NHÓM TRỐNG THÁI DƯƠNG NGỌC LŨ I: TRỐNG BIỂU NGÀNH MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG, CÀN THẾ GIAN (16).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

*Đang nhuận sắc lại.

TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG.

NGỌC LŨ I, TRỐNG BIỂU NGÀNH MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG, CÀN THẾ GIAN.  

  (phần 16)

Nguyễn Xuân Quang

  THUYỀN TRÊN TRỐNG NGỌC LŨ I.

Mấu Chốt chính.

.Ở vùng nước tang trống của trống ngành Càn nên các thuyền với cảnh sinh hoạt trên thuyền mang âm tính Khôn ngược với mặt trống mang dương tính Càn. Khôn âm là Chấn và Khôn dương là Đoài. Như thế tổng quát thuyền mang tính Chấn Đoài.

.Trống là trống ngành Càn, trên mặt trống có hai ngành phụ: ngành phụ Càn Khôn có hai đại tộc Càn Li và ngành phụ Càn Tốn có hai đại tộc Chấn Đoài. Như thế ở vùng nước 6 con thuyền phải tương ứng với ngành phụ âm Càn Tốn Chấn Đoài nghĩa là 6 con thuyền mang tính Càn Tốn có hai đại tộc Chấn Đoài.

.Như thế danh tính và thứ tự 6 con thuyền phải giống như danh tính và thứ tự của người ở nhóm 6 người nhẩy múa. Ta suy ra ngay trong 6 con thuyền có hai thuyền dẫn đầu số 1 và 2 là thuyền hai đại tộc Chấn-Đoài đại diện cho ngành phụ Càn Tốn Chấn Đoài tương ứng với người 1 và 2 và 4 thuyền số 3 Li, 4 Đoài, 5 Chấn-Tốn, 6 Càn tương ứng với người  số 3 Li, 4 Đoài, 5 Chấn-Tốn, 6 Càn của nhóm 6 người nhẩy múa. 

*

Bây giờ ta đi vào chi tiết.

Sau đây là hình vẽ 6 con thuyền trong quyển Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hiện Ở Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên:

Sáu con thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 

Thuyền có đầu thuyền là đầu linh vật Rắn Nước có mồng, có sừng thái dương biểu tượng cho đại tộc Chấn nước thái dương và đuôi thuyền hình chim Nông mang dương tính biểu tượng Đoài gió thái dương (xem chi tiết ở dưới). Nhánh này là nhánh Rắn Nước-Bổ Nông, Chấn-Đoài. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ứng với Thần-Nông.

Nhìn tổng quát thân sáu con thuyền này đều có những nét chung là những hình ngữ sọc đứng và sọc ngang mang ý nghĩa nòng Khôn gió-nước Đoài Chấn. Thân thuyền chỉ khác nhau qua các chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, các dấu hay các phụ đề thay đổi theo tính âm dương của các đại tộc, tộc…

Như đã nói ở trên, giống như nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm, trong 6 thuyền, có hai thuyền đại biểu cho hai đại tộc ứng với lưỡng nghi phía nòng và 4 thuyền là thuyền biểu tượng của bốn tộc  ứng với tứ tượng. Nói một cách khác có ba thuyền thuộc phía âm, trong đó có một thuyền đại diện cho  đại tộc nòng âm và hai thuyền cho hai tộc âm là nòng thái âm và nòng thiếu âm và 3 thuyền dương trong đó có một thuyền đại diện cho đại tộc nòng dương và hai thuyền cho hai tộc dương là nòng thái dương và nòng thiếu dương.

Hình dạng và kích thước các thuyền trên trống Ngọc Lũ I đều giống nhau nhưng về chi tiết không một thuyền nào giống một thuyền nào. Hiển nhiên mỗi thuyền biểu tượng cho một ngành, nhánh hay một đại tộc, tộc riêng biệt nào đó. Chi tiết là yếu tố quyết định để nhận dạng mỗi thuyền. Trái lại, trên trống Nam Dương Beelaerts, một trống muộn, hình dáng và kích thước các thuyền khác nhau. Trên trống này, hình dạng và kích thước là chìa khóa để nhận dạng các thuyền. Cũng có 6 thuyền, ba thuyền có hình gần giống hình bán nguyệt, hai đầu thuyền có ba vòng tròn đồng tâm tức Khôn (OOO). Đây là ba thuyền thuộc dòng âm. Ba thuyền còn lại mũi nhọn dương, thuộc dòng dương. Bốn thuyền lớn, mỗi thuyền có hai người chèo trang phục lông chim biểu tượng tứ tượng hay bốn tộc tương ứng với  tứ tượng. Hai thuyền nhỏ hơn, mỗi thuyền chỉ có một người chèo, biểu tượng âm dương, lưỡng nghi, hai ngành. Điều này xác định vững chắc rằng 6 thuyền trên trống Ngọc Lũ I có cùng ý nghĩa biểu tượng trong Vũ Trụ giáo như 6 con thuyền trên trống Beelaerts thấy rất rõ qua hình dáng và kích thước khác nhau.

(rất tiếc tôi đã để thất lạc hình 6 con thuyền của trống Beelaerts này ở một chỗ nào đó tìm chưa ra, có thể vào tìm reference trong The The Kettle Drums of Southeast Asia của A.J. Bernet Kempers).

Vậy điểm mấu chốt cốt yếu, sinh tử là phải nhận diện ra hai chiếc thuyền đại biểu cho nhánh nòng âm nước trong 6 chiếc thuyền này. Một trong những đầu mối (clues) là mỗi thuyền có hai cảnh phán xét linh hồn (xem dưới).

Để dễ theo dõi, tôi sắp xếp các hình thuyền lại theo chuyển động vòng tròn như trên vai trống.

6 thuyen

Sáu thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I sắp xếp lại theo chuyển động vòng tròn như trên vai trống. 

Hai thuyền đại diện.

Mấu chốt chính: mỗi thuyền có hai cảnh phán xét linh hồn vì là đại tộc đại diện cho hai tộc của nhóm. Trong khi bốn thuyền biểu của bốn tộc còn lại chỉ có một cảnh phán xét linh hồn.

Trên hai thuyền dẫn đầu 1 và 2 đọc theo chiều âm của nhánh nước, mỗi thuyền có hai linh hồn người chết. Linh hồn người chết trông như trẻ con trần truồng mà hiện nay các học giả về trống đồng hiểu lầm là tù nhân (xem dưới ở phần Người Trên Thuyền) đang ngồi bệt dưới sàn.

Thuyền đại diện số 1 dẫn đầu có hai cảnh phán xét linh hồn.

Thuyền đại diện số 2 sau thuyên dẫn đầu có hai cảnh phán xét linh hồn

Ở thuyền số 2, một trong hai linh hồn bị soi mòn mất chỉ còn một phần nên trông giống như chiếc khăn.

Mỗi thuyền đại diện có hai linh hồn có nghĩa là có hai cảnh phán xét linh hồn của hai tộc của đại tộc trong khi bốn con thuyền còn lại chỉ có một linh hồn người chết tức một cảnh phán xét linh hồn ứng với mỗi tộc.

Dĩ nhiên ngoài hai linh hồncòn nhiều mấu chốt nữa (xem dưới).

Ý Nghĩa Các Con Thuyền

Tôi chia thuyền ra làm hai phần: phần thứ nhất gồm cấu trúc và các tài vật (paraphernalia) của con thuyền và phần thứ hai gồm người, thú trên thuyền.

1. Cấu trúc và Tài Vật của Thuyền.

Thân thuyền.

Bán diện của thuyền hình cong như hình bán nguyệt biểu tượng cho nước dương. Hình cong biểu tượng cho thân của loài bò sát sống được dưới nước như rắn nước, cá sấu (water reptiles). Trên thân thuyền có những chữ nòng nọc hay những hình nòng nọc giúp ta nhận diện ra danh tính con thuyền. Thân của sáu con thuyền căn bản đều có những chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, hình ngữ âm gồm các sọc song song nằm ngang khí gió không gian và các sọc song song đứng nước không gian và các biến thể của chúng như hình răng lược, nhìn chung chung là Khôn. Tóm lại thân thuyền biểu hiện các con thuyền của ngành âm, những con thuyền vũ trụ, không gian. Đầu tất cả sáu tay chèo đều có hình đầu chim cho thấy các con thuyền này có thể bay được trong vũ trụ. Như đã nói ở trên dưới thuyền không có nước.

Mũi thuyền.

Mũi thuyền hình đầu linh thú nước (mythical water creatures). Mắt âm “hai vòng tròn đồng tâm có chấm” xác định con thú này là con thú âm, thú sống được dưới nước, theo duy dương là Chấn. Mũi thuyền biểu hiện đầu linh thú nước. So sánh với truyền thuyền và cổ sử Việt, các thú này có thể là loài “thuồng luồng” (mythical water creatures). Miệng thú há rộng biểu hiện bộ phận sinh dục nữ. Theo truyền thuyết của người Ngaju, Dayak, Borneo, Rắn nước Watersnake Tampon (trong ngôn ngữ Hindu-Javanese gọi là naga) là thần Nước Nguyên khởi hay Âm thế (deity of the Primeval water or Nether world). Dưới thời ảnh hưởng văn hóa Hindu, vị thần này được gọi dưới tên là Bawin Jata Balawang Bulau có nghĩa là “ thần nữ Jata với cửa vàng” (the feminine Jata with the golden door”). Biểu ngữ “cửa vàng” chỉ âm hộ phái nữ (the expression “golden door” is a euphemism for the female pudenda) (Hans Scharer, tr.15). Như thế , theo thuần âm, đầu thuyền hình rắn nước, linh thú nước biểu tượng nòng, âm, nước nguyên khởi, nước vũ trụ, cực âm, thái âm và bộ phận sinh dục nữ, Cõi Âm. Ta cũng đã thấy phần rễ của Cây Vũ Trụ Yggdrasill của người Bắc Âu ứng với Cõi Dưới, Cõi Âm được biểu tượng bằng hình con rắn độc có lưỡi mầu đỏ (xem chương Khái Lược Về Vũ Trụ Giáo).

Một hình chim có mỏ hình rìu lao vào trong miệng linh thú rắn nước.

 Hiển nhiên, chim mỏ rìu là chim dương, chim lửa, biểu tượng cho Lửa Nguyên khởi, Lửa vũ trụ, dương, cực dương và bộ phận sinh dục nam. Dưới một diện, có thể đây là con chim rìu chim mỏ cắt lửa. Rõ như ban ngày, mũi thuyền biểu hiện sự Lưỡng Hợp hay Nhất Thể (Duality or Totality), kết hợp giữa âm dương vũ trụ, thái âm, thái dương, Lửa Nước, Thái Cực, v.v… ở cõi Đại Vũ Trụ (thái âm thái dương có thái là đại).

Chi tiết của đầu linh thú nước cũng diễn tả theo tứ tượng. Mắt hai vòng tròn đồng tâm biểu hiện tượng nước dương Chấn; sừng hay mồng thịt hình nêm, hình tháp biểu hiện đất đá dương Li; những chấm nhỏ biểu hiện tượng lửa nguyên khởi Càn và các sọc song song nằm ngang hay đứng ở hàm dưới, tượng gió vũ trụ Đoài. Đầu thuyền linh thú nước diễn tả trọn vẹn nghĩa vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo.

Đuôi thuyền.

Đuôi thuyền có hình đầu chim có con mắt âm “hai vòng tròn có chấm” và cái túi, cái nang thể điệu hóa, nam hóa có góc cạnh nhọn dưới mỏ-cổ cho thấy đây là đầu chim bổ nông nước.

Một đuôi thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I hình chim bổ nông có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc con ngươi và có túi dưới mỏ hình rìu nhọn.  

Trụ phía sau mũi thuyền diễn tả một hay hai đầu chim. Những đầu chim này có con mắt dương vòng tròn đơn có chấm và chiếc mũ sừng nam hóa cho biết đây là chim bồ cắt. Trụ có hai đầu chim bồ cắt như thấy ở hình trên (thuyền 1 và 4) mang ý nghĩa hai dương, thái dương. Trên trống Hoàng Hạ hai đầu chim bồ cắt này được diễn tả bằng hai cây trụ riêng rẽ. Cây trụ chim bồ cắt này diễn tả Núi Trụ, núi Kỳ, Trụ Chống Trời, Trục Thế Giới, Cõi Đất thế gian. Đuôi thuyền diễn tả sự hôn phối, giao hòa giữa thiếu âm bổ nông với thiếu dương bồ cắt ở cõi Tiểu Vũ Trụ (xem thêm chương Thú Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

Trang trí dưới đuôi thuyền mang ý nghĩa biểu tượng kết hợp thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió và thiếu dương Li ăn khớp trăm phần trăm với sự lưỡng hợp thiếu dương thiếu âm trên mặt trống thấy rõ nhất qua bốn vành ngoài biên trống diễn tả lưỡng hợp thiếu dương thiếu âm ngành thái dương.

Như thế đầu thuyền hình linh thú nước Rắn nước có sừng thái dương tức Chấn nước thái dương có hình chim rìu lửa vũ trụ Càn trong miệng diễn tả sự giao hợp âm dương chim lửa-rắn nước, càn khôn duới dạng thái Cõi Trên Đại Vũ Trụ tức thái dương chim lửa Càn và thái âm rắn nước Chấn. Đuôi thuyền hình đầu chim nông gió có túi, bìu (nang, nông) dưới cổ có góc cạnh mang dương tính, nghĩa là chim nông này là chim dương, thái dương, bổ nông, bổ nông thái dương. Phía sau mũi thuyền có nọc hình đầu chim bồ cắt. Hai đầu chim diễn tả sự giao hợp âm dương dạng thiếu (thiếu âm chim bổ nông với thiếu dương chim bồ cắt) tức Cõi Trời thế gian, Tiểu Vũ Trụ (trời vì là chim).

Tay  lái.

Ngoại trừ thuyền số 5, năm thuyền kia đều có tay lái dưới mũi thuyền.

Một thuyền có tay lái dưới mũi thuyền.

Hình dạng khác nhau của tay lái mang ý nghĩa biểu tượng khác nhau. Những tay lái này giúp nhận diện các thuyền (xem dưới).

Tay  chèo.

Tay chèo mang ý nghĩa biểu tượng (xem hình ở hình đuôi thuyền). Không có một tay chèo nào giống nhau về chi tiết. Đầu sáu tay chèo đều có hình chim cho thấy các thuyền này có thể bay lên Cõi Trên như chim bay. Các tay chèo cũng giúp nhận diện các thuyền (xem dưới).

Trống Cây Vũ Trụ hay Cây Đời.

Trên mỗi thuyền có một người dùng tay trái gõ vào một vật hình lục giác đặt trên một cây trụ biểu tượng cho Trục Thế Giới. Đây là chiếc trống Cây Vũ Trụ hay Cây Đời.

Trống Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) ờ một thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.  

Trống hình lục giác  (biến thể của nòng O) biểu tượng không gian, sinh thành (theo dịch số 6 là số thành). Dưới diện ma thuật, có thể mang hình ảnh của con mắt thần hay cái gương thần dùng trong quá trình phán xét linh hồn (xem chương Ý Nghĩa Dấu và Biểu Tượng Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Tay phải của người này nắm đầu một người nhỏ bé, trần truồng ngồi trên sàn thuyền. Đây là linh hồn người chết (xem chi tiết ở dưới ở phần Ý Nghĩa Hình Người Trên Thuyền Trên Trống Ngọc Lũ I). Người gõ trống và giữ đầu linh hồn là người phán xét linh hồn. Những người này gõ trống Cây Đời để khơi dậy vòng tử sinh và lượng giá, thẩm định linh hồn. Sau khi được phán xét xong, linh hồn thiện, tốt được cho qua Cầu Thử Thách để về miền hằng cửu ở Cõi Trên, để sống đời đời hay tái sinh và các hồn ác, xấu bị tống xuống cõi âm hay âm ty (xem dưới).

Đầu chim cắm trên trống biểu tượng cõi trên, xác nhận đây là trống Cây Vũ Trụ hay Cây Đời thật sự, trong khi các trống trong các ngôi nhà nọc, mặt trời cũng để trên các trụ nhưng không có hình đầu chim chỉ mang nghĩa biểu tượng của hình ngữ (symbolic scripts). Trong mỗi trống hình lục giác, có hình ngữ nòng nọc và phía trên trống bên cạnh hình đầu chim, trên bốn thuyền còn có cắm thêm các gậy hay khí giới biểu tượng. Những hình vật này giúp nhận diện các thuyền. Không một trống Cây Vũ Trụ nào giống nhau về chi tiết. Sự khác nhau của mỗi trống diễn tả các diện khác nhau của triết thuyết Vũ Trụ giáo hay biểu tượng của các tộc khác nhau.

Cầu Thử Thách hay Cầu Gian Nguy.

Cầu thử thách (“bridge of challenge”) hay cầu gian nguy (“dangerous bridge”) là cây cầu mà người chết phải đi qua để chịu sự thử thách cuối cùng trước khi được về cõi hằng cửu, cõi trời, Cõi Trên (thiên đường). Những linh hồn ác hay tội lỗi không thể nào vượt qua được cây cầu này và bị rơi xuống vực thẳm của Cõi Âm. Cầu thử thách là nhịp cầu nối, giao thông giữa Tam Thế mang hình bóng của Cây Vũ Trụ đúng như M. Eliade đã ghi nhận: “Sự giao thông giữa thiên đường và trần gian có thể mang lại-hoặc có thể là illo tempore- bởi một vài phương tiện thể chất (cầu vồng, cầu, cầu thang, cây thang, dây, rợ, “xâu chuỗi mũi tên”, núi, v.v…). Tất cả những hình ảnh biểu tượng của sự liên kết giữa trời và đất chỉ là dạng biến thể của Cây Thế Giới hay trục vũ trụ. Trong một chương trước, chúng ta đã thấy huyền thoại hay biểu tượng của Cây Vũ Trụ bao hàm ý của “Trung Tâm Thế Giới” ở điểm mà đất, trời và âm thế gặp nhau” (M. Eliade, 1964, p. 492). M. Eliade cũng đã viết: Người Niassans biết rằng Cây Vũ Trụ đã sinh ra mọi vật. Để đi lên trời, người chết đi qua một cây cầu, dưới cầu là vực thẳm của Cõi Âm. Một người gác với lao và khiên đứng ở cổng trời, một con mèo giúp hắn ném hồn người ác xuống nước hỏa ngục (ghi chú thêm của tác giả: ở trống Ngọc Lũ I có con chó thay cho con mèo). Quan niệm về cây “cầu gian nguy” này rất phổ thông trong tôn giáo ở Đông Nam Á: Có một sự tương đồng giữa phức thể này của người Niassans và ý tưởng của người Naga ở (cận) Ấn Độ (ghi chú thêm của tác giả: Naga là người Rồng ruột thịt với Ao-Naga tức Âu-Long, một thứ Âu Lạc), chúng ta đang “dealing” với di tích của cái gọi là nền văn minh Nam Á, chia xẻ với người Tiền-Aryan và Tiền-Nam Ấn của Ấn Độ và đa số của dân bản địa ở Đông Dương và Quần Đảo Ấn Độ.

Một điểm rất quan trọng cần phải nhấn mạnh ở đây là cây cầu thử thách trên các thuyền này trong quá trình phán xét linh hồn người chết mà M. Eliade đã xác nhận là thuộc nền văn minh Nam Á và của dân bản địa Đông Dương trước cả nên văn hóa Tiền-Aryan và Tiền-Nam Ấn của Ấn Độ cho thấy trống đồng thuộc dân bản địa Đông Dương.

Cây cầu này cũng thấy ở địa ngục trong các tôn giáo sau này như Phật giáo chẳng hạn. Trong chuyến du hành trên sông Dương Tử đi đến Trùng Khánh, tôi có ghé qua Phong Đô (Feng Du), thành phố của Người Chết, tại đây có những cảnh Cõi Âm, địa ngục và cũng có một tấm bích họa vẽ chiếc cầu thử thách này.

Cầu Thử Thách ở Thành Phố Người Chết Phong Đô, Trung Hoa (ảnh của tác giả, tháng 9-2007)

Lưu ý hồn người chết ở đây cũng trần truồng như hồn người chết ngồi trên sàn thuyền.

Ở trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng, trên mỗi thuyền, phía sau cảnh phán xét linh hồn đều có một cây cầu thử thách có hình một đài cao biểu tượng Tam Thế trong có Trục Thế Giới.

 Một chiếc cầu thử thách trên một chiếc thuyền ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. 

Cầu Tam Thế có ba tầng: Tầng trên hay Cõi Trên là khoảng không gian trên mặt cầu biểu hiệu bằng một hay hai cây trụ hay thành cầu có hình đầu chim. Một người đứng trên sàn cầu cầm mộc và giáo (hoặc chỉ cầm mộc thôi) là người gác cổng Cõi Trên (hay thiên đường). Người này có nhiệm vụ chỉ cho phép những linh hồn thiện, tốt đi vào Cõi Trên và ngăn chặn các linh hồn ác vào Cõi Trên (xem chương Người Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Sàn cầu biểu tượng Cõi Giữa. Phần nước dưới thuyền dưới gầm cầu là Cõi Dưới. Gầm cầu là Trục Thế Giới nối liền Tam Thế. Không một chiếc Cầu Thử Thách nào giống nhau về chi tiết. Sự trình bày khác nhau của mỗi chiếc cầu diễn tả những diện khác nhau của Vũ Trụ giáo hay của các ngành, tộc hay chi tộc khác nhau.

2. Người và Thú Trên Thuyền

Người.

Nhìn tổng quát, người trên thuyền mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ giáo của dòng âm, nước. Hiển nhiên người trên thuyền tiêu biểu cho dòng nước hay cõi âm. Người trên vùng nước diễn tả theo âm dịch.

Những người này đang thực hiện một cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment). Xem ở dưới và xem chương Người Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á.

Thú

Chó gác Cầu Thử Thách hay chó phán xét linh hồn (The afterlife judgment dogs).

Trên thuyền 1 và 5 có một con chó đứng sau Cầu Thử Thách (xem hình ở thuyền số 1 và 5 ở trên). Những con chó này gác Cầu Thử Thách hay gác cổng Cõi Trên. Chúng phụ giúp người gác cổng Cõi Trên xé xác hay ném những linh hồn ác xuống vực thẩm âm ty (xem Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương). Chúng giống như những con mèo phán xét linh hồn trong truyền thuyết của tộc Nissan ở Polynesia. “A cat throws the guilty souls into the infernal waters for him” (the guardian of the sky gate) (“Một con mèo ném những linh hồn ác xuống cõi nước địa ngục cho người gác Cổng Trời”). Những con chó này là những con chó phán xét linh hồn. Chúng có một khuôn mặt liên hệ với con chó Anubis của Cổ Ai Cập hay con chó ngao ở địa ngục của nhà Phật.

(còn nữa).

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: