi sắp xếp lại theo chuyển động vòng tròn như trên vai trống.

Cũng giống như ở trống Ngọc Lũ I trong 6 thuyền có hai thuyền có cảnh phán xét 2 linh hồn còn lại 4 thuyền chỉ có một linh hồn. Ta đã biết thuyền có hai linh hồn là thuyền đại biểu của đại tộc gồm hai tộc còn thuyền có một linh hồn là thuyền biểu tượng cho một tộc ứng với tứ tượng. Vì thế tôi sắp xếp lại theo chuyển động vòng tròn trên tang trống. Ta thấy thuyền 1 và thuyền 6 theo thứ tự của Nguyễn Văn Huyên có hai linh hồn vì thế tôi đưa thuyền số 6 lên trước thuyền số 1 để hai thuyền này ở vị trí là hai thuyền đại diện cho đại tộc tức hai thuyền đi sau cùng. Bây giờ thuyền số 6 của Nguyễn Văn Huyên) trở thành thuyền số 1 theo thứ tự của tôi và thuyền số 1 của Nguyễn Văn Huyên trở thành thuyền số 2 theo thứ tự của tôi (đọc theo chiều ngược kim đồng hồ).

 Thuyền xếp theo thứ tự của Nguyễn Xuân Quang.

Như thế ta thấy hai thuyền biểu tượng cho hai đại tộc ở trống Ngọc Lũ I ở vị trí dẫn đầu tức bên phải, dương trong khi ở trống Hoàng Hạ hai thuyền này đi sau, ở phía bên trái, âm. Rõ ràng trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là trống biểu phía lửa thái dương, Càn của nhánh nọc dương trái ngược với trống Hoàng Hạ là trống biểu phía nước âm Khôn ngành thái dương.

Mấu chốt nhận diện 6 con thuyền trên trống Hoàng Hạ.

Như đã biết :

-Thuyền số 1 ở trống Ngọc Lũ I là thuyền biểu tượng Chấn-Đoài vũ trụ khí gió. Ta suy ra ở trống Hoàng Hạ này thuyền số 1 là thuyền Càn-Li để có lưỡng hợp của hai trống thái dương và thái âm ngành mặt trời thái dương.  

-Thuyền số 2  ở trống Ngọc Lũ I là thuyền biểu tượng Càn-Li. Ta suy ra ở trống Hoàng Hạ này thuyền số 2 là thuyền Chấ-Đoài vũ trụ khí gió.

-Thuyền số 3 ở trống Ngọc Lũ I là thuyền tộc Li-Khảm. Ta suy ra ở trống Hoàng Hạ này thuyền số 3 là thuyền tộc Đoài vũ trụ khí gió để có lưỡng hợp thiếu dương Li thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió cõi tiểu vũ trụ nhân sinh.  

-Thuyền số 4 ở trống Ngọc Lũ I là thuyền Đoài-cấn. Ta suy ra ở trống Hoàng Hạ này thuyền sối 4 là thuyền Li-Khàm để có lưỡng hợp thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió  với thiếu dương Li.

-Thuyền số 5 ở trống Ngọc Lũ I là thuyền tộc Chấn-Tốn. Ta suy ra ở trống Hoàng Hạ này thuyền sối 5 là thuyền tộc Càn-khôn có lưỡng hợp thái âm Chấn với thái dương Càn.

-Thuyền số 6 ở trống Ngọc Lũ I là thuyền tộc Càn-Khôn. Ta suy ra ở trống Hoàng Hạ này thuyền sối 6 là thuyền tộc Chấn-Tốn để có lưỡng hợp thái dương Càn với thái âm Chấn.     

Bây giờ ta đi vào chi tiết.

.Thuyền số 1 (sau cùng) biểu tượng phía dương hai đại tộc Càn-Li.

Mấu chốt nhận diện danh tính thuyến:

ở trống Ngọc Lũ I ta dựa vào khoảng không gian dưới gầm cầu tam thế và tay chèo. Nhưng ở trống này vì là trống muộn hơn trống Ngọc Lũ I có nhiều phần dưới gầm cầu thường để trống không có thể bị mòn mất và tay chèo không có hình đầu chim, có cái bị mòn mờ, vì thế tôi chọn trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) làm mấu chốt để nhận diện danh tính các con thuyền.

Thuyền số 1 sau cùng theo Nguyễn Xuân Quang biểu tượng cho hai đại tộc dương Càn-Li của phía nòng âm.

Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) ở giữa mặt trống có từ chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời, thái dương, Càn và thiếu dương Li (đọc theo chiều âm là vòng tròn O âm chấm nọc dương, tức âm của dương là thiếu dương). Trên trống có cắm phướn đầu chim có con mắt dương chấm-vòng tròn Càn Li, mỏ thẳng đứng hình trụ cột mang tính trụ đất Li (Li mang tính chủ). Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) biểu tượng Càn Li.

. Thuyền.

Đầu thuyền rắn nước có sừng, hàm dưới có hai thanh nọc cong trong có nọc chấm đặc dương, thái dương nhìn chung có một nghĩa thái dương, nhìn riêng giống sừng hươu Li. Thuyền mang tính Càn-Li vì ở hàm dưới mang âm tính nên là Càn Li của phía âm, nước. Thân thuyền có hình thang trống rỗng. Hình thang có một nghĩa đất Li (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và Biểu Tượng Hình Học).

Thuyền này là thuyền Càn Li và Li mang tính chủ.

Như đã nói ở trên thuyền có hai cảnh phát xét linh hồn là thuyền biểu tượng cho hai đại tộc.

.Người gác cổng trời  thuyền này và thuyền số 2 tay vừa cầm lao dương vừa cầm mộc âm biểu tượng cho hai đại tộc. Trong khi đó 4 thuyền còn lại người này chỉ cầm mộc chữ D kép đầu nhọn thái dương chỉ biểu tượng cho một tộc nhánh nước âm thái dương. Dưới gầm đài cầu trống không Khôn lưỡng hợp với Càn cho biết thuyền có một khuôn mặt Càn (giống như thuyền Càn ở trống Ngọc Lũ I).

.Người thuyền trưởng đứng đầu thuyền.

Trang phục đầu phía trước trán có hai sừng cong diễn tả âm thái dương, thái dương ngành nòng âm nước chung cho tất cả các người trên thuyền cho biết các người ở vùng nước này đều thuộc ngành thái dương.

Phần sau hai sừng cong hình hộp không gian đầu trên có ba nọc que Càn. Phần sau gáy có hình sóng nước dương. Người này là người Càn phía nước, âm. Tay trái cầm rìu đầu chim sừng mỏ rìu Cắt, chim Việt tức cầm rìu Việt hình mác nhọn Càn có mấu nọc nhọn chữ nhật Li. Tay phải cầm cờ có từ chấm-vòng tròn có nghĩa mặt trời Càn và thiếu dương Li.

Người này đại diện cho hai đại tộc Càn Li,

Người gác linh hồn.

Trang phục đầu phía trước trán có hai sừng cong diễn tả âm thái dương, thái dương ngành nòng âm nước chung cho tất cả các người trên thuyền. Phần sau hai sừng cong hình chim nông bờm gió cao. Phần sau gáy không rõ. Tay trái cấm đòng có các nọc chấm đặc dương là đòng gió. Người này là người  tộc Đoài vũ trụ khí gió.

Người phán xét linh hồn.

Có trang phục đầu có hình sóng nước có chấm dương là người tộc Chấn vùng nước.

Người gác cổng trời.

Người này quay mặt về phía mũi thuyền dương tay cầm mộc và khiên chỉ lên trời. Lao mang nghĩa nọc, dương, lửa chỉ lên trời cho biết thuộc lửa trời, lửa vũ trụ Càn. Cầm đủ cả lao và mộc diễn tả sự biểu tượng cho cả hai tộc. Trên người có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que vòng tròn-chấm theo duy dương có một nghĩa là mặt trời, Càn.

Thành sau đài tam thế có hình đầu chim cắt mỏ rất cường điệu trong có chấm nọc mang dương tính tối đa ứng với Càn.

Người này thuộc tộc Càn.

Người chèo thuyền.

Có phần sau hai sừng cong thái dương hình trụ đứng đất Li có từ chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu dương Li. Phía sau gáy có tua tia sáng Càn. Người này là người tộc Li.

Sau đuôi thuyền có một con chim nông có mỏ hình túi nang cường điệu nhất trong tất cả các con chim có nghĩa là mang dương tính nhiều nhất ứng với Càn. Bờm tia sáng Càn. Trong mỏ, cổ và thân có những chấm nọc dương. Chim cũng quay mặt về phía mũi thuyền dương. Thuyền chỉ có một con chim số 1 là số lẻ, số dương. Chim đứng ở đuôi thuyền nên là Càn âm, Càn của phía nòng âm.

Như thế thuyền này biểu tượng cho đại tộc dương Càn Li của phía nòng âm nước.

.Thuyền số 2 biểu tượng cho hai đại tộc phía âm Chấn-Đoài vũ trụ.  

Mấu chốt nhận diện danh tính thuyến: 

Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) ở giữa mặt trống có từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có một nghĩa là nước Chấn thái dương. Trên trống có cắm phướn đầu chim có bờm túi gió cong trong có con mắt dương có một nghĩa thiếu âm gió, mỏ cong vòng vòm trời mang tính Khôn dương gió (Đoài vũ trụ khí gió  mang tính chủ). Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) biểu tượng Chấn-Đoài vũ trụ khí gió.

Thuyền số 2 theo Nguyễn Xuân Quang biểu tượng cho hai đại tộc Chấn Đoài vũ trụ của phía nòng âm.

Thuyền này cũng có hai cảnh phát xét linh hồn là thuyền biểu tượng cho hai đại tộc.

Đặc biệt là một trong hai linh hồn đã được phán xét xong đang ở trong Trục Thế Giới để đi qua Cầu Thử Thách hầu có thể về được Thượng Thế.

Phía đuôi thuyền âm, có hai con chim nông đang giao hợp. Số 2 là số chẵn, số âm. Chim có con mắt âm. Trên người chim có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước Chấn.

.Thuyền.

Đầu thuyền rắn nước có sừng, hàm dưới chỉ có một thanh nọc cong trong có nọc chấm đặc dương, thái dương nhìn chung có một nghĩa thái dương phía âm (hai nọc ở phía dương còn một nọc ở phía âm), nhìn riêng giống hình cung thái dương biểu tượng thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Thuyền mang tính Chấn-Đoài vũ trụ khí gió. Thân thuyền có hình vật đựng trong có nọc chấm đặc dương diễn tả nước thái dương Chấn.

Thuyền này là thuyền Chấn Đoài vũ trụ khí gió.

.Người thuyền trưởng đứng đầu thuyền.

Trang phục đầu phía trước trán có hai sừng cong diễn tả âm thái dương, thái dương ngành nòng âm nước chung cho tất cả các người trên thuyền cho biết các người ở vùng nước này đều thuộc ngành thái dương.

Phần sau hai sừng cong hình hộp không gian Khôn Chấn-Đoài vũ trụ khí gió. Phần sau gáy có hộp trong từ chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Tay trái cầm đòng có nọc chấm đặc gió Đoài vũ trụ khí gió. Tay phải cầm gậy đầu cong chỉ xuống đất mang nghĩa thái dương ngành nòng âm biểu tượng cho Đoài (quẻ Đoài IIO tức thái dương II của âm O).

Người này đại diện cho hai đại tộc Đoài vũ trụ khí gió,

Người gác linh hồn thứ nhất.

Linh hồn thứ nhất ở đây khắc hay vẽ nhầm thành cây rìu.

Trang phục đầu phía trước trán có hai sừng cong diễn tả âm thái dương, thái dương ngành nòng âm nước chung cho tất cả các người trên thuyền. Phần sau hai sừng cong hình chim nông bờm hộp không gian nước, cổ chim uống sóng nước. Phần sau gáy tua nước. Tay trái cầm đòng có các nọc chấm đặc dương là đòng nước dương Chấn. Người này là người đại tộc Chấn.

Hai người đầu tiên này đại diện hai đại tộc Đoài vũ trụ khí gió-Chấn.

Người phán xét linh hồn.

Có trang phục đầu có phần giữa ba thanh cong có nọc chấm đặc thái dương. Người này là tộc Càn. Tay trái gõ vào trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống). Ở giữa mặt trống có từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn, trên có phướn chim bổ nông gió Đoài vũ trụ khí gió. Trống cho biết thuyền biểu tượng hai đại tộc Chấn-Đoài vũ trụ khí gió.

.Người gác linh hồn thứ hai.

Bị mòn mờ chỉ còn cây đòng.

Người gác cổng trời.

Người này quay mặt về phía đuôi thuyền âm tay cầm mộc và lao chỉ xiên nghiêng lên trời. Lao cường điệu mang tính thái dương chỉ về hướng âm nên biểu tượng cho Đoài vũ trụ khí gió. Mộc hình chữ D kép nhọn đầu biểu tượng cho Chấn. Lưng người này có mũ hay nón có hình sóng ba chấm-vòng tròn biểu tượng cho Chấn (sóng) Đoài vũ trụ khí gió (số 3 là số Đoài). Thành sàn cầu cũng có từ này. Thành cầu bên trái hình chim rìu cắt cường điệu mang tính thái dương như rất cong và ở bên trái, âm, quay về đuôi thuyền âm nên biểu tượng cho âm nước thái dương. Chim rìu không có mũ sừng. Đây là chim rìu nước bồ nông biểu tượng cho Chấn nước thái dương.

Gầm sàn cầu như đã nói ở trên có một linh hồn sau khi đã được phán xét, được cho phép đi vào trục thế giới để đi lên cầu thử thách.

Người này là tộc Chấn.

Người chèo thuyền.

Phần trước là hai thanh cong rất cường điệu hình vòm trời biểu tượng cho Đoài vũ trụ khí gió. Phía sau có con dao hình trụ thẳng có mũi mác thái dương, trong có các nọc chấm đặc dương biểu tượng Li. Tộc này là tộc Li.

Sau đuôi thuyền có hai con chim nông đang giao hợp đứng trên bè nước xác thực thuyền này là thuyền Khôn Chấn-Đoài vũ trụ khí gió (con đực là Khôn dương thiếu âm bổ nông khí gió và con cái là Khôn âm thái âm nước bồ nông).

Như thế thuyền này biểu tượng cho hai đại tộc dương Chấn-Đoài vũ trụ khí gió của phía nòng âm nước.

Bốn thuyền còn lại chỉ có một cảnh phán xét linh hồn biểu tượng cho bốn tộc ứng với  tứ tượng.

.Thuyền số 3 biểu tượng cho tộc Đoài vũ trụ Gió dương.

Mấu chốt nhận diện danh tính thuyến:

Thuyền số 3 tộc Đoài vũ trụ khí gió:  Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) ở giữa mặt trống có từ chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu âm gió Đoài vũ trụ khí gió. Trên trống có cắm phướn đầu chim nông có bờm gió. Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) biểu tượng tộc Đoài vũ trụ khí gió.

Thuyền số 3 theo Nguyễn Xuân Quang biểu tượng cho tộc Đoài  vũ trụ gió dương.

Mũi thuyền tức đầu dương có con chim họ nhà chim nước đang mổ con cá. Chim có con mắt âm, nước, chân có màng cho biết thuộc loài chim nước, nhánh nòng Khôn. Trên người có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que vòng tròn có chấm có một nghĩa là dương, thái dương cho biết Khôn dương, Đoài vũ trụ khí gió. Từ ngữ chấm-vòng tròn cũng có một nghĩa là thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Con chi có bờm túi gió. Như thế con chim cho biết thuyền là thuyền tộc Đoài vũ trụ khí gió.   

Hai con cá dưới thuyền cũng cho biết như vậy. Con cá ở đầu thuyển quay về phía đầu thuyền dương mang dương tính, nhỏ con có thể là con đực và con ở đuôi thuyền quay về phía đuôi thuyền, âm, to hơn có thể là con cái. Ta có dương của âm là thiếu âm Đoài vũ trụ. Ta cũng thấy con chim quay về phía tay phải dương và đứng ở đầu mũi thuyền dương nên là dương của âm tức thiếu âm Đoài vũ trụ. 

Người gác cổng trời quay mặt về phía mũi thuyền dương. Rất tiếc là mòn mất phần trên người. Thành đài tam thế có hình đầu chim cong có bờm gió tạt. Dưới gầm đài có một vật bình hình bầu tròn mang tính bầu khí gió.

Đặc biệt người chèo thuyền có trang phục đầu diễn tả đủ tứ tượng: Phần tua Càn, dao ngắn Li, sóng nước Chấn và tua gió ở dưới Đoài vũ trụ khí gió.

Thuyền này diễn tả tộc khí gió Đoài vũ trụ.

 .Thuyền số 4 biểu tượng cho tộc Li đất.

thuyen-hh-1-bis

Thuyền số 4 theo Nguyễn Xuân Quang biểu tượng cho tộc Li đất dương.

Mấu chốt nhận diện danh tính thuyền:

Thuyền số 4 tộc Li đất: Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) ở giữa mặt trống có từ chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu dương Li. Trên trống có cắm phướn 5 nọc cong trong có nọc chấm đặc dương. Số 5 là số Li, vì nọc cong mang âm tính nên là Li âm. Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) biểu tượng tộc Li đất nhánh nòng âm nước.

Thuyền này là thuyền tộc Li đất nhánh âm.

.Người thuyền trưởng phần sau gáy hình rìu chữ nhật có nọc chấm đặc dương biểu tượng đất dương Li. Tay trái cầm đòng đầu có hai sừng mang hình ảnh hai sừng hươu biểu tượng cho Li. Tay phải cầm cờ có từ chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu dương Li. Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) như đã nói ở trên là trống Li. Người gõ trống bằng con dao ngắn Li. Người gác cổng trời quay mặt về phía âm đuôi thuyền, tay chỉ cầm mộc Chấn không có lao Đoài vũ trụ. Người này chỉ cầm mộc, có lẽ thiếu lao vì kỹ thuật hay vẽ sai. Trang phục đầu hình rìu Li. Thành phía sau sàn đài tam thế hình đầu chim rìu có nọc chấm đặc ương, có con mắt từ chấm-vòng tròn có một nghĩa Li. Đầu chim ở bên trái là âm của dương là thiếu dương Li. Sau gáy trang phục đầu người chèo thuyền hình trụ Li.

Chim nông nước đuôi thuyền có nang hình rìu Li có mỏ hai thanh nọc lớn trong có nọc chấm đặc dương. Hai nọc que làm ra lửa Li.

Thuyền này là thuyền tộc Li.

 .Thuyền số 5 biểu tượng cho tộc Càn Lửa thái dương.

Thuyền số 5 theo Nguyễn Xuân Quang biểu tượng cho tộc Càn Lửa thái dương.

Mấu chốt nhận diện danh tính thuyến:

Thuyền số 5 tộc Càn:  trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) mặt trống là hai hình lục giác lồng vào nhau do hai nòng OO chuyển động tạo thành có một khuôn mặt Khôn,  không gian thái âm. Ở giữa mặt trống có từ chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời thái dương Càn. Trên trống có cắm phướn hình lưỡi hái mang tính lửa thái dương Càn và có 2 thêm một phướn nhỏ nước thái âm Khôn. Người phán xét linh hồn tay trái cầm lao mũi tên chỉ thiên mang tính lửa thái dương Càn âm vì cầm ở tay trái âm. 

Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) biểu tượng tộc Càn Khôn nhánh nòng âm nước.

Thuyền này là thuyền tộc Càn đất nhánh âm.

Thứ tự người không còn theo chính thống. Người thuyền trưởng tay phải cầm gậy hộp chữ nhật không gian trong có nọc chấm đặc thái dương Càn cho biết thuyền là tộc Càn-Khôn. Linh hồn đáng lẽ phải khắc ngồi dưới đòng của người giữ linh hồn ở đây ngay sát cạnh người thuyền trưởng.  Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) như đã nói ở trên là trống Càn. Gầm đài ở đây thấy rõ là cổng vào Trục Thế Giới có khung rất rõ. Gầm trống không diễn tả không gian, khôn. Ba thanh thành cổng diễn tả Càn.

Phần đuôi thuyền bị mòn mờ nhưng còn thấy ngay sau đuôi thuyền có hai cây nọc đầu hai con chim cắt cho biết thuyền thuộc đại tộc lửa, thái dương. Dưới đuôi thuyền thanh nhọn hai dầu dạng đòn càn trong có nọc chấm đặc dương biểu tượng Càn.

Ở  dưới nước phía đuôi thuyền có con chim nông quay về phía tay phải, dương, có bờm tia sáng mổ một con mồi hình nọc que dương diễng tả thái dương Càn phía khôn nước.

Thuyền này biểu tượng cho tộc Càn-Khôn.

 .Thuyền số 6 biểu tượng cho tộc Chấn Nước.

Thuyền số 6 theo Nguyễn Xuân Quang biểu tượng cho tộc Chấn, nước dương.

Mấu chốt nhận diện danh tính thuyến:

Thuyền số 6 tộc Chấn Nước: trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) có mặt trống là hai hình lục giác lồng vào nhau do hai nòng OO chuyển động tạo thành có một khuôn mặt Khôn,  không gian thái âm. Ở giữa mặt trống để trống không mang âm tính. Trống là Khôn âm, thái âm nước. Trên trống có cắm phướn sọc ngang nước. Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) biểu tượng tộc Chấn nước nhánh nòng âm nước.

Thuyền này là thuyền tộc Chấn Nước nhánh âm.

Một số người và linh hồn bị mòn mờ.

Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) như đã nói ở trên là trống Chấn.

Gầm cầu đài tam thế diễn tả cổng vào trục thế giới để trống không Khôn. Hai bên cửa có hai trụ có nọc chấm đặc dương diễn tả thái dương. Không gian Khôn ở cõi âm là Khôn âm mang tính hai trụ của thái dương diễn tả Khôn nước thái dương Chấn.   Như thế gầm cầu diễn tả nước thái dương Chấn. Phía trên thành sàn có hình sóng nước chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn cho biết là Khôn nước thái dương. Trên sàn đài ngoài người gác cổng trời có thêm một người có vóc dáng phụ nữ tóc dài mặc váy phồng. Ngồi là âm. Trên người có chấm nọc dương, thái dương. Đây có thể là một thần tổ nữ nhánh mặt trời. Người này mang hình ảnh của một người nữ thái dương tức Càn âm. Người phía sau có một người đứng mang dương tính, quay mặt về phía đuôi thuyền âm, tay cầm khiên âm Chấn. Sàn đài có hình cuộn sóng ba chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước Chấn. Như thế hai người này ở dạng lưỡng hợp Càn-Chấn phía nòng nước. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là thái dương thần nữ Âu Cơ lửa Càn âm hôn phối với Lạc Long Quân Chấn nước.

Đuôi thuyền có con chim mang dương tính có bờm ba nọc que lửa thái dương Càn bay lên trời. Vì ở đuôi thuyền nên là âm thái dương Càn âm. Đầu thuyền có con chim họ nhà nông quay mặt về phía dương. Chim có con mắt âm. Trên người có hình cuộn sóng hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước Chấn. Nhưng phía chân có «tấm biển» có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que vòng tròn có chấm có một nghĩa là thái dương. Hai con chim cho biết đây là dạng lưỡng hợp thái âm Chấn với thái dương Càn ngành mặt trời thái dương.

Giống thuyền số 5, ở thuyền này sau đuôi thuyền cũng có hai cây nọc đầu hai con chim cắt cho biết thuyền mang tính thái dương II phía âm O tức quẻ Tốn OII. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là Âu Cơ Nàng O Lửa II ứng với quẻ Tốn OII theo duy dương có một khuôn mặt thái dương thần nữ và theo duy âm là không gian thái dương, Khôn dương  gió phía âm.

Thuyền này biểu tượng cho tộc Chấn Tốn.

Như thế rõ ràng trong 6 chiếc thuyền phán xét linh hồn, giống như ở trống Ngọc Lũ I, có hai thuyền biểu tượng cho hai đại tộc ứng với lưỡng nghi và 4 thuyền biểu tượng cho 4 tộc ứng với  tứ tượng của nhánh nòng âm nước.

C. HẠ THẾ

Hạ Thế hay Cõi Âm là phần chân hay đế trống. Đế trống Hoàng Hạ không có trang trí. Trống còn giữ được chính thống.

D. TRỤC THẾ GIỚI.

Như đã biết thân hay lưng (waist) trống là trục thế giới, trục vũ trụ là phần trục kết nối, liên lạc giữa Tam Thế. Giống như trống Ngọc Lũ I, thân trống Hoàng Hạ thẳng đứng diễn tả Trục Thế Giới vì trống thuộc loại trống Đông Sơn Nấm Vũ Trụ (Nấm Tam Thế, Nấm Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) diễn tả trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh (thân choãi ra nhiều thường biểu tượng cho Núi trụ Thế Gian biểu tượng cho tộc Đất Núi Dương Li).

Bố cục và trang trí giống trống Ngọc Lũ I. Cũng có 6 ô, trong mỗi ô có hai người.

Khác với ở trống Ngọc Lũ I, các người ở đây đội mũ đầu chim Rìu Nước, Nông có nét cong, tròn mang âm tính, tay phải cầm rìu, tay trái cầm mộc phướn có hình đầu chim với nét cong, tròn và ngắn hơn cũng mang âm tính. Dáng người ngả về sau, hai chân khụy xuống mang âm tính trong khi ở trống Ngọc Lũ I, các người này đứng thẳng hơn mang dương tính.

Vị trí của rìu cầm ở tay phải khác nhau là một mấu chốt đơn giản nhất dùng để nhận diện.

1. Ô số 1

Ô số 1.

Hai người trong ô này cầm rìu ở vị trí khác nhau, diễn tả nòng nọc, âm dương khác nhau. Như thế hai người này diễn tả thiếu dương hay thiếu âm.  Người bên phải đầu rìu chỉ địa mang âm tính nhưng rìu thẳng đứng với mặt đất trông như trụ chống trời, núi tháp Li. Vậy người này mang hình ảnh Li phía nòng âm. Người thứ hai cầm rìu chỉ nghiêng lên trời mang dương tính của phía âm tức khí gió Đoài vũ trụ. Trên mặt mỗi người có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-vòng tròn Đoài vũ trụ hay vòng tròn-chấm Li. Như thế người bên phải thuộc tộc Li lửa đất và người bên trái thuộc tộc Đoài vũ trụ .

Đọc theo duy âm tức theo chiều kim đồng hồ ta có Li Đoài.

Hai người ngày diễn tả lưỡng hợp tiểu vũ trụ phía nòng âm có Đoài mang tính chủ.

2. Ô số 2

Ô số 2.

Cả hai người đều cầm rìu chỉ địa mang âm tính. Rìu cũng ở vị thẳng đứng mang dương tính nhưng rìu không chạm mặt đất diễn tả cõi trời cho biết thuộc ngành nọc thái dương.

Người bên trái trong rìu có chữ nọc que đặc cho biết người ngày thuộc tộc Càn phía âm. Phần sau hai nọc cong âm thái dương có hình con dao ngắn to bản mang dương tính có mũi dao nọc mũi mác lớn thái dương. Đây là con dao Càn với phần dưới chữ V ở dưới ngắn mang dương tính, là biểu tượng của Càn âm.

Trong khi rìu người bên phải chỉ có những chấm nọc dương. Phần sau hai nọc cong âm thái dương có hình con dao ngắn nhưng dài hơn con dao bên trái với phần dưới chữ V dài mang âm tính, là biểu tượng của Chấn nước vực sâu âm suy ra người bên phải là người tộc Chấn. Hai người ở dạng lưỡng hợp đại vũ trụ Càn/Chấn. Tộc Chấn mang tính chủ vì ở phía phải, dương.

Người trong hai ô này là những người biểu tượng cho hai đại tộc Chấn-Đoài vũ trụ của nhánh nòng Khôn ở dạng lưỡng hợp đại và tiểu vũ trụ.

Như thế ta suy ra bốn ô còn lại biểu tượng cho bốn tộc ứng với tứ tượng. Vì mỗi ô có 2 người nên một người biểu tượng cho phía dương, nội còn một người cho phía âm, ngoại.

3. Ô số 3: tộc Chấn.

Ô số 3.

Hai chiếc rìu ở ô này đều chỉ địa tức hai âm Chấn. Ta thấy rõ rìu Chấn ở đây giống hệt rìu Chấn ở ô 2 vừa nói ở trên.

Mặt người có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que vòng tròn có chấm ở đây ta lấy nghĩa thái dương.

Như thế hai người biểu tượng cho hai chi tộc nòng nọc, âm dương, ngoại nội của tộc Chấn (thấy rõ qua hai đầu rìu khác nhau).

4. Ô số 4 : tộc Đoài vũ trụ.

Ô số 4.

Một chiếc rìu chỉ thiên mang dương tính (I) và một chiếc rìu chỉ địa mang âm tính (O). Đọc theo duy âm tức theo chiều kim đồng hồ, ta có IO, thiếu âm Đoài vũ trụ. Ta cũng thấy rõ trong rìu có các chấm nọc dương sinh tạo nhưng chỉ ở mấu rìu thôi khác với ở rìu Chấn ở cả hai nhánh.

Như thế hai người biểu tượng cho hai chi tộc nòng nọc, âm dương, ngoại nội của tộc Đoài vũ trụ (thấy rõ qua vị trí và hai đầu rìu khác nhau).

5. Ô số 5: tộc Càn.

Ô số 5.

Hai chiếc rìu ở ô này đều chỉ thiên tức hai dương, lửa trong có chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) đặc có nghĩa là nọc lửa, mặt trời, thái dương, Càn. Vậy hai người thuộc tộc Càn. Vị trí rìu ngả về phía sau cho biết Càn của phía nòng âm.

Như thế hai người biểu tượng cho hai chi tộc nòng nọc, âm dương, ngoại nội của tộc Càn (thấy rõ qua hai chữ nọc mũi tên mũi mác, răng cưa, răng sói khác nhau).

6. Ô số 6: tộc Li.

Ô 6.

Hai chiếc rìu ở ô này một chỉ thiên mang dương tính, một chỉ địa, âm tính. Như thế là có một âm một dương tức thiếu âm hay thiếu dương. Trong rìu có chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) đặc mang nghĩa dương, lửa như vậy ta lấy theo nghĩa thiếu dương lửa Li. Như thế hai người thuộc tộc Li. Vị trí rìu ngả về phía sau cho biết Li của phía nòng âm.

Tóm lại, ở ô này, hai người biểu tượng cho hai chi tộc nòng nọc, âm dương, ngoại nội của tộc Li (thấy rõ qua hai chữ nọc mũi tên mũi mác, răng cưa, răng sói khác nhau).

Tóm tắt :  những người trong các ô ở thân trống giống như ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I không phải là những dũng sĩ mà là những người đại diện của đại tộc, tộc, chi tộc. Ở đây thuộc nhánh nòng Khôn Đoài vũ trụ-Chấn.

Tổng Kết

.Trống đồng âm dương Hoàng Hạ có mặt trời 16 nọc tia sáng thuộc nhóm trống thái âm Khôn tầng 3 mang nhiều âm tính hơn trống Quảng Xương tức có mặt trời 8 nọc tia sáng. Trống đồng âm dương Hoàng Hạ là trống biểu của hệ tộc thái âm. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt ứng với đại tộc Lạc Long Quân phía Thần Nông.

.Về nòng nọc, âm dương trống thái âm Khôn Hoàng Hạ lưỡng hợp thái âm thái dương với trống thái dương Càn Ngọc Lũ I.

Sau đây là vài diểm khác biệt chính yếu.

-Vỏ không gian ở trống Hoàng Hạ dầy đậm mang âm tính trong khi ở trống Ngọc Lũ I vỏ mỏng mang dương tính.

-Vành giới hạn: có vành giới hạn trống không mang âm tính trong khi trống  Ngọc Lũ I có các vành giới hạn có chấm nọc mang dương tính.

-Người: cả hai nhóm đều có 6 người mang âm tính thái dương với trang phục đầu hình đầu chim Rìu Nước bổ nông có đường nét cong, tròn mang âm tính, tay cầm gậy biểu, khí biểu, nhạc cụ cũng có nét cong tròn mang âm tính. Trong khi ở trống Ngọc Lũ I có trang phục đầu chim Rìu Lửa bổ cắt với đường nét thẳng, có góc cạnh mang dương tính. Rõ hơn nữa trên đầu người cuối cùng của mỗi nhóm ở trống này  có «phụ đề» hình chim nông bay xác thực hai nhóm người này thuộc phía nòng Khôn.

-Nhà Nòng không gian.

Nhà nòng có hình dạng khác nhau. Trên nóc một nhà nòng có hai con chim trông giống như hai con gà.

-Cảnh giã chầy cối

Ở bên phải nhà nòng, trên có hình chim bay.

-Nhà nọc mặt trời

Trong nhà có hai người đang thi hành tế lễ mặt trời thấy rõ hơn ở trống Ngọc Lũ I. Lò lửa có ống thông lên nhà thấy rõ hơn.

-Dàn trống

Ở bán viên dương Càn Li có chim bay ở trên cho biết dàn trống thuộc phía Chấn Đoài vũ trụ khí gió.

-Vành sóng xoắn chữ S kép cho thấy rõ trống thuộc về phía nòng Khôn nước-gió thái dương. Vành này tương đương với vành chim thú ở trống Ngọc Lũ I nên cũng mang nghĩa sinh tạo.

-Thuyền

Hai thuyền biểu tượng cho hai đại tộc đi sau cùng mang âm tính. Trong khi ở trống Ngọc Lũ I đi trước mang dương tính.

Có một linh hồn ở trong Trục Thế Giới đang đi lên cầu thử thách cho thấy rõ thuyền là thuyền phán xét linh hồn.

Hai thuyền 5 và 6 của phía nọc dương, sau mũi thuyền có hai cây cọc đầu chim cắt diễn tả lửa, thái dương một cách dễ hiểu hơn (nghĩa là trống muộn hơn). Trong khi ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I chỉ có một trụ nhưng khắc hai đầu chim cắt.

-Người trên thân trống

Nghiêng nhiều ra phía sau mang âm tính. Mộc ngắn và cong mang âm tính. Trong khi trống Ngọc Lũ I người thẳng đứng, mộc dài và thằng nét mang dương tính.

Vị trí của rìu khác nhau giúp nhận diện các tộc, các chi.

Tóm lại trống Hoàng Hạ là trống người mặt trời thái dương thuộc họ mặt trời thế gian, ngành nọc dương, nhánh mặt trời chói chang thái dương thế gian, nhóm mặt trời thái âm 16 nọc tia sáng, đại tộc Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ. Trống diễn tả trọn vẹn cả nhánh nòng Khôn ngành thái dương với vũ trụ luận trọn vẹn.

 Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt:

Trống Hoàng Hạ có hai tộc người đều hóa trang chim Rìu Việt Nước thái dương Bổ Nông, Chim biểu của thần mặt trời Thần Nông thái dương. Trống là nhánh Chim Rìu Nước Lạc Bổ Nông, Chim biểu của Thần Nông thái dương. Đại tộc Nông Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ vì là trống thế gian. 

Như đã biết trống Ngọc Lũ I là trống Người Việt Mặt Trời thái dương ngành  Càn thái dương Chim Rìu Lửa Cắt Hồng (hoàng), chim biểu của mặt trời Viêm Đế thái dương. Đại tộc Li Kì Dương Vương mang tính chủ vì là trống thế gian. 

Như vậy trống Ngọc Lũ I và trống Hoàng Hà gộp lại là hai trống biểu toàn hệ tộc Người Việt Mặt Trời Thái Dương gồm hai ngành Càn Chim Rìu, Chim Việt Lửa và ngành Chim Rìu Nước, Chim Việt Nước, hai ngành Hồng Lạc với đại tộc Li Kì Dương Vương và đại tộc  Lang Hùng Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ thuộc dòng mặt trời thái dương Viêm Đế-Thần Nông

Lưu Ý

Trống Hoàng Hạ là trống biểu NGÀNH dương thái âm Chấn thế gian thay vì là trống biểu của Đại Tộc Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ vì Ngành Chấn lưỡng hợp với Ngành Càn dương thái dương ở trống Ngọc Lũ I. 

*

CÁC TRỐNG THÁI ÂM MẶT TRỜI 16 NỌC TIA SÁNG MŨI MÁC KHÁC.

  1. Nhánh Nọc Dương Thái Dương.

a. Trống Tộc Càn Thế Gian Pha Long.

PHA LONG

Trống Pha Long (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt:

.Trống nhóm mặt trời thái âm 16 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc dương thái dương có hai vành nọc mũi mác ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian rất nhỏ mang tính dương tối đa (dương thái dương, Càn).

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng đơn, đồng nhất biểu tượng cho một đại tộc, tộc và có nhiều nọc mũi mác dương chồng lên nhau, khoảng 7 nọc. Số 7 là số Càn.  Như thế trống này là trống biểu của tộc Càn.

.Vành sinh tạo vận hành: chỉ có hai vành (vì khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất biểu tượng cho một tộc duy nhất, không phải là hình thái tứ tượng). Vành 1: hai vòng nọc mũi mác đi theo chiều dương có một nghĩa thái dương, lửa thái dương, Càn. Vành 2: nọc mũi mác có nghĩa là nọc lửa thái dương, Càn.

.Vành giới hạn nọc chấm đặc cho biết trống có khuôn mặt dương, thái dương, Càn.

Vành 19 chim bay. Có số 19 là số Đoài vũ trụ khí gió tầng 3 (3, 11, 19). Đoài là IIO, thái dương II phía  âm O cùng bản thể thái dương với Càn II là thái dương II của phía dương I. Chim có mỏ nhọn như kim mang dương tính tối đa, không có bờm gió mang tính lửa thái dương Càn. Thân và đuôi có các sọc nọc que đứng hình tam giác mang tính dương thái dương Càn. Tóm lại những con chim này mang tính thái dương.

Ngoài biên trống có hai vành nọc mũi mác nọc dương thái dương kẹp giữa hai vành nọc mũi mác chuyển động theo chiều âm cùng chiều với kim đồng hồ diễn tả thái dương của phía nọc âm thái dương.

Như thế trống Pha Long là trống biểu của đại tộc, tộc lửa thái dương Càn thế gian thuộc nhóm trống mặt trời thái âm 16 nọc tia sáng, nhánh nọc dương thái dương, ngành mặt trời thái dương.

b. Trống Tộc Li Quảng Chính.

QUANG CHINH

Trống Quảng Chính (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt:

.Trống nhóm mặt trời thái âm 16 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc dương thái dương có hai vành nọc mũi mác ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian vừa phải mang tính có dương I có âm O (thiếu dương OI hay thiếu âm IO). Ở đây là thiếu dương OI (xem dưới).

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng đơn, đồng nhất biểu tượng cho một đại tộc, tộc và có hình tháp nhọn có nhiều sọc song song nghiêng diễn tả núi tháp đá Li.  Như thế trống này là trống biểu của tộc đất dương Li.

.Vành sinh tạo vận hành: chỉ có một vành (vì khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất biểu tượng cho một tộc duy nhất, không phải là hình thái tứ tượng): nọc chấm đặc dương, thái dương, có một khuôn mặt là bụi đất dương Li.

.Vành giới hạn nọc chấm đặc cho biết trống có khuôn mặt dương, lửa, bụi đất dương Li.

Vành 4 chim bay. Có số 4 là số Cấn Non có khuôn mặt núi dương Li đại diện. Chim có mỏ nhọn như kim mang dương tính tối đa, không có bờm gió mang tính dương. Cánh và thân hình chữ T có một khuôn mặt biểu tượng cho trụ chống trới, núi trụ thế gian Li. Thân và đuôi hai nọc mũi mác lồng vào nhau diễn tả núi tháp đất dương thiếu dương Li. Chim mang tính dương bay theo chiều âm cùng chiều kimh đồng hồ mang tính âm O của dương là OI, thiếu dương Li.

Tóm lại những con chim này là chim thiếu dương Li.

Ngoài biên trống có hai vành nọc mũi mác nọc dương thái dương kẹp giữa vành nọc chấm đặc dương, lửa có một khuôn mặt bụi đất Li. Gộp lại diễn tả tộc Li của nhánh nọc dương thái dương.

Như thế trống Quảng Chính là trống biểu của đại tộc, tộc lửa thiếu dương Li thuộc nhóm trống mặt trời thái âm 16 nọc tia sáng, nhánh nọc dương thái dương, ngành mặt trời thái dương.

C. Trống Tộc Chấn Đồi Ro.

DOI RO

Trống Đồi Ro (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt:

.Trống nhón mặt trời thái âm 16 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc dương thái dương có hai vành nọc mũi mác ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian khá dầy mang nhiều âm tính. Đúng ra phải rất dầy mang tính thái âm nước (xem dưới).

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng đơn, đồng nhất biểu tượng cho một đại tộc, tộc và có nhiều sọc nghiêng diễn tả không gian Khôn (Khôn âm là thái âm, nước).  Như thế trống này là trống biểu của một tộc phía nòng Khôn.

.Vành sinh tạo vận hành: chỉ có một vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương, Chấn. Hiển nhiên trống có một khuôn mặt chủ là Chấn.

.Vành giới hạn nọc chấm đặc cho biết trống có khuôn mặt dương, thái dương.

Vành 6 cò bay. Có số 6 là số Tốn (OII) có một khuôn mặt hôn phối với Chấn  (Nàng O Lửa II Âu Cơ  Tốn OII hôn phối với Chàng Nước OO Lạc Long Quân  Chấn IOO). Trong mỏ có từ Y nằm có một nghĩa nghĩa âm thái dương (Y hình cốc có chân chalice có một nghĩa bộ phận sinh dục nữ) thích ứng với Chấn nước ngành thái dương. Cánh vòm cong hợp với thần hình dù ô che mưa. Thân có các sọng nghiêng nước mưa.

Tóm lại những con cò này nghiêng về phía cò nước Chấn ngành thái dương.

Ngoài biên trống có hai vành nọc mũi mác nọc dương thái dương kẹp giữa vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương  Chấn. Gộp lại diễn tả tộc Chấn của nhánh nọc dương thái dương.

Như thế trống Đồi Ro là trống biểu của đại tộc, tộc thái âm Chấn ngành thái dương thuộc nhóm trống mặt trời thái âm 16 nọc tia sáng, nhánh nọc dương thái dương, ngành mặt trời thái dương.

2. Nhánh Nọc Âm Thái Dương.

Trống Tộc Li Xuận Lập II.

XUAN LAP II

Trống Xuân Lập II (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt:

.Trống nhóm mặt trời thái âm 16 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc âm thái dương có hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian vừa phải mang tính có dương I có âm O (thiếu dương OI hay thiếu âm IO). Ở đây là thiếu dương OI (xem dưới).

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng đơn, đồng nhất biểu tượng cho một đại tộc, tộc và có 4 nọc mũi mác chồng lên nhau. Số 4 là số Cấn non có núi Li số 5 là đại diện. Như thế trống này nghiêng về trống biểu của một tộc Li.

.Vành sinh tạo vận hành có 3 vàn. Vành 1: sóng  vòng tròn-chấm có một nghĩa thiếu dương Li. Vành 2: sóng chớp lửa thái dương chữ S gẫy ba Càn ôm chữ S mập nước thái âm Chấn. Vành 3: sóng chấm-vòng tròncó một nghĩa thiếu âm Đoài vũ trụ khí giói. Ba vành diễn tả tứ hành. Trống này là trống muộn nên có sự cọc cạch giữa khoảng không gian giữa các nọc tia sáng đơn, đồng nhất Li với vành tứ hành ở vùng sinh tạo vận hành.

.Vành giới hạn trống không mang âm tính. Đúng ra phải là vành giới hạng chấm-vòng tròn mang dương tính hay bụi đất dương.

.Vành 6 cò bay. Số 6 là số âm thái dương tương đồng bản thể với Càn. Cò không có bờm mang dương tính, thường là cò Càn. Sáu con cò này mang tính Càn.

. Ba vành ngoài biên: hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ôm vòng sóng vòng tròn-chấm có một nghĩa thiếu dương Li.

Như thế trống Xuân Lập II là trống biểu của đại tộc, tộc thiếu dương Li liên hiệp với Càn (vì có vành cò Càn và ba vành tứ tượng diễn tả ngành, nhánh hơn là một tộc), thuộc nhóm trống mặt trời thái âm 16 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

TRỐNG MẶT TRỜI THÁI ÂM 8 NỌC TIA SÁNG.

Xem trống Quảng Xương.

 

 

 

 

 

 

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: