NHÓM TRỐNG THÁI DƯƠNG: NGỌC LŨ I, TRỐNG BIỂU NGÀNH MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG, CÀN THẾ GIAN (8).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

*Đang nhuận sắc lại.

TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG.

NGỌC LŨ I, TRỐNG BIỂU NGÀNH MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG, CÀN THẾ GIAN.  

(phần 8)

Nguyễn Xuân Quang

 Ý NGHĨA VÀNH CHIM THÚ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.

   

 Vành chim thú trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Chim thú trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I mang khuôn mặt biểu tượng tức chim thú biểu, vật tổ nghĩa là ta phải hiểu theo ý nghĩa biểu tượng trong Vũ Trụ giáo.

Loài vật, chim thú trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn cũng như các yếu tố khác như người, nhà, trống… đều mang trọn vẹn ý nghĩa triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo.

Những loài vật dùng làm biểu tượng hay mang ý nghĩa biểu tượng không nhất thiết phải giống y chang những loài tương ứng có trong thiên nhiên, ví dụ con quạ vàng kim ô, biểu tượng cho mặt trời, con rùa vàng kim qui biểu tượng cho nước dương, biển (Lạc Long Quân có một khuôn mặt Thần Biển Kim Qui giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa), trong thực tế không có quạ vàng hay rùa mầu vàng kim loại. Con quạ ba chân biểu tượng cho mặt trời lửa thái dương (Càn), trong thực tế không có con quạ nào có ba chân.

Vành số 7 và 9.

Vành số 8 hươu-chim nông nằm giữa hai vành số 7 và 9 ở hai bên cho biết tính nòng nọc (âm dương) chính và chủ của hươu và chim nông.

Hai vành này là vành sóng chuyển động vòng tròn-chấm (đọc theo chiều dương tức thiếu dương) hay chấm-vòng tròn (đọc theo chiều âm tức thiếu âm) có tiếp tuyến. Tiếp tuyến ở đây mang nghĩa chuyển động, vận hành, sinh tạo, không có nghĩa là nước. Tiếp tuyến có tiếp điểm ở phía trên vòng tròn đi xuống nối với tiếp điểm ở dưới của vòng tròn kế tiếp nghĩa là tiếp tuyến dương. Ta đã biết chữ viết nòng nọc vòng tròn-que từ chấm-vòng tròn có nhiều nghĩa, ở cõi đại vũ trụ có một nghĩa là mặt trời, lửa thái dương Càn. Ở cõi tiểu vũ trụ có một nghĩa thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió hay ngược lại là vòng tròn-chấm thiếu dương Li (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ Chấm Vòng Tròn).

Vành số 7 là vành Càn (số 7 là số Càn) nên vành sóng vòng tròn-chấm lấy theo nghĩa thiếu dương Li.

Vành số 9 là vành Chấn (số 9 là số Chấn tầng 2) nên vành giới hạn sóng chấm-vòng tròn lấy theo nghĩa thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió.

Hai vành 7 và 9 này kẹp ở giữa vành 8 Hươu-Chim Nông cho thấy Hươu Li mang khuôn mặt trội hơn hươu Càn và chim nông Gió Đoài vũ trụ khí gió có một khuôn mặt trội hơn chim nông Nước Chấn. Vành số 7 Li để gần mặt trời và ở trên trống thái dương ngành Càn nên Hươu Li mang tính chủ.

Vành số 8 chim thú.

Vành 8 là vành chim và thú.

Số 8 là số Khôn tầng 2 thế gian như thế chim thú ở vành này có khuôn mặt Càn hôn phối  với Khôn mang tính chủ, chim thú ở nhánh Càn Khôn Tiên Thiên nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương mang tính chủ. Ta thấy các vành trên trống Ngọc Lũ I dàn dựng rất đúng theo tính nòng nọc (âm dương).

Lưu Ý

Số vành và tính chất của vành trên các trống đồng nòng nọc, âm dương chính thống đều mang ý nghĩa ăn khớp với ý nghĩa nòng nọc, âm dương của trống, của trang trí các vành. Ví dụ trống Ngọc Lũ I này, mặt trống có 16 vành. Số 16 là số Khôn tầng 3 (0, 8, 16) mang tính thái âm thế gian, cho biết trống có khuôn mặt chính là Càn hôn phối với Khôn. Ở đây Khôn tầng 3 cõi nhân gian nên đây là trống Càn thế gian (do đó Li thế gian đội lốt Càn thế gian mang tính chủ).  Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là người Xích Quỉ Kì Dương Vương mang tính chủ. Do đó có sự hiện diện của Hươu Mặt Trời  Kì Dương, Lộc Tục ở trống này.

Ở vành số 8 này, mỗi bán viên dương và âm đều có một nhóm chim nông và một nhóm hươu nai.

Bán viên dương của nhóm 7 người nhẩy múa có nhóm chim 6 con và nhóm hươu 10 con trong khi bán viên âm  nhóm 6 người nhẩy múa có nhóm chim 8 con và nhóm hươu cũng 10 con.

A. Chim Nông.

CHÌA KHÓA:

Chim nông gồm hai nhóm 6  và  8 con. 

Ở bán viên dương ngành phụ Càn Khôn nhóm 7 người nhẩy múa có 6 con. Số 6 là số âm thái dương nên  6 con nông tính thái dương tức bổ nông  đi với nhóm dương nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương. Số 6 Tốn âm thái dương cũng đi với khuôn mặt Càn mang tính dương thái dương của Càn Khôn như thấy rõ trong  Hậu Thiên bát quái Tốn hôn phối với Càn.

Ở bán viên âm ngành phụ Càn Tốn nhóm 6 người nhẩy múa có 8 con. Số 8 là số âm thái âm nên  8 con nông mang tính thái âm tức bồ nông đi với nhóm âm nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm. Số 8 là số thái âm Khôn (Khôn âm là Chấn, Khôn dương là Đoài) như thế 8 con nông Chấn Đoài ăn khớp với ngành phụ Càn Tốn nhóm 6 người nhẩy múa này vì như đã biết Tốn lưỡng hợp với Chấn Đoài như đã thấy qua căn nhà nọc, mặt trời Chấn Đoài ở cùng bán viên âm này như đã nói ở trên.

Tóm lại 6 con bổ nông mang tính dương, thái dương ở bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa ngành phụ Càn Khôn và 8 con bồ nông mang âm tính, thái âm ở bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa ngành phụ Càn Tốn đúng trăm phần trăm.

Bây giờ ta đi vào chi tiết.

1. Nhóm chim 6 con Bổ Nông ở nhánh Càn Khôn 7 người nhẩy múa ở bán viên dương.

Nhìn trên mặt trống ta thấy rất rõ nhóm 6 con này ở vị trí ngay dưới nhóm 7 người nhẩy múa trên bán viên dương của mặt trống. 

Nhóm 6 con chim ở ngay dưới nhóm 7 người nhẩy múa trên bán viên dương (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

6 nong

Vậy nhóm 6 con chim là những con chim mang tính âm thái dương (số 6 là số lão âm, âm thái dương). Chim âm thái dương đi với nhóm 7 người dương thái dương thuộc đại tộc lửa vũ trụ Càn thái dương (7 là số Càn). Như vậy nhóm 6 chim nông này mang tính thái dương. Thái Dương (II) của âm (O) là IIO (quẻ Đoài vũ trụ khí gió). Nhóm này là nhóm chim Đoài vũ trụ khí gió, là chim Bổ Nông (chim mỏ bổ, búa, rìu).

Những con chim bay này có mỏ to như mỏ búa, mỏ rìu, đầu to, đuôi ngắn. Chim có túi, nang dưới mỏ.

Chin nông trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Con đầu tiên túi che hết chiều dài mỏ. Túi là nang, nông. Chim này là chim nang, chim nông. Trong thiên nhiên, chim nông cũng mỏ to, đầu to, đuôi ngắn. Trên hình khắc cũng giống như trong thực tế mỏ dài hơn nửa chiều dài cổ. Hình chim có túi dưới cổ. Trên trống Ngọc Lũ I cũng bay ở thế liệng chứ không vỗ cánh, đầu rụt về phía sau, mỏ tựa xuống phía cổ. Đây chính là những nét đặt thù của chim nông: “the birds fly with the head drawn back and bill resting on the front of the neck” [Chim nông khi bay đầu rút về phía sau, mỏ tựa xuống phía trước cổ (Jan Hanzák and Jiri Formánek, The Illustrated Encyclopedia of Birds, tr.47)]. Chim nông chân ngắn nên khi bay không thấy chân, giống như hình chim ở đây.

Một mấu chốt chính nữa là những con chim này có con mắt âm diễn tả bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn kép đồng tâm có chấm. Hai vòng tròn là hai nòng âm, thái âm có một nghĩa là nước. Con chim này phải là loài chim nước giống như chim nông là loài chim nước chân có màng như chân vịt.

Có tác giả như Goloubev cho rằng các con chim bay trên trống Ngọc Lũ I này là chim cắt hornbill [Goloubev, 1929:1932a; and 1940 dẫn lại (Kempers, p.172)]. Chim cắt là chim Rìu Lửa mang tính thái dương con mắt phải là con mắt dương tức vòng tròn-chấm và có mũ sừng trên đầu như thấy ở  12 người chim mặt trời ở hai nhóm ở trống này có sừng thể điệu hóa thành hình trụ chữ nhật rất cương điệu và thấy rõ nhất ở trống đồng nòng nọc, âm dương Duy Tiên (xem trống này).

Rất tiếc chỉ có hình vẽ chi tiết 6 con chim nông ở bán viên dương ngành phụ Càn Khôn nhưng không có hình vẽ 8 con ở bán viên âm ngành phụ Càn Tốn.

6 nong

Hình vẽ chi tiết nhóm 6 chim nông ở bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa. 

Theo hình vẽ nhóm 6 con nông này đều có con mắt âm từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm và không có mũ sừng. Đây là những con nông. Vì không có hình vẽ chi tiết nhóm 8 con nông và không có hiện vật nên không rõ 8 con kia có phải là chim cắt không? Cũng có thể có và cũng có thể không. Có thể có vì hai nhóm hươu ở đây có cả hươu đực và nai cái tức có dương có âm lẫn lộn, như thế thì cũng có thể có chim nông và chim cắt đi lẫn lộn với nhau hay ở hai nhóm khác nhau. Có thể không vì những con chim này ở vành số 8 Khôn tầng hai thế gian có một khuôn Khôn âm Chấn nước và Khôn dương Đoài vũ trụ khí gió nên cả hai nhóm phải là chim nông hết. Dù gì thì cũng phải kiểm điểm với hiện vật mới rõ trắng đen được

Lưu ý ở mỏ chim có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) >, mang nghĩa, lửa thái dương. Những con chim nông ở đây là các con chim bổ nông Gió hay thuộc ngành mặt trời thái dương. Những con chim nông ở nhóm dương nhóm 7 người nhẩy múa là các con Bổ Nông. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là nhánh mặt trời Thần Nông thái dương.

Lưu Ý.

Chúng ta theo văn hóa sông nước, mẫu hệ nên gọi chim theo cái túi, cái nang dưới cổ là chim Nông. Trong khi người Tây phương theo xã hội phụ quyền gọi chim nông theo chiếc mỏ lớn như bổ, búa, rìu này mà triết gia Hy Lạp Aristotle đã đặt tên chim là pelican dựa vào gốc Hy Lạp pelekusax, cây rìu, cây búa, cây bổ (cùng gốc nghĩa với pelekos, chim gõ kiến. Loai chim gõ kiến có mỏ như chiết rìu, búa bổ vào cây bắt kiến ăn). Trong vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo chim nông có hai khuôn mặt nòng nọc (âm dương) khác nhau. Chim nông có khuôn mặt thái âm là Bồ nông (bồ là bao, túi, nang)  dựa theo túi nang ở cổ và khuôn mặt thiếu âm là chim Bổ nông (bổ là búa, rìu) dựa theo mỏ rìu. Chim bổ nông là chim Rìu (dòng) Nước trong khi chim bổ cắt là chim Rìu  (dòng) Lửa. Cần ghi tâm là ngành Rìu Việt Mặt Trời thái dương có hai chim biểu là Chim Rìu Việt Cắt Lửa của nhánh mặt trời Viêm Đế thái dương  và Chim Rìu Việt Nông Nước của nhánh mặt trời Thần Nông thái dương 

Chim nông tên Hán Việt là đường nga là loài chim nước chân có màng cùng loài ngỗng có tên Hán Việt là nga.  Theo duy âm loài chim nước dòng chim nga này (chim nông đường nga, ngan ngỗng, thiên nga, vịt trời le le oan ương…) là chim biểu của các thần tổ nữ, mặt trời nữ, nữ vương. Trong truyền thuyết Ai Cập cổ, con Ngỗng Great Crackle sinh ra Trứng Thế Gian như thế con Nông đường nga sinh ra Trứng Vũ Trụ là điều đáng tin cậy vì truyền thuyết và cổ sử Việt tương đồng với Ai Cập cổ (xem Sự Tương Đồng Giữa Ai Cập Cổ và Cổ Việt). Âu Cơ, Nàng Lửa, Thái Dương Thần Nữ của chúng ta có một khuôn mặt là thiên nga. Ở Đền Tổ Hùng Phú Thọ ở dưới Đền Hạ có thờ Mẹ Tổ Âu Cơ có hồ Thiên Nga trong khi ở Đền Thượng có hồ Lạc Long Quân.

Loài chim nước (nác) đường nga Nông thuộc họ Nga này chính là chim Lạc (Lạc là dạng dương cùa Nác) của chúng ta. Tác giả Đào Duy Anh đã lầm chim Lạc là một loài ngỗng trời tương ứng với đường nga chim nông với cò Lang. Đào Duy Anh trong Cổ sử Việt Nam (Hà Nội 1955) khi nói về Lạc Việt đã viết : “Theo Từ Quảng thì Lạc là họ, tức tên thị tộc của một nhóm người Việt ở xứ Mãn… tên Lạc kia có thể là vật tổ được không? Chữ Lạc… chỉ một loài hậu điểu ở miền Giang Nam tương tự với loài ngỗng trời. Có thể chim Lạc là vật tổ của người Lạc Việt… (dẫn L. Pinot và V. Goloubev)… Chúng tôi (tức Đào Duy Anh) đồng ý với hai tác giả trên, duy phải nói thêm rằng chim Lạc mà những người sản xuất trống đồng đã thờ làm vật tổ chính là người Lạc Việt”.

Chim Lạc là chim Nông đường nga thuộc họ nhà ngỗng nga không phải là loài cò gió cò Lang thường thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương) (xem chi tiết ở phần 18 con cò bay ở dưới hoặc Chim Lạc hay Cò Lang?).

Tóm lại ở bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa ta có 6 con nông mang tính dương thái dương là 6 con bổ nông âm thái dương, 6 con chim Việt Rìu Nước, 6 con Nông Gió thái dương Đoài vũ trụ khí gió lưỡng hợp với 10 con hươu thiếu dương Li (xem dưới) theo diện lưỡng hợp thiếu âm thiếu âm dương.

Chim Nông Là Vật Tổ Của Bách Việt.

Cũng nên nói qua một chút về vật tổ Chim Rìu, Chim Việt Nước Chim Nông của chúng ta.

Qua tác phầm Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt và nhiều bài viết khác, chúng ta đã viết rõ chim nông là vật tổ cõi thượng thế của Bách Việt phía nòng âm Thần Nông đối ứng với chim cắt phía Viêm Đế.

Ở đây chỉ xin nhắc qua vài chứng tích chính yếu.

.Chim nông đẻ ra Trứng Vũ Trụ, tiền thân của chim Âu Cơ sinh ra bọc trứng thế gian trăm lang Hùng. Như đã nói ở trên Nông biến âm với Nang có một nghĩa là Trứng. Chim nông có một khuôn mặt là chim đẻ ra Trứng Vũ Trụ. Mã Lai ngữ chim nông gọi là undan. Ta thấy undan gần cận với Phạn ngữ anda, trứng. Mã Lai ruột thịt với Bách Việt.

Chim nông ngày nay thuộc họ dạng con nông đã xuất hiện cách đây từ hàng 100 triệu năm lên tới tận thời khủng long. Chim nông là loài chim ngày nay còn mang hình thù cổ quái của các loài khủng điểu ngày xưa.

Về chim học (ornithology) con nông là loài chim sống ở vùng sông hồ nước ngọt và bờ biển. Vì thế chim nông đích thực là chim tổ của Bách Việt sống ở vùng sông biển. Trung Hoa sống ở vùng khô, không có chim nông, họ lấy vật tổ là con chim lửa, chim phượng.  Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có vật tổ chim nông là trống của Bách Việt.

Vật tổ chim nông còn thấy chứng tích qua:

1. Sử Miệng Ca dao “Ngàn Năm Bia Miệng”

.Chim nông là vật tổ đứng hàng đầu như thấy qua bài đồng dao nói về vật tổ chim của chúng ta:

Bổ nông là ông bồ cắt,

Bồ cắt là bác chim di,

Chim di là dì sáo sậu

Sáo sậu là cậu sáo đen

Sáo đen là em tu hú

Tu hú là chú bồ nông.

Bài hát có thể có nhiều dị bản nhưng dù là bản nào đi nữa thì bao giờ con nông cũng được xếp lên trên hết. Câu hát mở đầu này là câu mở đầu cổ sử Việt Nam về phương diện vật tổ chim. Điểm này cho thấy vật tổ chim nông đã được ghi vào ngàn năm bia miệng ca dao và là vật tổ chim tối cao của chúng ta (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

.Con nông là vật tổ không được ăn thịt.

Con nông được tôn thờ như một vật tổ, được coi như một thứ hèm (theo qui luật biến âm h=k như hơi = khói, ta có hèm = khem có nghĩa là kiêng khem, kiêng kÿ tức taboo) không được ăn thịt còn thấy qua câu ca dao:

 Con cò con vạc, con nông,

Ba con cùng béo, vặt lông con nào?

Vặt lông con cốc cho tao,

Hành răm mắm muối cho vào mà thuôn.

Con nông vật tổ đẻ ra Trứng Vũ Trụ Tạo Hóa Thần Nông cho dù có ‘béo’ cũng không được ăn thịt, vật tổ là một taboo, một thứ cấm kỵ. Ở đây ta cũng thấy con cò con vạc cũng không được ăn thịt như thế cò vạc cũng là những vật tổ (xem phần nói về cò). Con cốc không phải là vật tổ của chúng ta nên ăn thịt được cho dù không thấy nói đến nó có béo hay không.

.Vật tổ chim Trứng của người Mường.

Trong bài hát tế “Đẻ Đất Đẻ Nước” của người Mường, có đoạn nói đến:

 Trời với đất còn dính làm một

……

Chưa có chim tráng, chim trủng.

Trương Sỹ Hùng Bùi Thiện cắt nghĩa chim tráng là loại diều hâu, không hiểu loài diều hâu gì vì nhiều loại. Chim trủng là loại chim hay kêu về tháng 2,3, kêu hai tiếng một não nuột (tập I tr. 732). Đây là giải thích theo ngày nay. Theo câu Trời với đất còn dính làm một, có nghĩa là khi trời đất còn trong trứng nước, còn là quả trứng vũ trụ thì chim ‘tráng’ là chim ‘chàng’, chim đục, chim rìu, chim cắt và chim ‘trủng’ là chim ‘trứng’, chim nang, chim nông. Chim trủng là chim trứng tức là con Nông đẻ ra Trứng Vũ Trụ (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

 2. Sử Đồng Đông Sơn.

Chim nông thấy rất nhiều ở chỗ khác trên trống đồng và đồ đồng Đông Sơn.

Chắc chắn còn nhiều di tích về con nông nữa trong văn hóa Việt Nam và Bách Việt.

Như thế vật tổ chim tối cao tối thượng của chúng ta là con NÔNG. Con Nông là chim Nang, chim Trứng. Con Nông đẻ ra Trứng Vũ trụ. Vật tổ con Nông còn ghi lại trong sử miệng ca dao và trong sử đồng Đông Sơn như thấy ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I này. Đây là vật tổ chuyên biệt và đặc thù của chúng ta.

b. Nhóm 8 con Nông trên bán viên âm 6 người nhẩy múa.

Ta suy ra ngay nhóm 8 chim nông ở vị trí dưới nhóm 6 người nhẩy múa trên bán viên âm của mặt trống là những con chim nông nước thái âm (số 8 là số  Khôn, âm thái âm). Đây là những con chim Bồ nông gọi theo cai túi nang dương cổ tức theo duy âm.

Ta cũng thấy hai khuôn mặt âm dương khác nhau của hai nhóm chim này ăn khớp hai khuôn mặt cái đực của những con hươu ở cùng vành số 8 này (xem dưới).

Như đã nói ở trên điểm đáng tiếc là chỉ có hình vẽ chi tiết nhóm 6 con chim nông như thấy ở trên nhưng không có hình vẽ chi tiết nhóm 8 con nên không biết có gì khác nhau chuyên biệt giữa hai nhóm chim này không. Tôi hy vọng một ngày nào được nhìn tận mắt cả hai nhóm chim này ngay trên hiện vật trống Ngọc Lũ I hay có thêm được hình vẽ chi tiết của 8 con còn lại để giải đọc chi tiết từng con chim một.

Tóm tắt lại, những con chim bay ở vành số 8 trên trống Ngọc Lũ I là những con chim nông Khôn cõi trên thế gian  ngành thái dương (có thêm khuôn mặt đội lốt Tạo Hóa cõi thượng thế). Những chim Khôn này chia ra làm hai nhóm: nhóm 6 con là Bổ nông thiếu âm Khôn dương Gió, Đoài vũ trụ khí gió và nhóm 8 con là Bồ nông thái âm Khôn âm Nước, Chấn.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt những con nông này là chim nông Khôn Nước-Gió của ngành âm ứng với Thần Nông thái dương đất dương thế gian. Nhóm 8 con biểu tượng cho Thần Nước dương Chấn và nhóm 6 con biểu tượng cho Nông khí gió Đoài.

Nhóm chim nông Thần Nông Chấn-Đoài vũ trụ khí gió  lưỡng hợp  với hai nhóm hươu Viêm Đế Càn Li (xem dưới).

Lưu Ý

Chim nông được nhìn dưới hại diện nòng nọc, âm dương theo cái túi nang và chiếc mỏ rìu  như tất cả những yếu tố của văn hóa Bách Việt lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng, nhìn dưới lăng kính trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Việt Dịch nòng nọc, âm dương hay ít nhất cũng phải được nhìn ở dưới diện lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, Chim-Rắn, Tiên Rồng dĩ nhiên ngay cả trên trống đồng nòng nọc (âm dương).   

Kết Luận

.Những con chim bay ở vành số 8 trên mặt trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là những con chim nông.

Ở nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương có nhóm 6 con nông. Sáu con này là những con nông âm thái dương (số 6 là số âm thái dương) tức dương của âm, thiếu âm ứng với gió dương Đoài vũ trụ.  Nhóm 6 con nông bay mang dương tính khí gió bổ nông này đi với nhóm dương 7 người nhẩy múa ở bán viên dương ăn khớp trăm phần trăm. Trong khi ở nhóm âm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm có nhóm 8 con chim nông mang âm tính, bồ nông cũng ăn khớp theo tính nòng nọc, âm dương trăm phần trăm.

.Các con chim nông này đang bay biểu tượng cho cõi thượng thế, cõi trời thế gian mang tính sinh tạo, tạo hóa ăn khớp với truyền thuyết chim nông, chim nang, chim Trứng Vũ Trụ. Hai nhóm chim nông thuộc Khôn lưỡng hợp với khuôn mặt Càn của nhóm trong thái dương Càn của trống này.

.Vì là loài chim nước, các con chim nông bay này là chim biểu của phía nòng âm Khôn lưỡng hợp với khuôn mặt Càn của nhóm trống thái dương Càn của trống này.

.Chim chia ra làm hai nhóm. Nhóm 6 con nông mang tính dương bổ nông ở bán viên dương ngành phụ Càn Khôn nhóm 7 người nhẩy múa có một khuôn mặt Càn Li ăn khớp với khuôn mặt Càn dương thái dương của Càn Khôn. Trong khi 8 con mang âm tính Khôn âm Chấn ỏ bán viên âm ngành phụ Càn Tốn nhóm 6 người nhẩy múa có một khuôn mặt Chấn Đoàii ăn khớp với khuôn mặt Chấn của Càn Tốn.

.Trên mỏ chim có chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) > cho thấy chim mang tính thái dương thuộc nhánh nọc dương thái dương.

.Chim nông là loài chim nước là chim tổ tối cao về ngành nòng âm của Bách Việt sống ở vùng sông biển, tuyệt nhiên Trung Hoa không có. Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có hình chim tổ nông nước là trống biểu của Bách Việt nói chung và của Việ tNam nói riêng.

(còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: