NHÓM TRỐNG THÁI DƯƠNG: NGỌC LŨ I, TRỐNG BIỂU NGÀNH MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG, CÀN THẾ GIAN (23 và hết).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

*Đang nhuận sắc lại.

TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG.

NGỌC LŨ I, TRỐNG BIỂU NGÀNH MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG, CÀN THẾ GIAN.  

  (phần 23)

Nguyễn Xuân Quang

Hạ Thế hay Cõi Âm (Under World) .

Hạ thế là phần chân hay đế trống.

Theo nguyên tắc chính thống, cũng như Thượng Thế và Trung Thế, Hạ Thế cũng chia ra ba tiểu thế: cõi trên, cõi giữa và cõi dưới âm thế (Cơ Thể Học Trống Đồng).

Đế trống là Hạ Thế tương đương với chân cây đèn đá Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) và thân hay lưng trống là Trục Thế Giới tương đượng với thân cây đèn đá Cây Vũ Trụ.

Ở những trống diễn tả trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống họ hàng chân đế trống có hình nón cụt chia ra làm ba phần thấy rõ:

Đế trống trống Ngọc Lũ I.

phần trên ngắn choãi ra biểu tượng tầng trên, phần dưới  đứng hơn, dài biểu tượng tầng giữa và phần vành miệng đáy trống biểu tượng tầng dưới của hạ thế.

So sánh với chân cây đèn đá Cây Vũ Trụ ta thấy rõ hơn: phần trên nổi hình hoa là cõi trên âm thế; phần mặt bằng là cõi giữa âm thế vần bề dầy đứng là cõi dưới âm thế.

Lưu ý

Phần tầng trên của Hạ Thế đế trống là cõi trên của âm thế coi như có vùng tang trống vùng nước thế gian là phần nối dài, là vùng “trời” cõi âm vì thế mới có những sinh hoạt liên hệ với âm thế như các thuyền phán xét linh hồn. Cõi giữa âm thế là phần còn lại của tang trống có thể coi là vùng đất âm thế. Nới đây là chỗ ở tạm của linh hồn người vừa mới chết để chờ phán xét để chờ được về cõi trên hay bị trừng phạt đưa xuống cõi dưới âm thế.

Phần vành miệng đế trống coi như là vùng nước cõi âm là âm ty, địa ngục, nơi những linh hồn người chết có tội bị đầy xuống.

Vì là Hạ Thế, cõi âm, theo chính thống, đế trống thường không có trang trí cảnh vật hay người. Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là trống chính thống nên đế trống không có trang trí. Ở những trống không còn theo qui ước chính thống, đôi khi đế trống chỉ có những vòng tròn đơn sơ. Những vòng tròn này là những chữ nòng âm trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que nói cho biết đây là vùng âm thế. Ở những trống muộn khác thường có thêm trang trí. Một vài trống Nam Trung Hoa có trang trí hình sóng nước cho biết đế trống là vùng nước âm tức Hạ Thế. Trên những trống Nam Dương như trống Sangeang Malakamau, Salaya, có những cảnh người, vật chim, thú trên đáy trống. Những cảnh này phải được coi như là cảnh của Âm Thế. Đây là lý do hình người và thú ở đây vẽ rất “trẻ thơ” (childish) và rất “hề” (“clownish”) như A.B. Kempers đã nhận xét (xem phần giải đọc trống Sangeang). Ở những trống rất muộn, trên đế trống có các người, vật, hoa văn hình học với tính cách trang thí mà thôi.

 Hình trên đế trống Sangeang (A.B. Kempers, plate 4.020).

Tóm lại chân hay đế trống biểu tượng Hạ Thế, Cõi Âm, Âm Thế. Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là trống chính thống nên đế trống không có trang trí.

D. Trục Thế Giới:

Như đã biết thân hay lưng (waist) trống là trục thế giới, trục vũ trụ là phần trục kết nối, liên lạc giữa Tam Thế. Trục Thế Giới có mang biểu tượng cho ba phần của cả tam thế vì mỗi thế đều có Trục Thế Giới đi qua. Trục thế giới là thân của Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Nhưng nhiều khi trục vũ trụ được coi như là Trụ Chống Trời, Núi Nguyên Khởi, Núi Vũ Trụ (Cosmic Mountain), Núi Trụ Thế Gian biểu tượng cho đất thế gian.

Lưu Ý.

Thân trống diễn tả trục thế giới  thường có hình trụ đứng như ở trống Ngọc Lũ I thuộc loại trống Đông Sơn Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I). Trống có thân trống diễn tả Núi Vũ Trụ, Núi Thế Gian  thường có thân trống choãi ra hình tháp trụ cụt đầu loại trống Nguyễn Xuân Quang V (Heger II).  

Vì thế ta phải hiểu ý nghĩa trụ trống tùy theo từng loại trống: những trống diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo thì thân trống là Trục Thế Giới và những trống chỉ diễn tả một tượng trong  tứ tượng thì trụ trống có khuôn mặt chủ là Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian. Do đó sự diễn giải các “hoa văn”, hình người, thú trên thân trống cũng thay đổi theo.  Ở những trống có thân trống là Trục Thế Giới thì theo đúng triết thuyết chỉ khắc những hình vật có thể đi lại ba cõi. Ví dụ các thú vật là những con thú dùng làm tế vật dâng cúng Tam Thế hay dùng làm phương tiện đi lại Tam Thế. Còn hình người thì là các nhà lãnh đạo tinh thần như các thầy tế, phù thủy, thầy thuốc shaman, ông mo và các nhân vật đại biểu cho dòng tộc hay thần nhân, linh hồn người chết có thể lên trời hay đi xuống âm thế. Trục thế giới lưng trống là siêu xa lộ xuyên ba cõi của họ. Họ là những kẻ có thể lên cõi trời liên lạc với các thần linh cõi trên và đi xuống cõi âm, liên lạc được với âm thần, với các âm hồn. Chỉ có những người kể trên mới có thể đi lại lên xuống giữa ba tầng trời theo trụ trời, trục vũ trụ. Còn ở những trống mà cả phần mặt trống và tang trống diễn tả một phần của Vũ Trụ giáo ứng với một tượng trong Vũ Trụ giáo thì thân trống coi như là núi trụ thế gian thì người và thú trên thân các trống này mang nghĩa biều tượng cho người và thú thế gian của tộc ứng với trống (x. Cơ Thể Học Trống Đồng).

Ở trống Ngọc Lũ I diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo nên hình người là những người lãnh đạo tinh thần, những thần nhân, những đại biểu của Người Mặt Trời hóa trang hình chim (Bách Việt), ngành mặt trời thái dương, họ người vũ trụ. Đây không phải là những dũng sĩ như các nhà khảo cổ học hiện nay cho là vậy.

Cũng cần nên biết là một thầy pháp shaman khi hoàn tất huấn luyện xong thường được phát cho một thứ gậy thờ, quyền trượng, một thứ khí giới như cái dao, cái rào, cái giáo. Các shaman ở các đảo ở Đại Dương châu (Oceanian) như đảo Andaman và Nicobar khi thành đạt “he is given a sort of scepter and a lance to fight the evils spirits” (hắn được cho một cây quyền trượng, gậy thờ và một cái giáo để chống lại các âm hồn ác quỉ) (Mircea Eliade, Shamanism, Archaic Techniques of Ectasy, 1964 p. 343). Vì thế những người ở đây cầm khí giới không hẳn là những dũng sĩ, chiến sĩ.

Phần lưng trống đồng âm dương Ngọc Lũ I gồm có:

-Dưới tang trống là ba vành: hai vành ngoài là những vành chấm nọc nguyên tạo, sinh tạo lửa, thái dương vành giữa là vòng tròn có chấm giữa có tiếp tuyến Li/Đoài. Ba vành có nghĩa là Li/Đoài ngành thái dương sinh tạo.

-Sáu ô chữ nhật có hình người.

Phần giữa trụ thân trống có những băng cắt nhau tạo thành 6 ô chữ nhật, trong mỗi ô có hai người.

 Sáu ô có hình người ở thân trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Trên đầu hình người hai có giải ngang chấm nhỏ nọc nguyên tạo, lửa, thái dương sinh tạo có một nghĩa là Càn. Hai vành này kẹp ở giữa các đường sọc chéo gấp khúc hình sóng tạo ra những hình tam giác ngược đỉnh đan vào nhau dưới dạng sóng gẫy khúc.  Theo duy dương, hình tam giác đứng mang nghĩa nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chỉ thiên có một nghĩa Càn phía nòng nước.

 Dưới chân hình người có 6 vành: hai vành viền ngoài cùng chấm nọc nguyên tạo là hai vành giới hạn cho biết thuộc ngành nọc lửa sinh tạo. Hai giải 2 và 5 là hai giải nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) thái dương. Hai vành 3 và bốn hai vòng tròn đồng tâm có chấm giữa Chấn sinh tạo. Tất cả mang nghĩa Chấn thái dương sinh tạo thế gian. Như thế hai nhóm vành trên và dưới ô diễn tả lưỡng hợp Càn Chấn phía nòng nước.

Hai thành hai bên có sáu hàng thẳng đứng: hàng 1 và 6: hai hàng giới hạn chấm nọc nguyên tạo lửa thái dương có một nghĩa là Càn, hàng 2 và 5: sọc nước Chấn và hàng 3 và 4: vòng tròn có chấm có tiếp tuyến là Đoài/Li. Như thế vách thẳng đứng của khung chữ nhật có đủ âm dương tứ tượng.

Tóm lại bốn thành của khung chữ nhật có đủ cả âm dương Chấn Càn và tứ tượng của ngành thái dương.

Ỏ đây có 6 khung chữ nhật, ta lại gặp lại con số 6, âm thái dương cho biết những người này thuộc ngành Càn Tốn âm có hai đại tộc Chấn và Đoài.

Ta thấy cần lưu ý ngay ở đây là trong mỗi khung có hai người. Tại sao lại hai người? Ta đã thấy người trên mặt trống thuộc ngành Càn có hai đại tộc Càn Li với Li mang tính chủ và người trên mặt nước là ngành Khôn Chấn-Đoài với Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ. Ở đây là trục thế giới thông thương được cả hai vùng đất và nước cõi giữa thế gian cho nên có hai người trong khung là hai người của hai vùng đất và nước tức của cả cõi nhân gian. Nhìn tổng quát ta thấy ngay trong 6 ô thì có 2 ô người ứng với lưỡng nghi: hai cực âm dương  và 4 bốn nhóm người ứng với tứ tượng.

Những người này tay phải (ngành nọc, dương) cầm rìu đầu chim rìu lửa, rìu Việt biểu tượng nhánh Càn Li tay trái (ngành nòng, âm) cầm mộc hình phướn biểu tượng nhánh Chấn Đoài hoặc chỉ là Li Đoài vũ trụ khí gió, hai khuôn mặt mang tính chủ của hai phía nòng nọc, âm dương của ngành nọc mặt trời thái dương.

Trang phục đầu có hình sừng cong chim cắt lửa nhánh nòng âm hay chim nước nông.

Phía trước trang phục đầu người bên phải hình chim nông nhánh âm Chấn-Đoài vũ trụ khí gió. Tay người nay cầm rìu Việt mỏ cắt để chúc đầu xuống đất, chỉ địa biểu tượng âm cho biết là đại diện nhánh âm và người bêm trái có sừng cong nhánh dương Càn-Li cầm rìu Việt chỉ thiên biểu tượng dương cho biết đại diện nhánh dương.

Những người này là ai?  Họ có thể là các nhà lãnh đạo tinh thần, các đại biểu của hai ngành và bốn đại tộc (vì có 6 khung) của hai ngành nòng nọc âm dương của họ người vũ trụ, ngành mặt trời thái dương.

TỔNG KẾT

.Trống Ngọc Lũ I có hình cây nấm vũ trụ, cây tam thế thuộc loại Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) mang trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, vũ trụ luận, là trống biểu của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống diễn tả cốt lõi văn hóa Việt.

.Trống mang tính nòng nọc âm dương: mặt kín dương, đáy hở âm. Ở tâm trống có mặt trời dương nằm trong vòng tròn vỏ không gian âm ở dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, vũ trụ ứng với nguyên lý căn bản Chim-Rắn, Tiên Rồng của văn hóa Việt.

Vòng tròn vỏ không gian có độ dầy vừa phải mang tính thiếu dương cho biết đại tộc Lửa thế gian đất dương Li mang tính chủ ứng với đại tộc Kì Dương Vương.

.Trống có mặt trời là trống biểu của họ mặt trời ứng với họ Mặt Trời Hồng Bàng.

.Trống có mặt trời có khối lửa mặt trời hình cầu gai chói lọi không thấy đĩa tròn và nọc tia sáng sắc nhọn, mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) cường điệu là mặt trời thái dương chói chang, là trống biểu của ngành mặt trời nọc thái dương rạng ngời ứng với chúng ta là Man, Mán Mường, Mol có một nghĩa là Người. Người là Ngời Sáng.

.Trống có mặt trời rạng ngời có 14 (Tốn tầng 2, 14 = 6 + 8) nọc tia sáng chói chang thuộc nhóm trống lửa, thái dương là trống biểu của Người Mặt Trời Thái Dương ứng với Người Việt Mặt Trời Thái Dương, Viêm Việt.

.Trống trống Ngọc Lũ I là Trống Biểu của Hùng Vương Vua Mặt Trời của Người Việt Mặt Trời Thái Dương. Trống có một khuôn mặt dương (trống có một nghĩa là đực) biểu tượng cho Hùng Vương có Hùng có một nghĩa là Đực, Dương. Trống đồng là trống nòng nọc, âm dương nên là trống biểu của Hùng Vương mặt trời lưỡng tính, sinh ra từ bọc trứng thế gian có hai nhánh dương lửa theo mẹ lên núi và nhánh âm nước theo cha xuống biển.

.Khoảng không gian giữa tia sáng có hình thái tứ tượng (hiện hiểu lầm là ‘họa tiết lông công’ cho biết trống diễn tả trọn vẹn quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh. Trống là trống biểu của một ngành, một họ gồm cả bốn đại tộc ứng với tứ tượng. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt gồm cả bốn đại tộc Man Việt, Kì Việt, Lạc Việt và Lang Việt.

.Những vành sinh tạo vận hành quanh mặt trời diễn tả tứ hành cũng cho biết trống diễn tả trọn vẹn quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt cho thấy trống Ngọc Lũ I nói riêng và trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn nói chung diễn tả Việt Dịch Đông Sơn dựa trên nòng nọc (âm dương), tứ hành hoàn toàn khác với dịch Hoa Hạ dựa trên Ngũ Hành. Tứ hành mới chính xác, mới chuẩn còn ngũ hành sai lạc (Sự Khác Biệt Giữa Việt Dịch và Dịch Trung Quốc).

.Vành chim nông-mang hươu: có chim biểu tượng cõi trên, cõi trời. Chim nông là loai chim nước biểu tượng phía âm Khôn. Khôn âm là chim nông nước, bồ nông và Khôn dương là khí gió, bổ nông. Chim bổ nông (ở bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa) mang tính chủ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt chim nông là chim biểu nhánh Lạc Long Quân-Thần Nông, Chim bổ nông là chim biểu thiếu âm khi gió ứng với Nông của Thần Nông. Hươu nai mang tính biểu tượng tín ngưỡng có hai khuôn mặt biểu tượng lửa thái dương Càn cõi trời ứng với tên mang trời và biểu tượng đất Li thế gian . Vì là thú bốn chân sống trên đất nên Li mang tính chủ. Nai cái là âm thái dương, Càn âm. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt hươu là thú biểu lửa dương thái dương cõi trời thế gian Càn Đế Minh và lửa thiếu dương cõi đất thế gian  Kì Dương Vương. Nai cái biểu tượng cho Càn âm ừng với khuôn mặt Nàng Lửa, Nữ Thần Mặt Trời Âu Cơ và Li âm đất âm Cấn ứng với khuôn mặt trời Cấn Non Âu

.Trống có vành chủ chốt là vành số 6 diễn tả cảnh sinh hoạt nhân sinh. Số 6 là số âm thái dương cho thấy những người và vật ở vành này đều mang tính thái dương thuộc ngành mặt trời thái dương. Người là Người Mặt Trời Thái Dương ứng với Người Việt Mặt Trời Thái Dương hay Viêm Việt (với Viêm nghĩa là nóng, lửa, mặt trời nguyên tạo).  Người gồm có hai nhóm: nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương và nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm.

Người cuối cùng của nhóm nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương có trang phục đầu hình quả bầu nậm biểu tượng Người Đại Vũ Trụ cho biết hai nhóm người thuộc chủng Người Vũ Trụ ứng với truyền thuyết và cổ sử Việt nói rằng Đại Tộc Việt sinh ra từ một quả bầu (vũ trụ). Người Việt chui ra trước có da sáng hơn các tộc chui ra sau.

Ngoài người cuối cùng này ra, còn lại 12 người tiểu vũ trụ của hai nhóm đều hóa trang thành người chim mặt trời. Đây là những người mặt trời.  Mười hai người có trang phục đầu giống nhau cho biết cả hai nhóm cùng một ngành. Trang phục đầu của 12 người này hình chim cho biết họ là Người Mặt Trời. Hình trang phục đầu hình chim có góc cạnh, sắc, nhọn là hình chim Rìu Chim Việt ngành mặt trời thái dương cho biết là họ là Người mặt trời Mặt Trời thái dương thuộc ngành nọc mặt trời thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là người chim Rìu Lửa Việt, Người Việt Mặt Trời Thái Dương ngành mặt trời Viêm Đế-Thần Nông thái dương (xin nhắc Thần Nông ở ngành Việt Mặt Trời là khuôn mặt Thần Nông mặt trời thái dương của thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông Tạo Hóa nhất thể lưỡng tính nòng nọc, một nhân vật duy nhất có hai khuôn mặt: dương mặt trời Viêm Đế thái dương và âm mặt trời Thần Nông thái dương. Cần phân biệt với Thần Nông thái âm, không gian, Khôn  ứng với cực âm).

.Ở vùng đất âm gần biên trống, vành 18 cò gió Đoài biểu tượng cõi trời 18 tộc gió thuộc phía thái dương của nhành nòng âm ứng với Lạc Long Quân-Thần Nông thái dương. 18 chim đứng đất Li biểu tượng cõi trời 18 tộc đất thuộc phía thái dương của nhánh nọc dương ứng với Kì Dương Vương-Viêm Đế dưới dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ cõi trời vùng đất âm. Hàng cò cường điệu cho thấy khuôn mặt Đoài mang tính trội ở vùng đất âm. Đây là Liên Bang Văn Lang Hùng Vương lịch sử. Số 18 là mã số DNA của Hùng Vương. Ba mươi sáu con chim có thể là 36 tộc,  36 nước, 36 quốc gia của Liên Bang Văn Lang Hùng Vương.

.Biên trống có hai vành nọc mũi mác nọc dương thái dương cho biết trống thuộc nhánh mặt trời thái dương nóng bỏng rạng ngời ứng với nhánh Viêm Đế, Đế Minh  dương thái dương hay mặt trời chính ngọ Kì Dương Vương đội lốt Đế Minh, Viêm Đế. Hai vành này kẹp giữa hai vành sóng vòng tròn có chấm có tiếp tuyến Li/Đoài vận hành ở dạng lưỡng hợp thế gian tiểu vũ trụ thiếu dương Li với thiếu âm Đoài. Li là khuôn mặt chủ của hai đại tộc Càn Li của ngành phụ Càn dương và Đoài là khuôn mặt chủ của hai đại tộc Chấn Li của ngành phụ Càn âm.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống lưỡng hợp đại tộc đất thiếu dương dòng Li Kì Việt với đại tộc gió thiếu âm dòng Lang Việt với Ki Việt mang tính chủ.

.Ở vùng nước tang trống có 6 chiếc thuyền. Số 6 là số âm thái dương. Những thuyền và người trên thuyền thuộc mang tính âm thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt thuộc nhánh Thần Nông thái dương. Âm thái dương có Đoài vũ trụ khí gió khí gió Nông của Thần Nông mang tính chủ. Vì thế người trên thuyền có trang phục hình đầu chim Rìu Nước Bổ Nông ứng với chim Việt Nước, Chim Lạc nông đường nga họ nhà ngỗng trời. Ở vùng đất dương trên mặt trống là Người Việt chim Hồng và ở vùng nước tang trống là Người Việt chim Lạc.

Những thuyền này là Thuyền Phán Xét Linh Hồn đúng theo khuôn mặt trống biểu tượng vũ trụ giáo.

Qua sự kiện là trên chiếc thạp đồng tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương Triệu Mô, Quảng Châu cũng có hình thuyền phán xét linh hồn, ta thấy trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống họ hàng có thuyền phán xét linh hồn phải là trống biểu, quốc biểu của vua chúa, lãnh tụ của người Việt.

Trống mang trọn vẹn vũ trụ luận, dịch lý nòng nọc ăn khớp với Tiên Thiên Bát Quái (ngành phụ Càn Khôn) và Hậu Thiên Bát Quái (ngành phụ Càn Tốn). Mọi chi tiết đều được diễn tả bằng hình ảnh theo dịch nòng nọc và được diễn đạt bằng chữ nòng nọc một cách hết sức tinh vi, tiêu chuẩn. Điểm này cho thấy người Đông Sơn đã hiểu rõ dịch học một cách hết sức uyên bác, không thể tìm thấy được trong bất cứ một quyển sách dịch nào hiện nay. Từng chi tiết nhỏ không sai trật với dịch nòng nọc, một thứ dịch nguyên khởi còn có âm dương đề huề, dựa trên nòng nọc, tứ hành khác với các dịch que (hai hào dương và hào âm đều có hình nọc que) đã dương hóa, dương trội, những dịch muộn duy tục sau này dựa trên âm dương, ngũ hành.

Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là một bộ dịch đồng bằng hình ảnh duy nhất của nhân loại, một siêu phẩm, một bảo vật của Việt Nam và nhân loại.

Trống Ngọc Lũ I là Ngành Càn trống thuộc nhóm trống Mặt Trời Thái Dương ta có thể dùng trống này làm kim chỉ nam để giải độc trống Hoàng Hạ là trống ngành Khôn thuộc nhóm trống Mặt Trời Thái Âm có tính nòng nọc (âm dương) đối cực (theo Càn Khôn lưỡng cực) với trống Ngọc Lũ I (xem trống Hoàng Hạ). Ta cũng có thể dựa vào trống Càn trống Ngọc Lũ I để giải đọc Miếu Môn I cùng nhóm trống mặt trời thái dương với trống Ngọc Lũ I nhưng là trống biểu của một đạc tộc Chấn có tính nòng nọc (âm dương) đối tượng (theo tượng Chấn Càn lưỡng hợp) (xem trống Miếu Môn I).

Nhìn tổng lược:

Trống Ngọc Lũ I trống thuộc nhóm mặt trời thái dương 14 nọc tia sáng là trống biểu ngành mặt trời thái dương, Càn thế gian của người mặt trời thái dương thuộc họ mặt trời thế gian. Trống diễn tả trọn vẹn vũ trụ thuyết của cả nhánh nọc Càn ngành thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt trống Ngọc Lũ I có hai tộc người: nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương và nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm. Người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu bầu nậm, nhìn theo lưỡng cực diễn tả người vũ trụ. Nhìn theo duy dương là người mặt trời lưỡng tính tạo hóa. Còn lại 12 người đều có trang phục đầu chim Rìu, chim Việt Cắt Lửa (Great Hornbill), chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế thái dương. Đây là Người Việt Mặt Trời Thái Dương của chủng người vũ trụ (có trang phục đầu bầu nậm vũ trụ).

Trống Ngọc Lũ I là trống biểu của nhánh Chim Rìu Lửa, Chim Việt Lửa, Chim Cắt Lửa Hồng hoàng (tên Hán Việt của chim cắt), chim biểu của Viêm Đế, thần mặt trời thái dương.

Trong khi trống Hoàng Hạ là trống biểu của nhánh Chim Rìu, Chim Việt Nước, chim Việt Lạc Bổ Nông (xem trống này). Trống Ngọc Lũ I và trống Hoàng Hạ gộp lại là hai trống biểu toàn hệ tộc Người Việt Mặt Trời Thái Dương gồm hai ngành: ngành Chim Rìu, Chim Việt Lửa, Chim Hồng Hoàng và ngành Chim Rìu Nước, Chim Việt Nước, Chim Lạc Nông của hệ, họ Chim Hồng Lạc. NHìn theo diện thế gian đại tộc Li Kì Dương Vương và đại tộc Lang Hùng Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ thuộc dòng mặt trời thái dương Viêm Đế-Thần Nông

Lưu Ý

Có người thắc mắc tại sao trống Ngọc Lũ I có Đại tộc Li Đất dương mang tính chủ ta không chọn khuôn mặt chủ Li làm khuôn mặt tiêu biểu của trống. Xin thưa tôi chọn khuôn mặt toàn Ngành Càn Thế Gian gồm cả Càn Li làm khuôn mặt tiêu biểu cho trống vì: 1. Trống thuộc nhóm thái dương Càn diễn tả trọn vẹn toàn ngành Càn. 2. Trống còn có sự lưỡng hợp giữa nhánh Càn với nhánh Khôn của ngành này, chứ không phải chỉ diễn đạt riêng cho đại tộc Li Đất dương. 3. Điểm chính yếu là có sự hiện diện của người chủng Người Vũ Trụ ở nhóm 7 người nhẩy múa thì hiển nhiên trống biểu tượng cho ngành chứ không thể là trống biểu cho một đại tộc. 4. Càn thế gian ngành thái dương đã hàm ý nói có Li là khuôn mặt mang tính chủ.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: