TRỐNG BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I (23 và hết).

  1. (*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).
  2. TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI BÁCH VIỆT NGỌC 

    LŨ I NGÀNH NỌC THÁI DƯƠNG.

    (TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

    (phần 23 và hết)

    Nguyễn Xuân Quang

    C.  HẠ THẾ

Hạ Thế hay Cõi Âm (Under World) .

Hạ thế là phần chân hay đế trống.

Theo nguyên tắc chính thống, cũng như Thượng Thế và Trung Thế, Hạ Thế cũng chia ra ba tiểu thế: cõi trên, cõi giữa và cõi dưới âm thế (Cơ Thể Học Trống Đồng).

Đế trống là Hạ Thế tương đương với chân cây đèn đá Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) và thân hay lưng trống là Trục Thế Giới tương đượng với thân cây đèn đá Cây Vũ Trụ.

Ở những trống diễn tả trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống họ hàng chân đế trống có hình nón cụt chia ra làm ba phần thấy rõ:

Đế trống trống Ngọc Lũ I.

phần trên ngắn choãi ra biểu tượng tầng trên, phần dưới  đứng hơn, dài biểu tượng tầng giữa và phần vành miệng đáy trống biểu tượng tầng dưới.

So sánh với chân cây đèn đá Cây Vũ Trụ ta thấy rõ hơn: phần trên nổi hình hoa là cõi trên âm thế; phần mặt bằng là cõi giữa âm thế vần bề dầy đứng là cõi dưới âm thế.

Lưu ý

Phần tầng trên của Hạ Thế đế trống là cõi trên của âm thế coi như có vùng tang trống vùng nước thế gian là phần nối dài, là vùng “trời” cõi âm vì thế mới có những sinh hoạt liên hệ với âm thế như các thuyền phán xét linh hồn. Cõi giữa âm thế là phần còn lại của tang trống có thể coi là vùng đất âm thế. Nới đây là chỗ ở tạm của linh hồn người vừa mới chết để chờ phán xét để chờ được về cõi trên hay bị trừng phạt đưa xuống cõi dưới âm thế.

Phần vành miệng đế trống coi như là vùng nước cõi âm là âm ty, địa ngục, nơi những linh hồn người chết có tội bị đầy xuống.

Vì là Hạ Thế, cõi âm, theo chính thống, đế trống thường không có trang trí cảnh vật hay người. Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là trống chính thống nên đế trống không có trang trí. Ở những trống không còn theo qui ước chính thống, đôi khi đế trống chỉ có những vòng tròn đơn sơ. Những vòng tròn này là những chữ nòng âm trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que nói cho biết đây là vùng âm thế. Ở những trống muộn khác thường có thêm trang trí. Một vài trống Nam Trung Hoa có trang trí hình sóng nước cho biết đế trống là vùng nước âm tức Hạ Thế Trên những trống Nam Dương như trống Sangeang Malakamau, Salaya, có những cảnh người, vật chim, thú trên đáy trống. Những cảnh này phải được coi như là cảnh của Âm Thế. Đây là lý do hình người và thú ở đây vẽ rất “trẻ thơ” (childish) và rất “hề” (“clownish”) như A.B. Kempers đã nhận xét (xem phần giải đọc trống Sangeang). Ở những trống rất muộn, trên đế trống có các người, vật, hoa văn hình học với tính cách trang thí mà thôi.

 Hình trên đế trống Sangeang (A.B. Kempers, plate 4.020).

Tóm lại chân hay đế trống biểu tượng Hạ Thế, Cõi Âm, Âm Thế. Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là trống chính thống nên đế trống không có trang trí.

D. Trục Thế Giới:

Như đã biết thân hay lưng (waist) trống là trục thế giới, trục vũ trụ là phần trục kết nối, liên lạc giữa Tam Thế. Trục Thế Giới có mang biểu tượng cho ba phần của cả tam thế vì mỗi thế đều có Trục Thế Giới đi qua. Trục thế giới là thân của Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Nhưng nhiều khi trục vũ trụ được coi như là Trụ Chống Trời, Núi Nguyên Khởi, Núi Vũ Trụ (Cosmic Mountain), Núi Trụ Thế Gian biểu tượng cho đất thế gian. Vì thế ta phải hiểu ý nghĩa trụ trống tùy theo từng loại trống: những trống diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo thì thân trống là Trục Thế Giới và những trống chỉ diễn tả một tượng trong  tứ tượng thì trụ trống có khuôn mặt chủ là Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian. Do đó sự diễn giải các “hoa văn”, hình người, thú trên thân trống cũng thay đổi theo.  Ở những trống có thân trống là Trục Thế Giới thì theo đúng triết thuyết chỉ khắc những hình vật có thể đi lại ba cõi. Ví dụ các thú vật là những con thú dùng làm tế vật dâng cúng Tam Thế hay dùng làm phương tiện đi lại Tam Thế, Còn hình người thì là các nhà lãnh đạo tinh thần như các thầy tế, phù thủy, thầy thuốc shaman, ông mo và các nhân vật đại biểu cho dòng tộc hay thần nhân, linh hồn người chết có thể lên trời hay đi xuống âm thế. Trục thế giới lưng trống là siêu xa lộ xuyên ba cõi của họ. Họ là những kẻ có thể lên cõi trời liên lạc với các thần linh cõi trên và đi xuống cõi âm, liên lạc được với âm thần, với các âm hồn. Chỉ có những người kể trên mới có thể đi lại lên xuống giữa ba tầng trời theo trụ trời, trục vũ trụ. Còn ở những trống mà cả phần mặt trống và tang trống diễn tả một phần của Vũ Trụ giáo ứng với một tượng trong Vũ Trụ giáo thì thân trống coi như là núi trụ thế gian thì người và thú trên thân các trống này mang nghĩa biều tượng cho người và thú thế gian của tộc ứng với trống (x. Cơ Thể Học Trống Đồng).

Ở trống Ngọc Lũ I diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo nên hình người là những người lãnh đạo tinh thần, những thần nhân, những đại biểu của Người Mặt Trời hóa trang hình chim (Bách Việt), ngành mặt trời thái dương, họ người vũ trụ. Đây không phải là những dũng sĩ như các nhà khảo cổ học hiện nay cho là vậy.

Cũng cần nên biết là một thầy pháp shaman khi hoàn tất huấn luyện xong thường được phát cho một thứ gậy thờ, quyền trượng, một thứ khí giới như cái dao, cái rào, cái giáo. Các shaman ở các đảo ở Đại Dương châu (Oceanian) như đảo Andaman và Nicobar khi thành đạt “he is given a sort of scepter and a lance to fight the evils spirits (hắn được cho một cây quyền trượng, gậy thờ và một cái giáo để chống lại các âm hồn ác quỉ) (Mircea Eliade, Shamanism, Archaic Techniques of Ectasy, 1964 p. 343). Vì thế những người ở đây cầm khí giới không hẳn là những dũng sĩ, chiến sĩ.

Phần lưng trống đồng âm dương Ngọc Lũ I gồm có:

-Dưới tang trống là ba vành: hai vành ngoài là những vành chấm nọc nguyên tạo, sinh tạo lửa, thái dương vành giữa là vòng tròn có chấm giữa có tiếp tuyến Li/Đoài. Ba vành có nghĩa là Li/Đoài thái dương sinh tạo.

-Sáu ô chữ nhật có hình người.

Phần giữa trụ thân trống có những băng cắt nhau tạo thành 6 ô chữ nhật, trong mỗi ô có hai người.

 Sáu ô có hình người ở thân trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Trên đầu hình người hai có giải ngang chấm nhỏ nọc nguyên tạo, lửa, thái dương sinh tạo có một nghĩa là Càn. Hai vành này kẹp ở giữa các đường sọc chéo gấp khúc hình sóng tạo ra những hình tam giác ngược đỉnh đan vào nhau dưới dạng sóng gẫy khúc.  Theo duy dương, hình tam giác đứng mang nghĩa nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chỉ thiên có một nghĩa Càn phía nòng nước.

 Dưới chân hình người có 6 vành: hai vành viền ngoài cùng chấm nọc nguyên tạo là hai vành giới hạn cho biết thuộc ngành nọc lửa sinh tạo. Hai giải 2 và 5 là hai giải nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) thái dương. Hai vành 3 và bốn hai vòng tròn đồng tâm có chấm giữa Chấn sinh tạo. Tất cả mang nghĩa Chấn thái dương sinh tạo thế gian. Như thế hai nhóm vành trên và dưới ô diễn tả lưỡng hợp Càn Chấn phía nòng nước.

Hai thành hai bên có sáu hàng thẳng đứng: hàng 1 và 6: hai hàng giới hạn chấm nọc nguyên tạo lửa thái dương có một nghĩa là Càn, hàng 2 và 5: sọc nước Chấn và hàng 3 và 4: vòng tròn có chấm có tiếp tuyến là Đoài/ Li. Như thế vách thẳng đứng của khung chữ nhật có đủ âm dương tứ tượng.

Tóm lại bốn thành của khung chữ nhật có đủ cả âm dương Chấn Càn và tứ tượng của ngành thái dương.

Ỏ đây có 6 khung chữ nhật, ta lại gặp lại con số sáu lão âm, số thành, sinh tạo. Mỗi khung ở đây có hai người. Ta thấy có điểm cần để ý ngay ở đây là trong mội khung có hai người. Tại sao lại hai người? Ta đã thấy người trên mặt trống có tộc Càn thế gian/ Li thái dương mang tính chủ và người trên mặt nước có tộc Chấn thế gian/Đoài thái âm mang tính chủ. Ở đây là trục thế giới thông thương được cả hai vùng đất và nước cõi giữa thế gian cho nên có hai người trong khung là hai người của hai vùng đất nước tức cả cõi nhân gian. Nhìn tổng quát ta thấy ngay trong sáu ô thì trong hai ô có hai nhóm người ứng với hai cực âm dương Chấn thái âm nước-Càn thái dương lửa và 4 bốn nhóm người ứng với tứ tượng.

Những người này tay phải (ngành nọc, dương) cầm rìu sừng mang gạc biểu tượng của Li, tay trái (ngành nòng, âm) cầm mộc hình phướn gió biểu tượng của Đoài, hai khuôn mặt mang tính chủ của hai phía nòng nọc, âm dương của ngành nọc mặt trời thái dương.

Trang phục đầu có hình chim cắt-chim nông Li-Đoài (thấy rõ ở người thứ đi đầu của nhóm thứ nhất).

Trang phục đầu có hình chim cắt-chim nông Li-Đoài thấy rõ ở người đi đầu của nhóm thứ nhất.

Ta thấy rõ khuôn mặt Li-Đoài là hai khuôn mặt mang tính chủ.

Những người này là ai? Trống Ngọc Lũ I là trống biểu của vũ trụ tạo sinh, người trên trống là người tiểu vũ trụ, người mặt trời. Như trên đã biết những người này là Người Mặt Trời thuộc họ người vũ trụ (người là tiểu vũ trụ), ngành nọc mặt trời thái dương vì thế trang phục mới có hình chim và mang trọn nghĩa vũ trụ luận. Họ có thể là các nhà lãnh đạo tinh thần, các đại biểu của hai ngành và bốn đại tộc (vì thế có 6 khung) của hai ngành nòng nọc âm dương của họ người vũ trụ, ngành mặt trời thái dương.

TỔNG KẾT

 .Trống Ngọc Lũ I có hình cây nấm vũ trụ, cây tam thế thuộc loại Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) là trống biểu của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

.Ở tâm trống có mặt trời dương nằm trong vòng tròn vỏ không gian âm ở dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, vũ trụ. Vòng tròn vỏ không gian có độ dầy vừa phải cho biểu tượng cho tính nòng nọc, âm dương còn mang tính đề huề.

.Trống có mặt trời là trống biểu của họ mặt trời.

Trống có mặt trời có tia sáng hình nọc nhọn nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) là trống biểu của ngành mặt trời nọc.

.Trống có mặt trời nọc tia sáng sắc nhọn, cường điệu,  không thấy đĩa tròn lửa thuộc đại tộc mặt trời hừng rạng chói chang.

.Trống có mặt trời rạng ngời có 14 (Tốn tầng 2, 14 = 6 + 8) nọc tia sáng chói chang thuộc nhóm trống lửa, thái dương.

Khối lửa mặt trời hình cầu gai chói lọi không thấy đĩa tròn ứng với đại tộc thái dương.

Vậy trống Ngọc Lũ I  là trống biểu của ngành mặt trời nọc lửa chói chang thái dương thế gian.

.Khoảng không gian giữa tia sáng có hình thái tứ tượng (hiện hiểu lầm là ‘họa tiết lông công’ cho biết trống diễn tả trọn vẹn quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh. Trống là trống biểu của một ngành, một họ.

.Những vành sinh tạo vận hành quanh mặt trời diễn tả tứ hành cũng cho biết trống diễn tả trọn vẹn quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh.

.Vành chim nông-mang hươu diễn tả lưỡng hợp ở cõi đại và tiểu vũ trụ của vùng đất dương thế gian (lưỡng hợp đại vũ trụ qua 10 con mang Càn có một sừng 3 mấu nhọn lưỡng hợp nhóm 8 con chim nông Chấn; lưỡng hợp tiểu vũ trụ thấy qua 10 con hươu Li có một sừng 2 mấu nhọn hay con cái lưỡng hợp nhóm 6 con chim nông Đoài).

Nhìn dưới khía cạnh dòng tộc là trống liên bang hai dòng nội ngoại của ngành mặt trời nọc thái dương. Trống có dạng lưỡng hợp đại và tiểu vũ trụ trọn vẹn (cũng thấy qua sự hiện diện của những con thuyền phán xét linh hồn ở tang trống).

Trống này nếu nhìn theo nòng nọc, âm dương đề huề là trống của ngành nọc thái dương có hai khuôn mặt thế gian mang tính trội là Li ở vùng đất dương và Đoài ở vùng đất âm. Nếu nhìn theo duy dương của phía nọc dương thái dương thì Li mang tính chủ và theo duy âm của phía nọc âm thái dương thì Đoài mang tính chủ.

.Trống có hàng chim nông, chim biểu cõi trời tạo hóa của ngành nòng âm ứng với thiếu âm Nông của Thần Nông. (trong khi rắn nước là vật biểu của cõi nước tạo hóa ứng với thái âm Thần của Thần Nông). Điểm này cho thấy khuôn mặt thiếu âm Nông tức Đoài mang tính trội. Vì sao ở mặt trống không dùng rắn mà dùng chim nông? Bởi vì trống có biểu tượng chính cho phía trống (đực, dương), nọc thái dương và là biểu tượng cho của ngành mặt trời thái dương nên dùng khuôn mặt dương của phía âm tức thiếu dương có biểu tượng là chim nông.

.Trống có vành sinh hoạt nhân sinh gồm có hai nhóm nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương và nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm. Người cuối cùng của nhóm nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương có trang phục đầu hình quả bầu nậm cho biết hai nhóm người thuộc họ người vũ trụ. Ngoài người cuối cùng này ra, còn lại 12 người của hai nhóm đều có trang phục đầu giống nhau cho biết cả hai nhóm cùng một ngành. Trang phục đầu của 12 người này hình chim cho biết họ là Người Mặt Trời. Hình trang phục đầu hình chim có góc cạnh, sắc, nhọn cho biết thêm là họ là Người mặt trời Mặt Trời thuộc ngành nọc mặt trời thái dương.

Phần lớn những người này (8 người) tay phải dương cầm phách hình núi tháp đỉnh chỉ thiên Li và tay trái cầm gậy thẳng Càn cho thấy khuôn mặt ngành nọc dương Càn Li mang tính trội và Li mang tính chủ (vì phách cầm ở`tay phải dương và vì là trống thế gian)

. Ở vùng đất âm gần biên trống, vành 18 cò gió Đoài đi cùng 18 chim đứng Li dưới dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ cõi trời vùng đất âm. Hàng cò cường điệu cho thấy khuôn mặt Đoài mang tính trội ở vùng đất âm.

.Bìa trống có hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) thái dương. Hai vành răng sói thái dương kẹp giữa hai vành sóng vòng tròn có chấm có tiếp tuyến Li/Đoài vận hành ở dạng lưỡng hợp thế gian tiểu vũ trụ nên trống là trống lưỡng hợp tiểu vũ trụ Li-Đoài thái dương mang tính trội (thế gian vì trống là trống thế gian có số tia sáng mặt trời lớn hơn 8).

.Điểm này cũng thấy rõ qua sự kiện là trống có mặt trời rạng ngời có 14 (Tốn tầng 2, 14 = 6 + 8) nọc tia sáng chói chang thái dương thế gian. Ta đã biết Tốn lưỡng hợp với Càn Chấn (đại vũ trụ) , Li Đoài (Tiểu vũ trụ). Trống này là trống thế gian khuôn mặt tiểu vũ trụ Li Đoài mang tính trội. Như thế trống Ngọc Lũ I  có mặt trời 14 nọc tia sáng Tốn thế gian có khuôn mặt lưỡng hợp trọn vẹn lưỡng hợp đại vũ trụ Tốn/Càn- Tốn/Chấn và lưỡng hợp tiểu vũ trụ Tốn/Li và Tốn/ Đoài. Trống này là trống thế gian có mặt trời 14 nọc tia sáng (lớn hơn 7) nên khuôn mặt chính là dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ do đó mà hai vòng sóng Li-Tốn cùng nằm trong một vành ở  ngoài biên trống.

Trống Ngọc Lũ I là trống mang trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, vũ trụ luận, là trống biểu của chủng Người Mặt Trời thái dương, ngành mặt trời nọc thái dương, họ ngưởi vũ trụ.

.Sáu chiếc thuyền ở vùng nước tang trống diễn tả cảnh phán xét linh hồn cho thấy trống diễn tả trọn vẹn vũ trụ luận. Qua sự kiện là trên chiếc thạp đồng tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương Triệu Mô, Quảng Châu cũng có hình thuyền phán xét linh hồn, ta thấy trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống họ hàng có thuyền phán xét linh hồn phải là trống biểu, quốc biểu của vua chúa, lãnh tụ của người thuộc đại tộc Đông Sơn.

. Trống có mặt trời 14 nọc tia sáng (14 = 6 + 8), ở cõi trời có 6 chim nông, cõi đất hai nhóm có nhóm 6 người có cùng trang phục đầu hình chim có góc cạnh, cõi nước có 6 thuyền, trục vũ trụ có 6 khung chữ nhật cho thấy trống mang nghĩa sinh tạo trọn vẹn của triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh ngành nọc thái dương (số 6 là âm số thành, là số lão tức âm thái dương).

. Người trên thuyền có trang phục hình đầu chim với nét cong mang âm tính cho biết họ thuộc phía nòng âm của ngành Người Mặt Trời ở vùng sông nước.

Tóm lại Trống Ngọc Lũ I thuộc họ mặt trời thế gian, ngành nọc dương, nhánh mặt trời chói chang thái dương thế gian, nhóm mặt trời 14 nọc tia sáng lửa thái dương, dạng lưỡng hợp đại và tiểu vũ trụ trọn vẹn. Theo nòng nọc, âm dương đề huề có khuôn mặt Người Mặt Trời thái dương Li lửa đất thế gian và thái dương Đoài vũ trụ mang tính chủ.

.Trống mang trọn vẹn vũ trụ luận, Dịch lý nòng nọc.  Mọi chi tiết đều được diễn tả bằng hình ảnh theo Dịch nòng nọc và được diễn đạt bằng chữ nòng nọc một cách hết sức tinh vi, tiêu chuẩn. Điểm này cho thấy người Đông Sơn đã hiểu rõ Dịch học một cách hết sức uyên bác, không thể tìm thấy được trong bất cứ một quyển sách Dịch nào hiện nay. Từng chi tiết nhỏ không sai trật với Dịch nòng nọc, một thứ Dịch nguyên khởi còn có âm dương đề huề, khác với các Dịch đã dương hóa, dương trội, những Dịch muộn duy tục sau này.

Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là một bộ Dịch đồng bằng hình ảnh tuyệt phẩm, một bảo vật của Việt Nam và nhân loại.

TRỐNG NGỌC LŨ I VÀ TRUYỀN THUYẾT, CỔ SỬ VIỆT

  Trống Ngọc Lũ I có:

.Hình  trống có hình Cây Nấm Vũ Trụ là trống Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) gồm đủ cả ba cõi, Tam Thế mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ luận.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống này mang trọn vẹn cốt lõi văn hóa Việt dựa trên nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng nền tảng của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch nòng nọc.

.Mặt trời dương nằm trong vỏ không gian âm mang tính nòng nọc, âm dương đề huề là cốt lõi của nền văn hóa Đại Tộc Việt dựa trên nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng.

.Trống có mặt trời là trống biểu của họ mặt trời ứng với  họ Hồng Bàng thế gian có một khuôn mặt là Họ Đỏ, Họ Mặt Trời .

.Trống có một khuôn mặt dương (trống có một nghĩa là  đực) biểu tượng cho Hùng Vương có Hùng có một nghĩa là Đực, Dương.

.Trống đồng là trống nòng nọc, âm dương (về hình dạng trống có mặt kín là dương, mặt hở đáy là âm và về nội dung có mặt trời nằm trong không gian tức vũ trụ ) nên là trống biểu của Hùng Vương lưỡng tính lửa-nước, dòng vua mặt trời, sinh ra từ trứng vũ trụ (ứng với mặt trời nằm trong vỏ không gian ở tâm trống) cũng có hai nhánh dương lửa theo mẹ lên núi và nhánh âm nước theo cha xuống biển.

.Trống có mặt trời rạng ngời có 14 (Tốn tầng 2, 14 = 6 + 8) nọc tia sáng chói chang thuộc nhóm trống lửa, thái dương và khối lửa mặt trời hình cầu gai chói lọi không thấy đĩa tròn ứng với đại tộc thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là đại tộc Việt (Bách Việt) thái dương rạng ngời ngành dương.

.Trống có mặt trời 14 nọc tia sáng nọc lửa, thái dương thế gian ứng với họ Hồng Bàng thế gian. Theo Đại Việt sử ký của Ngô sĩ Liêm thì họ Bồng Bàng thế gian kể từ Kinh dương Vương trở xuống. Theo nòng nọc, âm dương đề huề, họ Hồng Bàng Hùng Việt thế gian gồm có ngành lửa Hùng Kì Kì Dương Vương và ngành nước Hùng Lạc Lạc Long Quân (còn Hùng Vương thuộc về lịch sử).

.Tính lưỡng hợp nòng nọc, âm dương đại và tiểu vũ trụ ứng với liên bang Văn Lang.  Trống này nếu nhìn theo nòng nọc, âm dương đề huề là trống của ngành nọc thái dương có hai khuôn mặt thế gian mang tính trội là Li ở vùng đất dương và Đoài ở vùng đất âm. Nếu nhìn theo duy dương của phía nọc dương thái dương thì là 50 Lang nhánh Lửa Âu Cơ  dòng Kì Dương Vương-Đế Minh-Viêm Đế mang tính chủ và theo duy âm của phía nọc âm thái dương thì 50 Lang nhánh nước Lạc Long Quân dòng An Dương Vương-Long Vương-Thần Nông mang tính chủ.

.Người cuối nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương có trang phục đầu hình quả bầu thuộc họ người vũ trụ ứng với truyền thuyết và cổ sử Việt nói rằng Đại Tộc Việt sinh ra từ một quả bầu (vũ trụ). Người Việt chui ra trước có da sáng hơn các tộc chui ra sau.

.Mười hai người còn lại của hai nhóm trên mặt trống có trang phục đầu hình chim là người chimNgười Mặt Trời. Trang phục đầu có góc cạnh mang dương tính, thái dương. Đây là những người Mặt Trời Thái Dương. Những người chim này chính là Người Bách Việt Người Mặt Trời Thái Dương.

Lưu Ý

Gần đây nhà khảo cứu Đỗ Thành cũng xác nhận tất cả những chữ Việt đều có gốc, có nghĩa liên hệ với mặt trời (nhannamphi.com) và tác giả Nguyễn Đại Việt trong bài Viết Lại Tên Bách Việt Nguồn: http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/viet-lai-ten-Bach-Viet.htm

đã phân tích các chữ Việt cổ trên giáp cốt văn và kim văn dựa theo tài liệu được cung cấp từ chineseetomology.org, một website về cổ ngữ rất phong phú và hữu ích của ông Richard Sears cũng cho thấy Chữ “Việt” nguyên thủy của người Việt cổ có niên đại từ 496 – 465 TCN, viết bằng “văn tự chim”, xuất hiện trước chữ “Việt bộ Tẩu” bằng Hán ngữ của nhà Tây Hán ít nhất 300 năm. Chữ “Việt” của Bách Việt được cấu tạo bởi hai thành phần duy nhất là chữ “Nước” (: ấp, quốc gia) ở bên trái và chữ “Người Chim” tay cầm qua ở bên phải. “Người Chim” là yếu tố chủ đạo, phát âm là “Việt”, “qua” hay binh khí là yếu tố phụ’.

Người chim trong chữ Việt cổ còn thấy trong chữ Việt khắc trên thanh gươm của Việt Vương Câu Tiễn. Tác giả Nguyễn Đại Việt cho rằng

theo nhận xét thiên về mặt phong tục tập quán và huyền sử hơn là phương diện khoa học và ngữ văn thì chữ “Việt” trên thanh gươm gồm 3 thành phần thay vì như đã trình bày. Ba thành phần đó là các chữ “Mặt Trời”, “Rồng”, và “Người Chim“.

Hình 18: Chữ “Việt” (bên trái) trên thanh gươm của vua Câu Tiễn và 3 thành phần cấu tạo của nó.

Ông chứng minh chữ vòng tròn có chấm ở trên cùng bên trái bằng cách so sánh với các chữ mặt trời trên giáp cốt văn và kim văn và cho đây là chữ mặt trời. Đùng vậy, đây chính là chữ viết nòng nọc vòng tròn-que có hình vòng tròn có chầm hay chấm vòng tròn, theo duy dương có một nghĩa là mặt trời tạo hóa, sinh tạo, nhất thể (Chữ Nòng Nọc). Chữ thừ hai ông cho là chữ “Rồng”. Đây chính là con rắn nước ngành dương, thái dương nên đầu có hai cái sừng là hai nọc mang nghĩa lửa, thái dương tức Rắn Việt, Rắn Lạc, sau này thần thoại hóa thành thuồng luồng, rồng Lạc, rồng long Trung Hoa. Chữ thứ ba hình người chim có trang phục đầu ông chim chim tay cầm qua. Đây chính là Người Việt Mặt Trời.

……

Hai tác giả này đã xác thực những điều tôi đã hàng chục năm nay về cổ sử Việt (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt) và trống đồng (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á) là Người Việt (Bách Việt) là chủng  Người Mặt Trời Thái Dương, thuộc họ Mặt Trời Hồng Bàng (có khuôn mặt chủ là Người Mặt Trời Xích Quỉ Kì Dương Vương), ngành thần mặt trời Viêm Đế có vua tổ thuộc dòng Vua Mặt Trời Hùng Vương. Trống đồng nòng nọc, âm dương có mặt trời là trống biểu của Hùng Vương mặt trời. Trên các trống đồng đều có hình người hóa trang hình chim tức người chim khác nhau là những ngành, đại tộc, tộc Người Mặt Trời Bách Việt khác nhau, con cháu của các dòng vua mặt trời Hùng Vương.

Phần lớn những người nhẩy múa trên mặt trống (8 người) tay phải dương cầm phách hình núi tháp đỉnh chỉ thiên Li và tay trái cầm gậy thẳng Càn cho thấy khuôn mặt ngành nọc dương Càn Li mang tính trội và Li mang tính chủ (vì phách cầm ở`tay phải dương và vì là trống thế gian). Như thế khuôn mặt Người Mặt trời Xích Quỉ Kì Dương Vương mang tính chủ.

.Ở vùng đất dương có vành hươu-chim nông với khuôn mặt mang (hươu) Li mang tính chủ và ở vùng đất âm có vành cò bay Đoài mang tính chủ cho thấy rõ theo thái dương có hai khuôn mặt của hai nhánh nọc dương 50 Lang theo Âu Cơ lên núi và nhánh nọc 50 Lang theo cha xuống biển (ở đây theo thái dương của phía nọc âm là thiếu âm Đoài cò bay).

.Ngoài biên trống có hai vành nọc mũi tên thái dương cho biết trống thuộc ngành nọc dương thái dương mặt trời chói sáng.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là ngành mặt trời dương thái dương.

Hai vành này kẹp ở giữa một vành gồm hai hình sóng sinh động thiếu dương Li, thiếu âm  Đoài.  Ba vành này cho biết trống thuộc hai đại tộc thiếu dương Li đất dương lưỡng hợp với thiếu âm Đoài Gió dương của hai ngành nọc dương và âm thuộc họ mặt trời thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết Việt là đại tộc thiếu dương Li Kì Việt Kì Dương Vương, khuôn mặt lửa âm đất thế gian Đế của ngành Viêm Đế thái dương lưỡng hợp đại tộc thiếu âm Đoài Lang Việt, khuôn mặt gió dương thế gian Nông của ngành Thần Nông thái dương.

Đối chiếu cổ sử Việt là nhánh Hùng Vương núi đất dương phía Mẹ Tổ Âu Cơ lưỡng hợp nhánh Hùng Vương gió thái dương phía Lạc Long Quân.

Tóm gọn lại:

Đối chiếu với truyền thuyết, cổ sử Việt, trống Ngọc Lũ I là trống biểu của ngành Người Mặt Trời Nọc Dương Thái Dương rạng ngời Bách Việt thuộc chủng người vũ trụ Viêm Đế-Thần Nông. Ở cõi thế gian ứng với họ Mặt Trời họ Hồng Bàng, ở cõi lịch sử là Hùng Kì ngành nọc mặt trời dương thái dương mang tính chủ.

( Hết).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: