NHÓM TRỐNG THÁI DƯƠNG NGỌC LŨ I: TRỐNG BIỂU NGÀNH MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG, CÀN THẾ GIAN (19).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

*Đang nhuận sắc lại.

TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG.

NGỌC LŨ I, TRỐNG BIỂU NGÀNH MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG, CÀN THẾ GIAN.  

 (phần 19)

Nguyễn Xuân Quang

 NHẬN DIỆN NHỮNG THUYỀN TRÊN TRỐNG NGỌC LŨ I.

 Mấu Chốt Chính:

Như đã biết ta có thể nhận diện ra danh tính 6 con thuyền qua mấu chốt là Cầu Thử Thách, Tay Chèo và Rìu Biểu của người thuyền trưởng. Tuy nhiên một mẫu chốt thấy ngay lập tức và rất dễ nhận ra là phần hạ thế của cây Cầu Thử Thách Tam Thế tức phần dưới gầm sàn cầu.

Thuyền ở vùng nước mang âm tính nên có sự hiện diện của các khuôn mặt âm, nữ  của vũ trụ tạo sinh. Phần hạ thế, âm thế dưới gầm sàn cầu tam thế diễn tả các khuôn mặt âm nữ này như lưỡng nghi: cực âm, cực dương và tứ tượng âm là Khôn, Khàm, Tốn, Cấn. Chỉ cần nhận diện ra các khuôn mặt âm này ta suy ra được ngay các khuôn mặt hôn phối tương ứng của 4 phía dương:

-Thuyền số 1 gầm sàn cầu để một bình đựng cổ cao mang dương tính biểu tượng cho cực âm Khôn dương Đoài vũ trụ khí gió-Chấn.  

-Thuyền số 2 gầm sàn có một chiếc trống. Trống có một nghĩa theo duy dương là đực (gà trống) ta biết ngay thuyền này biểu tượng cực dương Càn-Li.

-Thuyền số 3 gầm sàn có một bầu nước đun sôi diễn tả nước thiếu âm Khảm hôn phối với Li. Thuyền này là thuyền Khảm-Li.

-Thuyền số 4 gầm sàn có một chiếc trống không có trục mang âm tính hình núi âm bằng đầu tức non Cấn hôn phối với thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Thuyền này là thuyền Cấn-Đoài vũ trụ khí gió.

-Thuyền số 5 gầm sàn có hai cái bình cổ cao mang dương tính. Bình nhỏ bầu nậm rượu là bình gió âm thái dương Tốn hôn phối với bình to rộng miệng là bình nước dương Chấn.  Thuyền này là thuyền Tốn-Chấn.

-Thuyền số 6 gầm sàn trống không diễn tả Khôn hôn phối với Càn. Thuyền này là thuyền Khôn-Càn.

Ta đã hiểu rõ về cấu trúc, các tài vật (paraphernalia) của con thuyền và người trên thuyền, bây giờ ta có thể nhận diện các con thuyền một cách rất dễ dàng. Như đã biết trên trống Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống thái dương mặt trời 14 nọc tia sáng này  ở vùng đất dương trên mặt trống, người thuộc nhánh Càn Li với Li mang tính chủ vì là trống thế gian và ở vùng nước tang trống, người thuộc nhánh Chấn-Đoài vũ trụ khí gió với Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ.

Vì Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ chúng ta khởi đầu khảo sát thuyền đại diện liên đại tộc Chấn-Đoài vũ trụ khí gió trước tiên rồi theo chiều dương ngược chiều kim đồng hồ kế đến thuyền đại diện Càn-Li và sau đó tới bốn thuyền của bốn tộc Li, Đoài vũ trụ khí gió, Chấn, Càn.   

1. Thuyền số 1 đại diện hai đại tộc Chấn-Đoài vũ trụ khí gió.

Như đã biết qua mấu chốt Cầu Thử Thách, Tay Chèo, Người và phần hạ thế gầm cầu thử thách thuyền này là thuyền Chấn-Đoài vũ trụ khí gió với Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ.

Thuyền  số 1 dẫn đầu là thuyền đại diện hai đại tộc Chấn-Đoài vũ trụ khí gió (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Ta chỉ cần kiểm chứng lại qua chính con thuyền.

Thuyền này có những phần như sau:

Thân thuyền.

Tổng quát thân 6 con thuyền có hình võng, vòng cung lõm rất cong có nhiều âm tính  mang hình ảnh vật đựng thái âm, nước. Thuyền là một con rắn: đầu rằn và đuôi chim. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là thuyền Rắn-Chim, Rồng-Tiên, Lạc Hồng phía nòng âm, nước. Trên thân thuyền có những chữ, dấu (signs) nòng nọc vòng tròn-que cho biết danh tính của thuyền. Ở thuyền này những chữ nòng nọc vòng tròn-que sọc ngang song song là nước Chấn và các sọc nghiêng có chấm nọc dương là Đoài vũ trụ khí gió như thế danh tính của thuyền là thuyền Chấn-Đoài vũ trụ khí gió. Ở giữa thân thuyền này có một khoảng trống không giống hình một vật đựng trống rỗng. Vật đựng diễn tả Chấn và trống không diễn tả khí, gió Đoài vũ trụ khí gió, đây là hình ngữ, bảng tên Chấn-Đoài vũ trụ khí gió của con thuyền.

Dưới thuyền không có nước, thuyền như đang bay trong không trung.

Mũi thuyền.

Sáu thuyền, nhìn chung đều có mũi giống nhau chỉ khác về chi tiết nòng nọc, âm dương diễn tả theo các diện khác nhau của Vũ Trụ luận

Mũi thuyền biểu hiện đầu linh thú Rắn nước.

Con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm có chấm con ngươi xác thực con thú này sống được dưới nước là Rắn Nước. Nếu nhìn theo cả con mắt là từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn. Như thế đầu thuyền là Rắn Chấn nước thái âm ngành thái dương và đuôi thuyề đầu chim bổ nông Đoài vũ trụ khí gió (xem dưới). Rõ ràng thuyền là thuyền Chấn-Đoài vũ trụ khí gió.

Mũi thuyền đầu rắn nước diễn tả trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh thấy qua qui trình thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng.

Như đã biết, miệng Rắn Nước há to diễn tả nòng, âm bộ phận sinh dục nữ, không gian (Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng) có một khuôn mặt là cực âm. Trong miệng rắn có con chim Rìu Cắt lửa biểu tượng cho nọc, dương, bộ phận sinh dục nam, mặt trời có một khuôn mặt là cực dương. Đầu thuyền diễn tả lưỡng hợp Rắn Nước thái âm với Chim Rìu Lửa thái dương tức lưỡng hợp thái âm thái dương ngành mặt trời thái dương. Đây là dạng lưỡng hợp Khôn-Càn. Rắn Chim nằm trong nhau nhìn dưới dạng nhất thể ứng với thái cực. Rắn chim nhìn riêng rẽ dưới dạng giao hợp ứng với lưỡng nghi.

Lưu Ý

Đây là dạng lưỡng hợp lưỡng cực nòng nọc (âm dương) đề huề Rắn nòng, âm, nường  Chim nọc dương, nõ nhìn theo tổng thể, cần phân biệt với lưỡng hợp chim cắt với chim nông chỉ riêng ở cõi tạo hóa, cõi trời vì cả hai đều là chim.

Ở thuyền này ta thấy:

Hàm trên mang dương tính có mũi hình rìu biểu tượng cho đất thế gian Li. Ở cạnh có từ chấm-vòng tròn có một nghĩa thái dương, mặt trời, Càn. Ngay dưới có thêm từ (word) ba nọc que Càn, lửa thái dương, mặt trời xác thực ý nghĩa Càn của từ chấm-vòng tròn.

Hàm dưới mang âm tính có phần dưới hình phướn gió có các sọc ngang gió bay Đoài vũ trụ khí gió. Phần trên có các sọc đứng diễn tả nước rơi từ trời Chấn.

Rõ như ban ngày đầu thuyền rắn nước diễn tả trọn vẹn thái cực, lưỡng nghi và tứ tượng. Ta thấy rõ thuyền này là thuyền thiêng liêng mang trọn thuyết vũ trụ tạo sinh của vũ trụ giáo nên là thuyền Phán Xét Linh Hồn là chuyện tất nhiên. Tuyệt nhiên không phải là thuyền chiến, ‘thuyền lính thủy đánh bộ’, thuyền ăn mừng chiến thắng…

Cũng cần nói thềm là Rắn có mũi Rìu là Rắn Việt, rắn nước có mũi rìu là Rắn Rìu Nước, Rắn Lạc Việt, Chim Rìu Lửa Chim Cắt là Chim Hồng (hoàng) Việt. Miệng rắn diện tả lưỡng hợp Rắn Lạc Việt với Chim Hồng Việt lưỡng cực.

Bánh Lái.

Bánh lái ở đây hình hộp trống không diễn tả không gian trong có từ hai nọc que II có một nghĩa thái dương.không gian dương là khí gió cho biết khuôn mặt trời Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ.Bánh lái trông cũng giống cây quạt dạng phướn gió.

Đuôi thuyền

Đuôi thuyền đầu chim có con mắt âm nước chấm-hai vòng tròn đồng tâm. Bờm hình phướn gió. Túi nang dưới cổ thể điệu hóa mang dương tính có góc cạnh diễn tả không gian dương, trong cò từ ba nọc que lửa thái dương Càn. không gian dương, Càn là Khôn dương khì gió Đoài vũ trụ khí gió. Đây là con bổ nông gió Đoài vũ trụ khí gió. Như thế rõ như ban ngày thuyền có đầu Rắn nước Chấn và đuôi Chim Bổ Nông gió là thuyền Chấn-Đoài vũ trụ khí gió.

Dưới đuôi thuyền có hình ngữ hình hộp chữ nhật không gian rong có những nọc chấm đặc dương diễn tả không gian dương khí gió Đoài vũ trụ khí gió.

Sau đuôi thuyền chim bổ nông gió này có đầu chim mỏ rìu có mũ sừng, có con mắt dương chấm vòng tròn là con chim cắt. Ở đuôi thuyền nên mang âm tính tức con chim rìu bồ cắt thiếu dương. Đuôi thuyền có lưỡng hợp chim bổ nông gió thiếu âm với chim bồ nông đất thiếu dương tức lưỡng hợp dạng thiếu âm thiếu dương Trời-Đất thế gian, tiểu vũ trụ.

Trống Cây Vũ Trụ:

Trống Cây Vũ Trụ trên thuyền 2 trên trống Ngọc Lũ I.

Trống Cây Vũ Trụ phần phía trước có đầu chim nông cho biết thuộc ngành âm nước với khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ.  Sau đầu chim này là đoản dao hình thoi không cân. Phần dưới hình chữ V dài hơn phần mũi mác ở trên manh tính chủ. Chữ V có một nghĩa là nước vực thẳm Chấn (trong có dấu tam giác ngược đặc xác thực nghĩa nước âm thái dương)  (xem Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que từ Hai Nọc Que Kết Hợp Thành Chữ V). Phần đầu mũi dao hình nọc mũi mác có một nghĩa thái dương (trong có dấu nọc mũi mác đậm nét xác thực nghĩa thái dương). Như thế đoản đao biểu tượng Chấn nước thái dương. Ở giữa trống có chữ chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu âm Đoài.

Như vật trống Cây Vũ Trụ này diễn tả nhánh hai đại tộc Chấn-Đoài vũ trụ (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng) một lần nữa xác thực thuyền này là thuyền Chấn-Đoài vũ trụ khí gió.

Cầu Thử Thách.

Cầu Thử Thách hay Cầu Gian Nguy trên thuyền 2 trống Ngọc Lũ I.

Như đã biết Cầu Thử Thách và người gác cổng thiên đường đứng trên cầu thử thách trần truồng thuộc dòng nước Chấn.

Tay chèo

Như đã biết tay chèo đầu chim nông gió Đoài vũ trụ khí gió.

Người

Như đã biết người thuyên trưởng thuộc tộc Chấn ngành chim nông Đoài vũ trụ khí gió vùng nước.

Tóm lại, thuyền là thuyền rắn nước Chấn-chim nông gió Đoài vũ trụ khí gió. Tất cả các chi tiết trên thuyền 1 đều ăn khớp với nhánh âm Chấn-Đoài của người tộc Nước và Chấn là khuôn mặt mang tính chủ. Thuyền diễn tả hai cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) của hai đại tộc Chấn Đoài vũ trụ khí gió. Thuyền mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận với đầu thuyền lưỡng hợp Rằn Nước thái âm với Chim Lửa thái dương ở dạng khôn-càn vũ trụ và đuôi thuyền lưỡng hợp chim bổ nông thiếu âm với chim bồ cắt thiếu dương ở dạng trời đất thế gian.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là thuyền Chấn-Đoài vũ trụ khí gió Lạc Việt-Lang Việt phía mặt trời Thần Nông thái dương ngành nòng âm nước. Đầu thuyền lưỡng hợp Rắn Rìu Nươc Lạc Việt với Chim Rìu Lửa Cắt Hồng ổ dạng càn khôn lưỡng cực.

2. Thuyền số 2  đại diện hai đại tộc Càn-Li.

Như đã biết qua mấu chốt Cầu Thử Thách, Tay Chèo, Người và phần hạ thế gầm cầu thử thách thuyền này là thuyền Càn-Li với Li mang tính chủ vì là trống thế gian.

Thuyền số 2 đại diện hai đại tộc Li Càn (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Thân thuyền

Mấu chốt đặc thù là ở giữa thân thuyền có hình vật đựng đĩa hay chậu nổi (mầu đen) clip_image065 diễn tả đất âm siêu nòng âm. Hình này có một khuôn mặt là hình tam giác ngược cắt bỏ đầu có một nghĩa biểu tượng cho đất: ‘inverted triangle (with apex pointing downwards), with the tip cut off, symbolizes earth’ (J. E. Cirlot, A Dictionary of Symbols).

Môn phái luyện kim đan (alchemism) có biểu tượng hình tam giác ngược cắt bỏ đầu biểu tượng cho đất có lẽ lấy từ nguồn gốc này:

clip_image081

Hình clip_image082này cũng có thể coi là hình thang ngược  biểu tượng cho đất.

J. E. Cirlot trong Dictionary of Symbols cũng xác nhận: “Greek frets and the broken line fashioned after the trapeze are usually said to correspond to earth-symbolism” (các viền trang trí và đường đứt đoạn được thiết kế theo hình thang thường được cho là tương ứng với biểu tượng-đất).

 

Như thế thuyền có một khuôn mặt đất thiếu dương Li mang tính chủ.

Mũi thuyền

Cũng ở dạng lưỡng hợp Rắn thái âm Chấn với Chim thái dương Càn đại vũ trụ ngành thái dương.

Ở đây điểm đặc thù nhất là mũi thuyền đầu rắn nước có sừng cong như sừng tê giác. Sừng là nọc nhọn biểu tượng cho nọc, dương và cong mang âm tính. Sừng nhọn và cong mang âm tính này diễn tả Càn âm của ngành nòng âm, nước tức Thần Nông thái dương.  Trong sừng có đánh dấu hay viết chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que cong cũng xác thực sừng là sừng nọc dương Càn phía nòng âm nước.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, An Dương Vương  dòng Lạc Long Quân (được thần Rùa Vàng,  một thú biểu của Lạc Long Quân giúp xây thành Cổ Loa) lúc cuối đời cầm sừmg tê giác 7 khấc rẽ nước đi xuống biển về với Lạc Long Quân.  Sừng tê giác có 7 khấc với số 7 là số Càn biểu tượng cho  nọc dương Càn Li  ngành nòng nước thái dương giống như sừng tê giác có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que ở thuyền này.

Tay lái

Tay lái hình cây trụ nọc cắm trên mô đất diễn tả núi trụ thế gian biểu tượng đất Li giống như hình cây đa trên gò đất là miếu thổ thần thần ở cánh đồng miền Bắc Việt Nam.

Sừng và tay lái diễn tả Li Càn dòng nòng nước thái dương.

Đuôi thuyền

Đuôi thuyền đầu chim nước nông có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm nước, bờm có những sợi lông dài như tia sáng mang dương tính Càn dòng âm nước,  mỏ có túi nang hình rìu chữ nhật biểu tượng cho đất Li ngành nòng âm. Đầu chim bổ nông này diễn tả nhánh Li-Càn của dòng nước.

Dưới đuôi thuyền có hình ngữ hộp chữ nhật có một nghĩa thiếu dương đất Li (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Dấu, Hình, Biểu Tượng Hình Học) có chấm nọc dương Càn  biểu Li Càn.

Sau đuôi thuyền chim bổ nông gió này có đầu chim mỏ rìu có mũ sừng, có con mắt dương chấm vòng tròn là con chim cắt. Ở đuôi thuyền nên mang âm tính tức con chim rìu bồ cắt thiếu dương. Đuôi thuyền có lưỡng hợp chim bổ nông gió thiếu âm với chim bồ nông đất thiếu dương tức lưỡng hợp dạng thiếu âm thiếu dương Trời-Đất thế gian, tiểu vũ trụ.

Tóm gọn lại, đuôi thuyền chim nông diễn tả nhánh Li-Càn của dòng Nước.

Cũng có sự hôn phối, giao hòa giữa đuôi thiếu âm bổ nông với đầu chim  bồ cắt thiếu dương ở ngay sau đuôi thuyền ở cõi tiểu vũ trụ.

Trống Cây Vũ Trụ

 Trống Cây Vũ Trụ trên thuyền số 2 trên trống Ngọc Lũ I.

Trống Cây Vũ Trụ phần phía trước có đầu chim nông cho biết thuộc ngành âm nước với khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ.  Sau đầu chim này là hai sừng hươu âm diễn tả đất Li ngành nòng âm, nước. Phần sau gáy hình tia sáng gẫy diễn tả Càn âm.

Trống diễn tả Li Càn nhánh hai đại tộc Càn Li ngành nòng âm, nước.

Cầu Thử Thách hay Gian Nguy.

 Cầu Thử Thách trên thuyền số 2 trên trống Ngọc Lũ I.

Như đã biết Cầu Thử Thách và người gác cổng thiên đường đứng trên cầu thử thách là người thuộc hai đại tộc Li-Càn với khuôn mặt Li mang tính chủ.

Tay chèo

Như đã biết tay chèo đầu chim nông Càn Khôn.

Người

Như đã biết người thuyên trưởng thuộc hai đại tộc Li Càn vùng nước.

Tóm lại, tất cả các chi tiết trên thuyền số 2 đều ăn khớp với nhánh dương Càn Li của người tộc Nước và khuôn mặt Li mang tính chủ vì trống trống Ngọc Lũ I là trống thế gian. Thuyền diễn tả hai cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

3. Thuyền số 3 Tộc Li.

Như đã biết qua mấu chốt Cầu Thử Thách, Tay Chèo, Người và phần hạ thế gầm cầu thử thách thuyền này là thuyền tộc Khảm-Li.

Thuyền số 3 tộc Khảm-Li (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Thân thuyền

Tương tự thuyền Li Càn số 2 thuyền này cũng có mấu chốt đặc thù là ở thân thuyền có hình vật đựng đĩa hay chậu nổi (mầu đen) clip_image098  hình tam giác ngược cụt đầu hay hình thang ngược biểu tượng cho đất Li. Ta biết ngay thuyền này là thuyền tộc Li. Thân thuyền còn có thêm hình thoi nổi mầu đen biểu tượng cho nước thiếu âm Khảm. Hình thoi biểu tượng cho thiếu âm gió (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que Hình Dấu Hình Học)  mầu đen là mầu thái âm nước. Hình thoi đặc đen diễn tả nước dạng hơi (tạo ra từ hơi nước mây, mưa) tức Khảm vì Khảm OIO là nước O thiếu âm IO. Như vậy qua hai hình ngữ này ta biết ngay thuyền này là thuyền Li-Khảm.

Mũi thuyền

Cũng ở dạng lưỡng hợp Rắn thái âm Chấn với Chim thái dương Càn đại vũ trụ ngành thái dương.

Ở đây điểm đặc thù nhất là mũi thuyền đầu rắn nước cũng có sừng cong như thuyền số 2 nhưng ở đây nhỏ và có đầu bằng biểu tượng cho tộc Li còn sừngg tê giác cường điệu và nhọn ở thuyền Càn Li số 2 biểu tượng cho đại tộc Li mang tính Càn.

Tay lái

Tay lái hình cây trụ nọc cắm trên mô đất diễn tả núi trụ thế gian biểu tượng đất Li giống ở thuyền số 2 nhưng nhỏ hơn vì biểu tượng cho tộc Li thay vì đại tộc Li.

Đuôi thuyền

Đuôi thuyền cũng giống các thuyền trên  duy chỉ có đầu chim nước nông có một đặc điểm là túi nang ở dưới mỏ hình chữ nhật biểu tượng cho đất thiếu âm Li (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Dầu Hình Hình Học).

Tóm gọn lại, đuôi thuyền chim nông diễn tả tộc Li của dòng Nước.

Dưới đuôi thuyền có hình ngữ hình vật đựng phần trên có các sọc song song đứng nước Khảm phần dưới có các nọc chấm đặc lử nguyên tạo Li diễn tả Li Khảm.

Trống Cây Vũ Trụ

 Trống Cây Vũ Trụ trên thuyền số 3 Li trên trống Ngọc Lũ I.

Trống Cây Vũ Trụ phần phía trước có đầu chim nông cho biết thuộc ngành âm nước với khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ. Sau đầu chim có hình con dao ngắn trông giống con dao ngắn ở thuyền số 1 Chấn-Đoài vũ trụ khí gió. Thật ra nhìn kỹ có khác. Phần dưới  là chữ nòng nọc vòng tròn-que chữ V có ít nhất hai nghĩa: nước vực thẳm âm thái dương mang nhiều âm tính nên diễn tả bằng chữ V dài và hẹp và đất vực thằm âm thái dương ít âm tính hơn diễn tả bằng chữ V ngắn và rộng (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ Hai Nọc Que Kết Hợp Thành Chữ V). Vì thế ở đây có nghĩa là đất âm vực thẳm Li âm nên phần chữ V ngắn và rộng hơn chữ V nước vực âm thái dương Chấn ở thuyền số 1.

Giữa mặt trống có từ chấm vòng tròn có một nghĩa thiếu dương Li.

Trống là trống biểu tượng của tộc Li ngành nòng âm, nước.

Cầu Thử Thách hay Gian Nguy.

 Cầu Thử Thách trên thuyền số 3 Li trên trống Ngọc Lũ I.

Như đã biết Cầu Thử Thách và người gác cổng thiên đường đứng trên cầu thử thách là người thuộc tộc Li-Khảm.

Tay chèo

Như đã biết tay chèo đầu chim nông Li.

Người

Như đã biết người thuyên trưởng thuộc hai đại tộc Li vùng nước.

Tóm lại, tất cả các chi tiết trên thuyền số 3 đều ăn khớp với tộc Li của người tộc Nước. Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

4. Thuyền số 4 Tộc Đoài vũ trụ khí gió.

Như đã biết qua mấu chốt Cầu Thử Thách, Tay Chèo, Người và phần hạ thế gầm cầu thử thách thuyền này là thuyền tộc Cấn-Đoài vũ trụ khí gió.

Thuyền 4 tộc Cấn-Đoài.

Thân thuyền

Cũng có một mấu chốt đặc thù là ở thân thuyền có khoảng để trống không  biểu tượng cho khí gió.

Như vậy ta biết ngay thuyền này là thuyền Đoài vũ trụ khí gió.

Mũi thuyền

Cũng ở dạng lưỡng hợp Rắn thái âm Chấn với Chim thái dương Càn đại vũ trụ ngành thái dương.

Ở đây điểm đặc thù nhất là mũi thuyền đầu rắn trống trơn không có sừng và tay lái.

trống không biểu tượng cho không khí gió.

Tay lái

Không có biểu tượng cho gió, không khí.

Đuôi thuyền

Đuôi thuyền cũng giống các thuyền trên  duy chỉ có đầu chim nước nông có một đặc điểm là túi nang ở dưới mỏ hình mào, bờm  gió.

Tóm gọn lại, đuôi thuyền chim nông diễn tả tộc gió Đoài vũ trụ khí gió của dòng Nước.

Dưới đuôi thuyền có hình ngữ hộp không gian có nọc chấm đặc dương là không gian dương khí gió Đoài vũ trụ khí gió.

Trống Cây Vũ Trụ

 Trống Cây Vũ Trụ trên thuyền  Đoài vũ trụ khí gió trên trống Ngọc Lũ I.

Trống Cây Vũ Trụ phần phía trước có đầu chim nông cho biết thuộc ngành âm nước với khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ. Sau đầu chim có vòng cung cong diễn tả bầu trời trong có các nọc chấm đặc mang tính dương. Bầu trời dương là Khôn dương khí gió.

Giữa mặt trống có từ chấm vòng tròn có một nghĩa thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió.

Trống là trống biểu tượng của tộc Đoài vũ trụ khí gió  ngành nòng âm, nước.

Cầu Thử Thách hay Gian Nguy.

 Cầu Thử Thách trên thuyền số 4 Đoài vũ trụ khí gió trên trống Ngọc Lũ I.

Như đã biết Cầu Thử Thách và người gác cổng thiên đường đứng trên cầu thử thách là người thuộc tộc Đoài vũ trụ khí gió-Cấn.

Tay chèo

Như đã biết tay chèo đầu chim bổ nông gió.

Người

Như đã biết người thuyên trưởng thuộc  tộc Đoài vũ trụ khí gió vùng nước.

Tóm lại, tất cả các chi tiết trên thuyền số 4 đều ăn khớp với tộc Đoài vũ trụ khí gió  của người tộc Nước. Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

5, Thuyền số 5 Tộc Chấn. 

Như đã biết qua mấu chốt Cầu Thử Thách, Tay Chèo, Người và phần hạ thế gầm cầu thử thách thuyền này là thuyền tộc Tốn-Chấn.

 Thuyền số 5 tộc Tốn-Chấn.

Thân thuyền

Cũng có một mấu chốt đặc thù là ở thân thuyền có các sọc song song ngang dài hơn tất cả các hình khác ngay dưới chân người phán xét linh hồn diễn tả nước bằng thế gian Chấn.

Như vậy ta biết ngay thuyền này là thuyền tộc Chấn.

Mũi thuyền

Cũng ở dạng lưỡng hợp Rắn thái âm Chấn với Chim thái dương Càn đại vũ trụ ngành thái dương.

Ở đây điểm đặc thù nhất là mũi thuyền đầu rắn  có sừng giống vòi nước Chấn.

Tay lái

Tay lái giống vòi hoa sen nước.

Đuôi thuyền

Đuôi thuyền cũng giống các thuyền trên  duy chỉ có đầu chim nước nông có một đặc điểm là túi nang ở dưới mỏ hình tam giác ngược hay chữ V trong có các sọc nước diễn tả nước âm thái dương Chấn âm.

Tóm gọn lại, đuôi thuyền chim nông nước diễn tả tộc Chấn của dòng Nước.

Dưới đuôi thuyền có hình dòng nước chẩy theo gió tạt Chấn vì con thuyền đang bay trong không trung.

Trống Cây Vũ Trụ

 Trống Cây Vũ Trụ trên thuyền 5 Chấn trên trống Ngọc Lũ I.

Trống Cây Vũ Trụ phần phía trước có đầu chim nông cho biết thuộc ngành âm nước với khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ. Sau đầu chim không có gì cả ở đây là gió phía nòng âm là Tốn có một nghĩa gió âm. Giữa mặt trống có từ từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn.

Trống là trống biểu tượng của tộc Chấn-Tốn.

Cầu Thử Thách hay Gian Nguy.

 Cầu Thử Thách trên thuyền số 5 Chấn-Tốn trên trống Ngọc Lũ I.

Như đã biết Cầu Thử Thách và người gác cổng thiên đường đứng trên cầu thử thách là người thuộc tộc Chấn-Tốn.

Dưới gầm cầu có hai cái bình. Hai bình diễn tả hai nòng OO tức thái âm có một khuôn mặt nước Chấn.

Bình bên phải rộng miệng cổ hình nọc cao mang tính thái dương diễn tả nước Chấn giống bình nước Chấn ở thuyền số 1 Chấn-Đoài vũ trụ khí gió. Bình bên trái có hình bầu nậm giống cái ngỗng rượu mang hình ảnh nọc que dương biểu tượng nọc dương phía âm có một khuôn mặt biểu tượng cho gió âm Tốn. Hai bình biểu tượng Chấn-Tốn. Điểm này thấy rõ là hai bình đều có chấm nọc dương, thái dương.  Hai bình cho biết thuyền này biểu tượng tộc nước Chấn đi cặp với Tốn gió âm OII tức thái dương, lửa của âm.

Tay chèo

Như đã biết tay chèo đầu chim bổ nông có bờm tua nước.

Người

Như đã biết người thuyên trưởng thuộc  tộc z Chấn Tốn.

Tóm lại, tất cả các chi tiết trên thuyền số 5 đều ăn khớp với tộc Chấn-Tốn của người tộc Nước. Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

 6. Thuyền số 6 Tộc Càn.

Như đã biết qua mấu chốt Cầu Thử Thách, Tay Chèo, Người và phần hạ thế gầm cầu thử thách thuyền này là thuyền tộc Khôn-Càn.

Thuyền số 6 tộc Khôn-Càn (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Thân thuyền

Cũng có một mấu chốt đặc thù là ở thân thuyền có hình ngữ hộp không gian Khôn trong các nọc chấm đặc Càn diễn tả Càn-Khôn.

Như vậy ta biết ngay thuyền này là thuyền tộc Càn-Khôn.

Mũi thuyền

Cũng ở dạng lưỡng hợp Rắn thái âm Chấn với Chim thái dương Càn đại vũ trụ ngành thái dương.

Ở đây điểm đặc thù nhất là mũi thuyền đầu rắn  không có gì cả diễn tả Khôn (lưỡng hợp với Càn).

Tay lái

Tay lái hình hộp không gian Khôn có nọc que Càn.

Đuôi thuyền

Đuôi thuyền cũng giống các thuyền trên  duy chỉ có đầu chim nước nông có một đặc điểm là túi nang ở dưới mỏ hình hộp không gian trong có ba nọc que Cànà.

Tóm gọn lại, đuôi thuyền chim nông nước diễn tả tộc Càn-Khôn dòng Nước.

Dưới đuôi thuyền có hình hộp không gian trong có ba nọc chấm đặc Càn nguyen tạo.

Trống Cây Vũ Trụ

 Trống Cây Vũ Trụ trên thuyền 6 Càn-Khôn trên trống Ngọc Lũ I.

Trống Cây Vũ Trụ phần phía trước có đầu chim nông cho biết thuộc ngành âm nước với khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ. Đặc biệt đầu chim rất tròn hình nòng O có một nghĩa là không gian Khôn và con mắt là mặt trời Càn. Đầu diễn tả Càn-Khôn. Vì thế sau đầu chim không có gì cả.  Giữa mặt trống có từ từ chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời Càn.

Trống là trống biểu tượng của tộc Càn-Khôn.

Cầu Thử Thách hay Gian Nguy.

 Cầu Thử Thách trên thuyền số 6 Càn-Khôn trên trống Ngọc Lũ I.

Như đã biết Cầu Thử Thách và người gác cổng thiên đường đứng trên cầu thử thách là người thuộc tộc Càn.

Dưới gầm cầu trống không diện tả Khôn lưỡng hợp với Càn.

Tay chèo

Như đã biết tay chèo phần trên hình đầu chim bổ cắt lớn Càn phần dưới hình khiên chữ D kép nhọn hai đầu diễn tả Khôn thái âm ngành thái dương. Tay chèo có một khuôn mặt Càn-Khôn.

Người

Như đã biết người thuyên trưởng thuộc  tộc Càn.

Tóm lại, tất cả các chi tiết trên thuyền số 6 đều ăn khớp với tộc Càn-Khôn của người tộc Nước. Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

Lưu Ý

Nhóm 6 người nhẩy múa và 6 con thuyền đều mang tính Càn âm, Càn Tốn có hai đại tộc Chấn Đoài. Ta thấy rõ thứ tự và danh tính của nhóm 6 người nhẩy múa giống hệt như ở 6 con thuyền. Sáu con thuyền cũng gồm có: thuyền số 1 là Chấn (lưỡng hợp với Càn) đi với người số 1 đại tộc Chấn thái dương. Thuyền số 2 là Đoài (lưỡng hợp với Li) đi với người 2 đại tộc Đoài. Còn lại 4 thuyền đại diện 4 tộc ứng với tứ tượng giống hệt 4 người của 4 tộc ứng với tứ tượng là: thuyền 3 Li đi với người thứ 3 Li. Thuyền 4 Đoài đi với người thứ 4 Đoài. Thuyền 5 Chấn đi với người 5 thổi khèn Chấn âm. Thuyền 6 Càn đi với người 6 Càn. 

Ở đây vùng nước Khôn nên các khuôn mặt nòng âm Khôn. Khảm, Tốn, Cấn thấy rất rõ so với trên mặt trống mang tính dương, Càn. 

Ở thuyền như đã thấy tính nòng nọc (âm dương) rất rõ và rất chuẩn vì thế 6 con thuyền cung cấm những yếu tố mấu chốt xác thực danh tính và thứ tự của nhóm 6 người nhẩy múa. Từ nhóm này ta kiểm chứng lại được nhóm 7 người nhẩy múa.  

Kết Luận

.Thuyền trên trống Ngọc Lũ I là thuyền Rắn nước có sừng Chấn-bổ nông Đoài vũ trụ khí gió phía nòng Khôn.

.Thuyền mang trọn ý nghĩa vũ trụ luận, dịch lý.

Ở đây vùng nước nên các khuôn mặt tứ tượng âm, nữ Khôn, Khàm, Tốn và Cấn co mặt đi cặp đôi với tứ tượng dương thành từng cặp hôn phối Cà-Khôn, Li-Khảm, Chấn-Tốn và Đoài vũ trụ khí gió-Cấn. Đây là những mấu chốt dễ thấy và dễ nhận diện ra danh tính 6 con thuyền.

.Thuyền trên trống Ngọc Lũ I là thuyền thiêng liêng, Thuyền Phán Xét Linh Hồn. Những thuyền này mang tính cách là thuyền phán xét linh hồn cho thấy vai trống tức là Tầng Nước của Cõi Giữa nhân gian có một khuôn mặt là bầu trời âm tạo hóa, Cõi Trên âm của Cõi Nước, Cõi Âm, hạ thế ở chân trống.

.Trong 6 thuyền, hai thuyền biểu tượng âm dương hay hai cực hay hai nhánh âm dương của ngành âm, nước. Bốn chiếc còn lại biểu tượng tứ tượng hay tứ tộc tương ứng với tứ tượng. Những thuyền này thuộc diện thái dương dòng âm.

-Hai thuyền đại diện liên tộc Chấn-Đoài vũ trụ khí gió phía nòng âm và hai đại tộc Càn-Li phía nọc dương ứng lưỡng nghi của vùng người nước:

./Thuyền số 1 biểu tượng nhánh âm Chấn Đoài của người tộc Nước và khuôn mặt Chấn mang tính chủ. Thuyền diễn tả hai cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) ứng với hai đại tộc Chấn Đoài và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

./Thuyền số 2 là thuyền dẫn đầu biểu tượng nhánh dương gồm hai đại tộc Càn Li của người tộc Nước và Li là khuôn mặt mang tính chủ. Thuyền diễn tả hai cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) ứng với hai đại tộc Càn Li và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

-Bốn thuyền biểu tượng bốn tộc ứng với tứ tượng:

./Thuyền số 3 biểu tượng tộc Khảm/Li của người tộc Nước ứng với tượng Li trong  tứ tượng.  Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

./Thuyền số 4 biểu tượng tộc Cấn/Đoài của người tộc Nước ứng với tượng Đoài trong tứ tượng. Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

./Thuyền số 5 biểu tượng chi Tốn/Chấn của người tộc Nước ứng với tượng Chấn trong  tứ tượng. Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

./Thuyền số 6 biểu tượng tộc Khôn/Càn vũ trụ của người tộc Nước ứng với tượng Càn trong tứ tượng. Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

Tất cả thuyền, tài vật, người, thú trên thuyền diễn tả theo chữ nòng nọc vòng tròn-que hoàn chỉnh tuyệt vời.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: