TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I (7)

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI

DƯƠNG BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 7)

Nguyễn Xuân Quang

Ý NGHĨA NHỮNG HÌNH NHÀ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.

Nhà trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là nhà mang ý nghĩa biểu tượng. Ta cũng đã biết trống đồng âm dương chuyên chở giáo thuyết Vũ Trụ giáo, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo, như thế nhà mang nghĩa biểu tượng trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I bắt buộc phải mang ý nghĩa Vũ Trụ giáo.

 

Một căn nhà nòng và một nhà nọc trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Đây là những nhà thiêng liêng, nhà tổ, nhà thờ mang ý nghĩa tín ngưỡng, nòng nọc, âm dương, Vũ Trụ giáo, Đạo Mặt Trời, bang biểu, ngành, đại tộc, tộc, chi biểu. Do đó ta phải giải đọc các ngôi nhà trên trống đồng âm dương  Ngọc Lũ I theo Vũ Trụ thuyết, theo Dịch, theo chữ nòng nọc. Dựa theo những điều đã thấy ở các ngôi nhà nói một cách tổng quát trong Vũ Trụ giáo đã nói ở trên, ta thấy ngay nhà trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có hai loại: nhà âm hay nhà nòng có mái hình vòm và nhà dương hay nhà nọc mái có những phần hình nọc dương.

Cần lưu tâm:

Nhà và các kiến trúc thờ phượng là biểu tượng của con người, nói một cách khác các trống có nhà là các trống thế gian, Cõi Giữa, Cõi Nhân Sinh. Nhìn thấy một trống đồng âm dương có nhà trên mặt trống, ta biết ngay trống đó có một khuôn mặt chính là trống Thế Gian, Cõi Giữa, Nhân Gian nghĩa là trống có mặt trời có số nọc tia sáng bằng hay hơn 8.

NHÌN TỔNG QUÁT VỀ NHÀ TRÊN TRỐNG NGỌC LŨ I.

Trước hết ta hãy nhìn tổng quát về nhà nọc và nhà nòng.

-Nhà Nọc

Như đã nói ở trên, nhà nọc, dương biểu tượng cho nọc, dương, ngành dương, đại tộc, tộc, chi tộc dương, nội.

Một căn nhà nọc trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Có nhiều biểu tượng cho biết đây là nhà nọc. Ví dụ như các kiến trúc nhọn như mũi đao, mũi mác, mũi giáo ở hai đầu mái nhà và các vật trang trí mang biểu tượng nọc, đực như trống. Trong các ngôi nhà mái nhọn nếu có để trống hay các vật hình trống thì những ngôi nhà này là những ngôi nhà trống (haus tambaran), trong Việt ngữ trống có một nghĩa là đực, nọc. Nhà trống là nhà nọc, nhà đực. Hình dáng và tư thế của trống cho biết nhà nọc mang ý nghĩa biểu tượng nào hay tộc nào. Ngay cả các kiến trúc ở bên cạnh nhà cũng cho biết nhà là nhà nọc. Ví dụ bên hông mỗi nhà mái hai đầu cong nhọn trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có dàn trống cho biết căn nhà kế bên là nhà trống, nhà nọc.

Dạng nhà nọc thường thấy trên trống đồng là căn nhà sàn có mái cong nhọn hai đầu trên trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ, Cổ Loa I, Sông Đà, Khai Hóa…

Quan Niệm Của Các Học Giả Từ Trước Tới Nay Về Nhà Sàn Mái Cong Lên:

1. V. Goloubew cho rằng ‘nhà sàn mái hình “thuyền vàng” dùng để chở linh hồn người chết về vương quốc của họ’ (dẫn lại trong Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Vinh, tr.120).

2. Văn Hựu dựa vào sách Địa Lý chí chép về vùng Kinh châu đời Tùy, Đường mà xem cảnh này là một nghi thức lễ mai táng. “Khi có người chết, đặt tử thi ở nhà, bọn thiếu niên lân cận đến, mỗi người đều cầm cung tên vây quanh tử thi mà ca hát, dùng tên bật dây cung làm nhịp”. Văn Hựu cho rằng hình nhà trên mặt trống là tượng trưng cho nhà đặt tử thi, còn những người hóa trang hình chim chính là những thiếu niên cầm cung tên vây quanh tử thi ca hát (Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Vinh dẫn lại, tr.121).

3. Tác giả Nguyễn văn Huyên, Hoàng Vinh đả phá hai tác giả trên nhưng tán thành ý kiến ông Nguyễn Ngọc Chương cho nhà sàn với các người bên trong, ‘một bộ phận “trong bức tranh sinh hoạt” là buổi “lễ cầu mùa” một nghi thức của tín ngưỡng nông nghiệp’ (NVH, HV tr.121). Hai tác giả này không nói riêng rẽ nhà sàn nóc thuyền là nhà gì.

4. A. J. Bernett Kempers, trong The Kettledrums of South East Asia gọi nhà nọc này là “H type houses” và nhà mái vòm là “O type houses”.

Theo tôi, đây là ngôi nhà Nọc đối ứng với ngôi nhà Nòng mái hình vòm. Đây chính là một thứ nhà ‘Đực’, nhà thờ mặt trời của dòng Nọc, ngành dương. Ngôi nhà nọc, nhà thờ mặt trời này hiện rõ “mặt thật” thấy rõ 100%  ở trống Quảng Xương, một trống rất thể điệu hóa (highly stylized) nghĩa là một trống đã rất muộn, mọi chin tiết được diễn tả một cách bình dân hơn (trong khi các trống cổ như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I các chi tiết diễn tả theo bác học khó hiểu hơn). Hai bên mặt nhà nọc trên trống Quảng Xương Có hình mặt trời rạng ngời.

 

Hai bên mặt nhà nọc trên trống Quảng Xương

Có hình mặt trời rạng ngời cho thấy rõ 100% nhà này là nhà mặt trời.

 Lội ngược dòng thời gian, qua nhà mặt trời, thờ phượng mặt trời ở trống Quảng Xương này cho thấy tất cả các nhà nọc trên trống đồng nòng nọc, âm dương có một khuôn mặt là nhà thờ mặt trời, nhà mặt trời.

Nhà nọc, nhà mặt trời, thờ phượng mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương là tiền thân của nhà Lang Mường Việt, tiền thân của nhà Đinh (có nghĩa là ‘vật nhọn’ và cũng có nghĩa là con trai). Đây chính là nhà tráng niên (Bachelor’s house), nhà phái nam (man’s house) của các tộcNam Đảo, nhà Đình hiện nay ở Việt Nam.

Nhà nọc làm theo kiểu nhà sàn, nhà Tam Thế mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ luận. Phần lớn nhà nọc trên trống đồng có mái lõm hình võng hai đầu cong nhọn mang hình ảnh của vật đựng, hình trăng lưỡi liềm, hình thuyền, hình sừng trâu nhưng hai đầu cong nhọn thường có hình chim không có hình rắn, thuồng luồng, cá sấu cho biết đây là những căn nhà nọc thuộc dòng nòng khôn thái dương. Như thế trống đồng âm dương phần lớn thuộc dòng nòng khôn thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, theo duy dương đây là dòng Khôn dương Hùng Vương Lang Việt và theo duy âm Khôn âm Chấn Lạc Long Quân Lạc Việt.

-Nhà Nòng

Nhà nòng ngược với nhà nọc. Nhà nòng âm biểu tượng cho nòng, không gian, bầu trời, vũ trụ âm, nòng âm, ngành, đại tộc, tộc, chi tộc âm, ngoại.

 

 Một căn nhà nòng trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 Tuy nhiên, trống biểu tượng cho dương, nên phải lưu ý trên trống đồng âm dương có những dạng nhà nòng mang nọc tính đại diện hay thay thế cho nhà nòng thuần âm nữ. Đây là những nhà nòng nam. Cần phải dựa vào các chi tiết khác để phân định ví dụ ở một nhà nòng trên trống Ngọc Lũ I có một người cầm trống cho biết đây là nhà trống, nhà nòng nam của ngành nòng.

Trên trống Ngọc Lũ I và Hoàng Hạ nhà vòm mang hình dạng đúng nghĩa của nhà vòm, nhà rùa còn trên trống sông Đà và Khai Hóa nhà vòm đã biến thể, không có cửa mở ra và không có hình người đứng giữa cửa. Trên các trống rất muộn hay biểu tượng duy nhất cho một ngành dương, cho một tộc dương thôi, nhà nòng bị loại đi như trong trường hợp trống Quảng Xương chỉ có hai ngôi nhà nọc đực, nhà mặt trời, thờ phượng mặt trời (xem các trống này).

Quan Niệm Của Các Học Giả Từ Trước Tới Nay Về Ngôi Nhà Nòng Mái Vòm:

Đã có nhiều tác giả giải thích về hình các nhà nòng này. Sau đây là ý kiến của vài tác giả đã dẫn lại trong Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Vinh (tr.25):

.H. Parmentier trong Anciens tambours de bronze (Op. cit. p.8) gọi đây là những vật hình cung (arche).

.Đào Duy Anh trong “Văn Hóa Đồ Đồng và Trống Đồng Lạc Việt” (Hà Nội, 1957) đồng ý với Gouloubev cho đây là cảnh đánh chiêng (tr.34).

.Văn Hựu trong Cổ đồng cổ đồ lục (Bắc Kinh, 1957) cho đây là “tấm phên” (xem phần thuyết minh trống số 8).

.Nguyễn Văn Huyền, Hoàng Vinh tán thành ý kiến với ông Nguyễn Ngọc Chương cho đây là ngôi nhà để tiến hành nghi lễ có liên quan đến việc cầu mùa (Nguyễn Ngọc Chương, Tìm hiểu một số hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ, Nghiên Cứu Lịch Sử N0 141, Hà Nội 1971). Các ông gọi nhà nầy là “nhà cầu mùa”.

.Có tác giả cho đây là nhà mai táng, nhà mồ chỗ quàn xác chết.

Theo tôi, đây là nhà là nòng, nhà cái, nhà không gian, vũ trụ âm. Hình thể nhà biến đổi theo thời gian, theo độ chính thống. Những ngôi nhà nòng mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ luận làm theo kiểu nhà rùa, nhà sàn Tam Thế: cõi trên là phần nóc nhà thường có phụ đề bằng những hình đầu chim ở hai đầu mái hay hình chim đứng trên nóc. Cõi giữa nhân gian là phần trong nhà và cõi âm là gầm sàn nhà. Nhà có mái vòm trông như cái nang, cái dạ con, hang động, nhà mồ, như nhà rùa, nóc dù, nóc tán lọng… Nhà rùa là loại nhà cổ nhất của Việt Mường mang ý nghĩa vũ trụ quan do thần Rùa dậy cho Việt Mường làm nhà. Nhà nòng có mái vòm biểu tượng cho vòm vũ trụ, vòm trời, hư không, không gian. Nhà thường có bốn cột tiêu biểu cho bốn cột trụ, bốn phương chính của trời đất, cho Tứ Tượng. Đôi khi nhà có sáu cột như trên trống Sông Đà tiêu biểu thêm cho hai hướng nữa là thiên đỉnh (zenith) và rốn đất (nadir). Nhà Nòng là nhà vòm vũ trụ là nơi tế lễ, thờ bái và thi hành các tục lệ, taboo liên hệ tới tín ngưỡng vũ trụ giáo của dòng Nòng.

Có nhiều biểu tượng âm cho biết đây là nhà nòng. Tiêu biểu nhất là bên cạnh hai căn nhà nòng có cảnh hai người đang giã chầy vào cối. Đứng bên cạnh một người lãnh đạo tinh thần, ở bên ngôi nhà nòng thiêng liêng và trên trống biểu Vũ Trụ giáo thì cảnh giã chầy cối này phải mang một ý nghĩa tín ngưỡng. Giã chầy vào cối mang biểu tượng âm dương giao hòa, mắn sinh, phồn thực. Cối biểu tượng cho nòng, cái đi đôi với nhà nòng còn trống biểu tượng cho đực (trống có một nghĩa là trống, đực) đi đôi với nhà nọc, nhà đực. Cảnh giã chầy vào cối bên cạnh nhà nòng mái vòm này đối ứng với cảnh đánh trống ở khu nhà nọc, nhà đực, nhà lang. Vì sao? Vì cối là khuôn mặt âm của trống đồng âm dương khi lật ngửa lên. Cối coi như là một thứ trống âm biểu tượng cho dòng nòng, cái. Ngày nay còn có nhiều tục giã chầy vào cối khi cô dâu bước qua ngưỡng cửa vào nhà chồng, khi có người chết (mang ý nghĩa âm dương tái sinh)… Ngoài ra còn có nhiều chi tiết khác giúp cho biết nhà Nòng thuộc họ, ngành, đại tộc, tộc, chi tộc nào.

 Nhà Biểu Tượng Trên Trống Đồng Âm Dương Ngọc Lũ I.

Như đã biết, mặt trống trống đồng âm dương Ngọc Lũ I chia ra làm hai bán viên đối xứng nhau. Một bán viên âm có đám rước 6 người, một bán viên dương có đám rước 7 người. Mỗi bán viên có một căn nhà nọc và một căn nhà nòng.

Nhà nọc và nhà nòng ở bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa.

a. Nhà nọc ở bán viên âm có đám rước 6 người nhẩy múa .

Căn nhà nọc này cũng chuyên chở trọn vẹn giáo thuyết Vũ Trụ giáo.

Nhìn tổng quát, mái lõm biểu tượng âm, đầu hồi hình mũi đao, dương, tức âm dương, Lưỡng nghi. Bốn cột biểu tượng Tứ Tượng. Nhà có đủ âm dương, Lưỡng nghi, Tứ Tượng. Tứ Tượng sinh ra vũ trụ Tam Thế.

Ngôi nhà này làm theo kiểu nhà sàn biểu tượng Tam Thế.

.Thượng Thế.

Mái nhà biểu tượng cho Thượng Thế. Ở đây nhà có mái lõm cong hình vòng cung, hình sừng, hình thuyền hay hình trăng lưỡi liềm nhìn tổng quát  mang âm tính nòng, Khôn. Hai ngôi nhà nọc này là hai ngôi nhà thiêng liêng của ngành Khôn nói chung. Cần phải dựa vào những yếu tố khác để nhận diện. Thường thường các kiến trúc và trang trí trên nóc nhà là những yếu tố quyết định để nhận dạng. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt thuộc ngành Thần Nông. Tùy theo chi tiết nhà mang tính âm thái dương tức khí gió thiếu âm là nhà Nông và dương thái âm tức thái âm ngành nọc dương là nhà Thần.

Mái ở đây có hai đầu hồi đầu đao biểu tượng thái dương. Mái võng biểu tượng thái dương cho thấy khuôn mặt thiếu âm mang tính chủ, Đối chiếu với truyền thuyết Việt là khuôn mặt Nông mang tính chủ và đối chiếu với cổ sử Việt thì khuôn mặt Hùng Vương mang tính chủ. Nhà nọc cho biết đây là nhà thờ của Người Mặt Trời Bách Việt của Hùng Vương.

Cõi Trên thường biểu tượng bằng hình chim vì thế thường có hình chim đậu trên nóc nhà.

.Trung Thế.

Nhà biểu tượng Cõi Giữa nhân gian. Trong nhà có cảnh sinh hoạt của con người thường liên hệ tới tín ngưỡng. Nhà có để trống cho biết nhà là nhà trống nhà nọc và cũng cho biết nhà thuộc tộc, chi nào của ngành trống, nọc, dương.

.Hạ Thế.

Gầm nhà dưới sàn  là Cõi Dưới, Hạ Thế.

.Trục Thế Giới

Giữa nhà có kiến trúc hình trụ ống, biểu tượng Trục Thế Giới.

Trang trí nhà cũng chuyên chở ý nghĩa Vũ Trụ luận: những chấm nhỏ biểu tượng cho tượng Lửa; những tua treo ở bên chái nhà biểu tượng cho tượng Khí, gió; hình tam giác biểu tượng cho núi, tượng đất dương và hình uốn khúc biểu tượng cho tượng Nước dương.

 Bây giờ xin đi vào chi tiết.

Số 6 là số chẵn, số âm, bán viên này mang âm tính là bán viên âm. Vậy căn nhà nọc ở bán viên có đám rước 6 người là ngôi nhà nọc ngành âm. Số 6 cũng là số Tốn (O| |), hôn phối với Đoài. Căn nhà nọc này là căn nhà của ngành âm Đoài/ Chấn.

Hình ngôi nhà nọc ở bán viên âm có đám rước 6 người.

Đầu hồi nóc nhà trang trí với hai hình đầu chim. Mắt chim là mắt âm  (hai vòng tròn đồng tâm có chấm). Hiển nhiên căn nhà này là căn nhà nọc âm của ngành âm Đoài Chấn. Mào chim gồm có ba cái lông dính liền với nhau tạo thành hình cái bờm, cái mũ dương tức Khôn dương Đoài vũ trụ. Nhà này có khuôn mặt Đoài mang tính chủ. Đầu chim có mào hình bao, bọc, nang này có thể là con chim nông biểu tượng cho ngành nòng Đoài Chấn. Trên nóc ngôi nhà này có hai con chim đậu. Chim tổng quát biểu tượng cho Cõi Trên, theo duy âm là vòm trời, không gian âm, Khôn và theo duy dương là mặt trời dương, Càn. Số 2 là số chẵn, âm. Hai con chim cũng xác định ngôi nhà này là ngôi nhà nọc âm.

Đa số các tác giả cho hình chim trên nóc nhà mái võng như ở trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ… là chim trĩ hay công.

Bây giờ ta đi tìm xem hình chim trên nóc nhà mái võng là trĩ hay công? Làm sao phân biệt được trĩ và công qua hình vẽ? Để phân định ta dựa vào:

1. Đầu

Trên thế giới có ba loại trĩ có tai (eared pheasant); phân biệt bởi chùm lông trắng mọc dài thẳng lên tạo thành cái tai lông sau tai thật. Ba loại đó là blue-eared pheasant (Crossoptilon auritum), loại tai trắng (C. crossoptilon) và loại Mãn châu C. manchuricum. Ngoài cái mào (crest) trên đầu, hai bên cổ có chùm lông dài khi dựng lên tạo thành cái vòng cổ. Loại công thường thấy cũng thuộc dòng họ trĩ, trên đầu có “vương miện lông”, nhưng không thấy bờm trước cổ, lông đuôi dài có mắt.

Hình chim trên trống đồng có “hai tai” thuộc họ “eared pheasant” và có mào lông hai bên cổ là con trĩ vì loài công không có tai chỉ có vương miện và cũng không có mào lông trước cổ như trĩ.

2. Thân

Cánh chim trĩ loài great Argus có những hình con mắt trong khi công lông đuôi có hình con mắt chứ lông cánh không có mắt. Hình chim trên nóc nhà trống Hoàng Hạ cánh có hình con mắt.

Chim trên nóc nhà trống Hoàng Hạ cánh có hình con mắt(nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Ở đây trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, con mắt diễn tả bằng những ‘nọc’ ngắn. Chim trên nóc nhà Nọc mặt trời đuôi không có hình con mắt. Vậy chim trên nóc nhà trên trống trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và Hoàng Hạ là loài chim trĩ.

3. Đuôi

Đuôi trĩ và công đều dài nhưng đuôi trĩ thon dài, to ngang, ĐẦU BẰNG trong khi đuôi công ĐẦU KHUM TRÒN khi xòe lên đuôi công thành hình rẽ quạt tròn trong khi đuôi trĩ xòe lên thành hình giải (vì thế có tên là chim giải cùi, chim đuôi dài như cái giải). Đuôi chim trên nóc nhà giống đuôi chim trĩ hơn là đuôi công vì không có mắt, dài to ngang và đầu bằng. Hình chim trên nóc nhà ở trống Hoàng Hạ vẽ rõ thành 4, 5 giải. Như đã biết theo Dịch trĩ là biểu tượng của Li thường vẽ đuôi có 5 giải lông vì số 5 là Li. Do đó con chim trên nóc nhà mái võng có 5 giải đuôi là con chim trĩ. Chim trĩ là chim biểu tượng cho lửa thần thoại hóa thành chim phượng có nghĩa là chim lửa nhưng chim trĩ thuộc loài gà sống nhiều trên mặt đất nên biểu tượng cho lửa đất thế gian Li (trong khi chim cắt sống trên ngọn cây là chim lửa Việt biểu tượng cho Càn lửa vũ trụ.

Hình chim trĩ trên nóc nhà có khắc mẫu tự ‘mũi nhọn’ có nghĩa là lửa, đực cho biết đây là con chim trĩ đỏ Li và Li đội lốt Càn.  Một điểm thấy rõ nữa là trên mái đình chùa, nơi thờ phượng, ngày nay ta chỉ thấy trang trí bằng chim phượng, con chim thần thoại hóa từ chim trĩ lửa chứ không bao giờ thấy chim công.

Vậy tóm lại hình chim trên nóc mái nhà Nọc mặt trời là chim trĩ, rẻ cùi, giải cùi chim biểu của ngành mặt trời nọc Lửa trời, thần thoại hóa thành chim phượng. Chim cắt là chim lửa vũ trụ, còn chim trĩ là chim lửa bầu trời thế gian.

Chim trĩ ở đây cho thấy khuôn mặt thế gian mang tính chủ ăn khớp trăm phần trăm với trống thế gian này.

Ở bên phải tức phía dương, con chim có bờm cao gió, đuôi dài, quay mặt về phía tay phải chiều dương là con chim đực (giống như hình chim trên nóc nhà của người Katu, nói ở trên). Chữ nòng nọc “đầu mũi lao” (>) có nghĩa là dương, đực viết ở dưới cổ con chim xác nhận con chim này là con chim đực biểu tượng cho Khôn dương là Đoài vũ trụ. Ở bên trái, con chim có đuôi ngắn, quay về phía bên trái là con chim mái biểu tượng cho Khôn âm, nuớc, đầu có có đánh dấu chấm nọc dương,  là nương dương Chấn (xem chương Thế Giới Thú Vật Trên Trống Đồng). Hai con chim đậu trên nóc nhà nói cho biết ngôi nhà là nhà nọc thiêng liêng ngành âm Đoài Chấn.

Như thế mái nhà cong lõm có hai đầu chim và hai con chim biểu tượng cho Cõi Trời mang tính nòng Đoài Chấn.

Dưới chái nhà bên phải có chiếc trống có phụ đề các chấm nọc dương cho biết căn nhà này là căn nhà trống (haus tambaran), nhà nọc. Chiếc trống hình nấm lọng, ô (đáy và thân trống không phân chia) tức loại trống NXQ III hay trống khí gió Đoài vũ trụ  (xem chương Cơ Thể Học Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Ta cũng thấy mặt trống quay về bên trái (chiều âm) nên có âm tính tức (trống) dương của nòng âm tức thiếu âm, nguyên thể của khí gió Đoài vũ trụ. Trống để nằm ngang biểu tượng đất bằng thế gian nhưng trống không để sát mặt đất mà để trên cao, “trên không khí” mang khuôn mặt khí gió Đoài vũ trụ. Trống này ở phía bên phải, dương nên khuôn mặt Đoài vũ trụ mang tính chủ của ngành âm Đoài Chấn.

Ở dưới chái nhà bên trái có một vật hình chữ U vuông góc mang tính dương, trong có bỏ dấu chấm nhấn mạnh thêm ý nghĩa dương. U dương là dạng thái dương của O thái âm (hai nhánh đứng là hai nọc tức thái dương; Việt ngữ O là nàng (phương ngữ Huế O chỉ nàng, cô), mẹ dòng nòng thái âm, U là mẹ dòng nọc thái dương như Âu Cơ là U cơ, thái dương thần nữ của chúng ta). Có thể vật này làm bằng gỗ khoét rỗng. Đây có thể là thiết diện của một cái cối vuông hay cái trống mõ (một thứ trống âm) làm bằng thân cây khoét rỗng (slit drum). Ở đây trên trống mang dương tính, và đối ứng với chiếc trống ở phía bên kia, vật này nghiêng về trống mõ âm thái dương. Trống mõ này biểu tượng cho dương thái âm Chấn.  Vậy trống mõ chữ U dương này là trống Chấn.

Hình hai thứ trống này rõ ràng cho biết căn nhà nọc này là nhà trống, nhà nọc ngành âm Đoài Chấn.

Ở giữa nhà, trên sàn nhà có hai người, ngồi giơ hai tay cao lên trước mặt. Giơ hai tay lên trước mặt hay lên khỏi đầu là biểu tượng sùng bái mặt trời.

 Hai người đưa hai tay ra trước mặt tôn vinh mặt trời trong một giáo vụ tế lễ mặt trời trong một ngôi nhà mặt trời trên trống trống đồng âm dươn Ngọc Lũ I.

Hai người này thấy rõ hơn ở trống Hoàng Hạ:

Hai người đưa hai tay ra trước mặt tôn vinh mặt trời trong một giáo vụ tế lễ mặt trời trong một ngôi nhà mặt trời trên trống trống đồng âm dương Hoàng Hạ.

Rõ hơn là ở thạp đồng Hợp Minh chỉ có một người ngồi đưa hai tay ra phía trước tôn vinh, cầu nguyện mặt trời, vũ trụ (nên không thể nói như một số tác giả cho rằng hai người trong ngôi nhà ở trên đang chơi trò “trồng hoa trồng nụ”).

Một người búi tóc có dáng dấp phụ nữ (bà đồng, nữ pháp sư) đưa hai tay ra phía trước mặt dâng lễ vật cung nghinh, tôn vinh hay cầu xin mặt trời, vũ trụ trên thạp đồng Hợp Minh (Khảo Cổ Học).

Hình thức sùng bái tôn vinh mặt trời này còn thấy nhiều trong các nên văn hóa thờ mặt trời như Lạc Việt Tráng Zhuang, Ai Cập cổ, Ấn-Độ… xin nhắc lại qua vài ví dụ bằng hình ảnh:

.Lạc Việt Tráng Zhuang:

Hình người đang cung nhinh, tôn vinh mặt trời đưa tay ra phía trước mặt trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây của Lạc Việt cổ.

.Ai Cập cổ

Kệ tang Khonsu cho thấy sự thờ phượng Thần Mặt Trời Bò cái Mehet-Weret, Egyptian Museum, Cairo (Madanjeet Singh fig. 461).

.Thiên Chúa giáo Ái Nhĩ Lan.

Người Ái Nhĩ Lan cổ thờ mặt trời, khi du nhập Thiên Chúa giáo vào, họ lồng đạo mặt trời vào Thiên Chúa giáo. Vì thế cây thánh giá của họ có vòng tròn mặt trời và các tu sĩ vẫn cung nghinh mặt trời theo đạo gốc.

Tranh dát mảnh (mosaic) của Achilli cho thấy các tu sĩ Ái Nhĩ Lan giơ tay theo kiểu người Ai Cập cổ tôn thờ mặt trời  (hang thờ St Columbanus, nhà thờ St Peter, Vatican) (Madanjeet Singh).

(xem thêm Đạo Mặt Trời Của Bách Việt)

…..

Như thế những người này ngồi trong căn nhà nọc, trống, đực, mặt trời (thấy rõ ở trống Quảng Xương, trước nhà có hình mặt trời) bắt buộc phải là đang cử hành một nghi thức về Vũ Trụ giáo, Đạo Mặt Trời (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng).

Ở bên phải có một người thứ ba đang đánh trống hình lục giác để trên một cái cọc mang ý nghĩa trống sinh tạo tạo hóa, cõi trên cho biết khuôn mặt của tộc Đoài vũ trụ mang tính chủ.

Dưới sàn có một lò lửa. Ở trống Hoàng Hạ lò lửa này thấy rất rõ. Lò lửa có ống ăn thông lên nhà.

Nhà nọc trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ có lò lửa dưới gầm nhà thấy rất rõ (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Người thổ dân Ainu ở Nhật thờ Mẹ Mặt Trời Buchi có hình bóng là ngọn núi lửa Buchi mà người Nhật chuyển âm thành Fuji (Phú Sĩ) cũng để lò lửa hồng giữa nhà gọi là Trái Tim Hồng. Người Navajo cũng có lò lửa trái tim hồng ở giữa nhà giống như người Ainu. Thổ dân Mỹ châu Lakota có hố lửa trong lều tắm mồ hôi gọi là “lửa thiêng vĩnh cửu” (“sacred fire without end”). Nhìn chung dù họ làm gì đi nữa thì lò lửa, hố lửa cũng phải là một nghi thức tế lễ tôn giáo của ngành dương có liên hệ tới mặt trời. Hơi nóng, lửa dùng để tẩy uế, làm tinh khiết tâm hồn và thể xác con người, dùng trong việc phán xét linh hồn, chữa trị bệnh tật (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng).

Dàn trống

Dàn trống ở bên nhà nọc của nhóm 6 người nhẩy múa.

(nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Trống là dương nên đi đôi với nhà nọc vì thế nhà nọc thường có trống hay trang trí các vật hình trống gọi là “nhà trống” “haus tambaran”. Dàn trống này mang biểu tượng tín ngưỡng, một thứ tín ngưỡng trống tức Vũ Trụ giáo. Dàn trống có 4 người biểu tượng Tứ Tượng, Bốn Phương Trời, Người Bốn Phương. Loài người là con của Vũ Trũ càn khôn gồm có bốn giống người ở Bốn Phương. Những người ở đây trần truồng thuộc tộc âm gió-nước hay là người cõi trời, biểu tượng cho cõi trên vũ trụ. Bốn người với dáng dấp và đầu tóc khác nhau là Bốn Người (Four People) ứng với Tứ Tượng. Ở đây người ngồi đầu ở bên phải tóc dài xõa lưng cong vòng biểu tượng Đoài vũ trụ , kế tiếp là người to khỏe nhất trong bốn người, trông như nửa ngồi nửa đứng. Đứng là dương, ngồi là âm. Nửa đứng nửa ngồi là âm của dương tức thiếu dương Li, tóc có hình hai nọc, lửa Li, người thứ ba nhỏ nhất tóc có sọc nước Chấn và người thứ tư đứng, là nọc Càn. Người này đứng quay mặt về phía trái, âm là Càn âm, Càn của ngành âm. Vậy bốn người này diễn tả bốn tộc ứng với Tứ Tượng.

Một điểm cần nói tới nữa là trống được để trên một trục chữ T mang hình ảnh trụ chống trời, trục thế giới cho thấy trống mang hình ảnh trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) mang tính sinh tạo, tạo hóa, mang trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh, không phải là trống sấm, mưa như thấy trên các loại trống cóc/ếch.

So sánh với các trống muộn hơn ta thấy rõ trục chữ T này tương đương với trục thế giới diễn tả theo cách phổ thông là bằng hai trụ nọc que. Ví dụ ở trống Sông Đà, trống được để trên trục thế giới do hai nọc que tạo thành:

trong

Một dàn trống trên trống Sông Đà.

Những trống này giống như các trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) để trên trục thế giới thấy trên thuyền trong cảnh phán xét linh hồn:

 clip_image016_thumb.jpg

Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) trên thuyền trong cảnh phán xét linh hồn.

Hiển nhiên trục chữ T đỡ trống ở trống Ngọc Lũ I mang ý nghĩa trục thế giới, trụ chống trời, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ luận.

Điể quan trọng cần phải nói ở đây là dàn trống đồng để trên trục chữ T trên trống Ngọc Lũ I cho ta một chứng liệu bằng vàng đã ghi khắc lại cách đây trên 2.500 năm (tuổi của trống Ngọc Lũ I ). Các trống trên trục chữ T này thuộc loại trống cây nấm vũ trụ (cây nấm tam thế, cây nấm đời sống) diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ luận. Như thế xác thực các trống đồng loại cây nấm vũ trụ (cây nấm tam thế, cây nấn đời sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) hiện nay mang trọn vẹn vũ trụ luận, là trống biểu tượng của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo.

Ngoài ra cái phướn phía trước có hình vuông đất trong có “vòng tròn có chấm” Li, phía dưới có các sọc tia sáng Càn. Dàn trống này của dòng nội Li Càn hôn phối với căn nhà nọc Đoài Chấn ở nhóm 6 người nhẩy múa này.

Tóm lại, nhìn tổng quát, ở bán viên có đám rước 6 người, ngôi nhà nọc có mang âm tính tức nhà nọc thái dương của ngành âm mang tính thái dương Đoài Chấn và Đoài mang tính chủ.

Những người đánh trống theo cách đánh nòng nọc, âm dương giao hòa với nhau để khơi động dậy quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh.

Trống đồng là trống nòng nọc, âm dương , mặt trống đặc có mặt trời là dương. Dùi trống là một khúc cây cũng là dùi nòng nọc, âm dương có đầu đặc dương (đặc là đực, tre đặc là tre đực) và đầu hở là đầu âm. Đầu âm ở này thấy rõ trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ.

Dùi trống nòng nọc, âm dương có đầu âm hở đánh xuống mặt trời dương thấy rõ trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ.

Đánh theo cách âm dương là đánh theo chiều thẳng đứng từ trên đâm đầu âm hở của dùi trống xuống mặt trời dương của mặt trống (xem thêm chương Ý Nghĩa Các Biểu Tượng).

b. Nhà nòng ở bán viên âm có đám rước 6 người nhẩy múa .

 

Hình nhà nòng ở bán viên âm có đám rước sáu người (Nguyễn Văn Huyên).

Ngôi nhà nòng này có mái vòm, dáng nhà trông như nhà rùa mang trọn vẹn Vũ Trụ thuyết.

Ta thấy ngay những mấu chốt chính là:

.Ở hai bên nóc vòm có hình ngữ hai vòng tròn đồng tâm cho biết căn nhà này là căn nhà nòng âm.

.Ở ô giữa, có một người, đứng ngẩng mặt nhìn lên trời, tay cầm gậy giơ lên cao khỏi đầu. Gậy nọc biểu tượng cho lửa Càn Li.

.Tấm phên bên phải tức phía dương phía trước ngôi nhà có 7 hình ngữ “vòng tròn có chấm ở giữa” trông như những chiếc gồng. Phần lớn các tác giả đều cho đây là những chiếc gồng. Gồng biểu tượng cho ngành nòng. Gồng là cồng là còng là vòng là nòng, “lệnh ông không bằng cồng bà”, “Muốn coi lên núi mà coi, Coi bà Triệu Ẩu cỡi voi, đánh cồng”. Trong khi trống biểu tượng cho ngành nọc.

Số 7 là số Càn, thái dương. Phía bên trái có 8 cái gồng. Số 8 là số Khôn. Khôn ở tay trái phía âm là Khôn âm tức thái âm nước. Đọc theo chiều âm ta có Càn khôn nước, Càn thái âm. Ở đây cho thấy lưỡng hợp đại vũ trụ Càn Chấn và Càn mang tính chủ trong khi phía nhà nọc dương có dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ Li Đoài vũ trụ và Li mang tính chủ.

Dưới gầm sàn nhà, có một hố hay lò lửa Li dùng trong các nghi lễ tôn giáo như đã nói ở trên… Lò lửa có hình cái nọc ( | ) mang hình ảnh Núi Trụ Thế Gian Li nằm trong  Trục Thế Giới nối vào nhà cắm trên vòng cong lòng chảo, tức nòng O mở ra mang dương tính thúc thiếu âm  khí gió Đoài vũ trụ. Ở đây có dạng lưỡng hợp tiển vũ trụ Li-Đoài vũ trụ.

Ta cũng thấy hình lò lửa này mang hình ảnh thạch trụ cắm trên mặt đất biểu tượng cho Núi Trụ là dạng chữ Thổ hay chữ Hán sơn viết theo chữ khoa đẩu nòng nọc cổ là núi tức Li (Xem Kẻ Sĩ).

Ta thấy rất rõ ở nhóm âm 6 người nhẩy múa Đoài Chấn này, phía nòng âm có căn nhà nòng Càn Li giao hòa với căn nhà nọc Chấn Đoài ở cùng bán viên âm này.

Tóm lại, theo duy dương hay trên trống, căn nhà nòng này có hai khuôn mặt dương là Càn Li. Càn mang tính chủ vì 7 cái gồng ở phía bên phải. Do đó, theo duy dương trên bán viên âm của nhóm 6 người nhẩy múa có hai căn nhà nọc Đoài Chấn và hai nhà nòng Li Càn giao hòa theo lưỡng hợp đại vũ trụ Càn Chấn và tiểu vũ trụ Li-Đoài vũ trụ.

Cảnh giã chầy cối.

Cảnh giã chầy cối ở cạnh nhà nòng ở bán viên của nhóm 6 người nhẩy múa.

Bên phải của căn nhà nòng này có một cảnh giã chầy cối đối ứng với dàn trống ở bên nhà nọc. Ở đây lòng cối có hình chữ V mang nghĩa âm thái dương, những nọc chấm cũng cho biết trống thuộc phiá âm thái  dưuơng. Chầy có hình hai cái phướn cho thấy rõ ràng cảnh giã chầy cối mang tính cách tín ngưỡng không phải là cảnh giã chầy cối soạn thực phẩm. Cảnh giã chầy cối là cảnh đánh «trống âm» của dòng âm mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ giáo (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng).

Hai phướn trống không mang ý nghĩa Khôn và trong hai phướn  có các nọc chấm dương nguyên tạo. Vậy cảnh giã chấy cối này thuộc về phía nòng dương sinh tạo Chấn Đoài vũ trụ thái dương sinh tạo.

Người đứng giã bên phải tóc búi ngắn phía sau hình nọc que mang dương tính, ở trần, mặt quay về phía âm tức dương của âm là thiếu âm khí gió Đoài vũ trụ. Ngược lại người bên trái phía âm tóc dài có sọc  ngang  nước Khôn, trang phục dài mang âm tính, người này là Chấn. Trên người có “chấm vòng tròn” thái dương. Người này là Chấn thái dương. Vậy cảnh giã chầy cối này là Chấn Đoài vũ trụ  hôn phối với nhà nòng Càn Li.

Một người đứng ngửa mặt lên trời, tay đang dâng lễ vật cầu trời. Đây có thể là một ông mo, bà đồng. Người này cho thấy cảnh giã chầy cối mang nghĩa tín ngưỡng nòng nọc, âm dương hòa hợp của phía nòng âm, không phải chỉ mang ý nghĩa thuần túy nông nghiệp giã gạo, hiểu theo duy tục, hiểu theo cái dạ dầy đói ăn. Trống đồng nòng nọc, âm dương không phải là biểu tượng cho nền văn minh lúa nước thuần túy.

Người này có tóc ngắn giống người giã Đoài vũ trụ trên người có hình vòng tròn chấm có một nghĩa là Đoài vũ trụ, quay mặt về phía trái âm. Đây là vị lãnh đạo tinh thần của phía nòng âm, có khuôn mặt Đoài vũ trụ mang tính chủ.

Vậy tóm lại cảnh giã chầy cối Đoài Chấn hôn phối với nhà nòng Càn Li.

c. Nhà nọc ở bán viên dương có đám rước 7 người nhẩy múa.

Nhìn tổng quát, số 7 là số dương, Càn. Vậy suy ra ngay căn nhà nọc ở bán viên dương có đám rước 7 người nhẩy múa là ngôi nhà nọc ngành dương Càn Li.

Ngôi nhà nọc ở bán viên có đám rước 7 người.

Hai đầu nóc căn nhà này trang trí bằng hai đầu chim dương có con mắt dương “vòng tròn có chấm giữa” Li, mào hình những nọc que như nọc tia sáng mặt trời mang dương tính nọc (trong khi chim ở nhà bên bán viên âm mào hình bao, túi nang mang âm tính nòng). Mào gồm có 5 (số Li) chiếc lông tỏa ra như tia sáng (Càn). Chiếc mào trông giống như chiếc mũ tia sáng hiển nhiên cho biết đây là nhà nọc dương hay nhà nọc Càn Li đối ứng với nhà nọc Đoài Chấn ở bán viên âm của nhóm 6 người nhẩy múa. Đầu chim này có thể coi là đầu chim cắt biểu tượng cho ngành nọc Càn Li. Đầu chim này giống như đầu chim cắt ở phía sau đuôi thuyền có hình đầu chim nông (xem chương Hình Thuyền Trên Trống Đồng).  Trên mái nhà chỉ có một con chim trĩ. Số 1 là số lẻ, dương cho biết nhà nọc này biểu tượng cho ngành nọc Càn Li. Con chim này có đuôi dài quay nhìn về phía tay phải,dương cho biết đây là con chim trĩ, lửa biểu tượng cho lửa đất thế gian Li. Ngôi nhà này là ngôi nhà đực thái dương Càn Li.

Chim trĩ đậu tức biểu tượng cho cho lửa đất thế gian nên Li mang tính chủ. Đối chiếu với căn nhà ở phía âm bên kia có khuôn mặt Đoài vũ trụ mang tính chủ thì ở phía dương bên này bắt buộc Li phải mang tính chủ cho có sự lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu âm Đoài vũ trụ với thiếu dương Li.

Trên sàn cũng có hai người tế lễ giơ hai tay cao liên hệ tới sự sùng bái mặt trời.

Ở dưới chái nhà bên phải, có một người đánh trống hình lục giác để trên một cái cột trụ cố ý cho biết trống này ở “trên cao” Khôn hôn phối với Càn. Trống này là trống Càn vũ trụ nên mới có hình lục giác 6 cạnh (số 6 là số thành, sinh tạo). Trống này biểu tượng cho đại tộc Càn. Trống ở góc phải dương ứng với số 6 (âm thái dương) trong ma phượng trục 5/15 cũng cho biết trống mang khuôn mặt thái dương Càn (số 6 có số 7 Càn ngay bên phải).

Ở chái nhà bên trái có một chiếc trống để nằm ngang, mặt trống quay về tay phải. Trống này để nằm sát đất. Đất bằng là Li, lửa đất  thế gian, nhà có một khuôn mặt Li. Góc trái là phía âm của căn nhà nọc dương, tức âm của dương, tức thiếu dương, bản thể của Li. Trống ở phía âm quay mặt về tay phải dương cũng mang tính âm của phía dương là thiếu dương Li. Trống cò hình trụ chống có đáy rộng, hình tháp tức trống Li, loại NXQ V (xem chương Cơ Thể Học Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).  Vậy trống này là trống Li.

Như thế, nhà nọc ở bán viên có đám rước 7 người là nhà nọc thái dương Càn Li.

Nhà nọc Li Càn Dương phía nọc này đối ứng với nhà nọc Đoài vũ trụ Chấn thái dương phía nòng ở bên bán viên âm 6 người. Đại tộc Li thế gian mang tính chủ.

Dàn trống

 Dàn trống ở bên nhà nọc của nhóm 7 người nhẩy múa (nguồn : Phạm Huy Thông và các cộng tác viên, Dong Son Drums in Viet Nam). Những trống trong hình này vẽ khác những hình vẽ trong quyển Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hện ở Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên.

Ở đây người ngồi đầu ở bên phải tóc ngắn nhất, lưng cong vòng biểu tượng Đoài vũ trụ, kế tiếp là người có tóc sau gáy thẳng đứng Li (như Núi Trụ Chống Trời), người thứ ba tóc có tia sáng Càn và người thứ tư tóc chẩy xuôi như nước, Chấn.

Điểm đáng chú ý là cái phướn phía trước có hình vòng tròn đồng tâm và có lẽ dấu chấm bị soi mòn mất, biểu tượng Chấn và phướn gió biểu tượng Đoài. Dàn trống này của dòng nòng Đoài Chấn hôn phối với căn nhà nọc Li Càn ở nhóm 7 người nhẩy múa này.

d. Nhà nòng ở bán viên dương có đám rước 7 người.

Số 7 là số  dương. Nhóm 7 người nhẩy múa đi hướng tới là căn nhà nòng dương.

Ta thấy ngay mấu chốt chính là người đứng ở cửa, cầm một vật gì hình tròn, đa số tác giả đều cho đây là một cái trống cầm tay hình tròn. Đây chính là căn nhà trống “haus tambaran” nòng, âm.

Hình nhà nòng ở bán viên dương có nhóm 7 người nhẩy múai (Nguyễn Văn Huyên tr.168).

Lưu ý trống hình tròn nòng âm Khôn trong có các nọc chấm dương cho biết đây Khôn thái dương và đây là trống chứ không phải là cồng. Như thế căn nhà nòng ở bán viên của nhóm 7 người nhẩy múa có khuôn mặt  theo duy âm là Khôn thái dương.  Chiếc trống tròn nòng Khôn thái dương cho thấy ngôi nhà nòng này là ngôi nhà nòng Đoài vũ trụ  Chấn, hôn phối với khuôn mặt Càn Li của nhà nọc.

Tấm phên bên trái phía trước nhà, có bẩy hình ngữ giống gồng. Số 7 là số Càn, thái dương. Bên phải trong khung có 7 hình ngữ và ở phía ngoài có thêm một cái nữa, tổng cộng là 8 (đây có thể là lỗi lầm kỹ thuật của người làm trống. Thiếu một, vì không còn chỗ trong khung nữa nên phải khắc thêm ở phía ngoài cho đủ 8 hay tác giả làm trống cố ý cho biết là nghĩa khuôn mặt Khôn 8 mang tính chủ, nghĩa là Càn/khôn mang tính chủ cho hôn phối với khuôn mặt Li/Khảm của căn nhà nọc ở cùng bán viên này). Dưới gầm có hình lò lửa hình như cái siêu nước có hai cái “sừng” dương biểu nước dương dưới dạng nước Chấn/ hơi nước Đoài vũ trụ.

Tóm lại, ngôi nhà nòng ở bán viên dương có đám rước 7 người là ngôi nhà nòng Chấn Đoài vũ trụ. Theo duy dương là nhà Chấn Đoài vũ trụ có khuôn mặt Chấn mang tính chủ vì 8 cái cồng ở phía tay phải (Chấn đại diện cho Khôn).

Cảnh giã chầy cối.

Cảnh giã chầy cối ở cạnh nhà nòng ở bán viên của nhóm 7 người nhẩy múa.

Bên phải của căn nhà nòng này có một cảnh giã chầy cối đối ứng với dàn trống ở bên nhà nọc.

Phướn của chầy của người bên phải trong có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que chỉ dương. lửa đất núi trụ Li. Những nọc chấm dương mang nghĩa  thái dương sinh tạo. Phướn của chầy của người bên trái trống không Khôn, chỉ có các chấm nọc dương sinh tạo cho biết là Càn sinh tạo.  Người đứng giã bên phải tóc búi ngắn, có phần sau thẳng hình trụ nọc Li, trang phục ngắn mang dương tính nghiêng về thiếu dương Li thái dương. Ngược lại người bên trái phía âm tóc dài, trang phục dài mang nhiều âm tính, quay mặt về phía dương bên phải là dương, trên người có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que chấm vòng tròng có một nghĩa là mặt trời Càn sinh tạo. Người này là Càn phía nòng âm thái dương.

Vậy cảnh giã chầy cối Càn Li hôn phối với nhà nòng Chấn Đoài vũ trụ.

Một người đứng ngửa mặt lên trời, tay đang dâng lễ vật cầu trời, đây có thể là một ông mo, bà đồng giống như bên bán viên âm.

Người này khác với người ở bán viên âm là có tóc rất dài mang nhiều âm tính. Đây là vị lãnh đạo tinh thần của phía nòng âm, có khuôn mặt Chấn mang tính chủ.

Tóm tắt

Nhà trên trống Ngọc Lũ I là nhà biểu tượng, là nhà thiêng liêng, thờ phượng mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ giáo, Đạo Mặt Trời. Có hai loại nhà nòng, nòng không gian và nhà nọc, nọc mặt trời. Nhà nọc có mái võng hai mang âm tính thuộc phía nòng. Hai đầu nhọn mang tính thái dương. Vì ở trên trống mặt trời thái dương có 14 nọc tia sáng nên khuôn mặt thái dương mang tính chủ nghĩa là khuôn mặt thiếu dương Đoài vũ trụ mang tính chủ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là khuôn mặt Đoài vũ trụ tạo hóa sinh tạo của Hùng Vương.

Hai căn nhà nọc biểu tượng hai phía nội ngoại của ngành dương ứng với Tứ Tượng, Tứ ĐạiTộc nọc dương và hai ngôi nhà nòng biểu tượng hai phía nội ngoại, theo duy âm là của ngành âm, và theo duy dương là của ngành dương thay thế hay đại diện ngành âm cũng ứng với Tứ Tượng, Tứ Đại Tộc nòng âm. Tất cả những căn nhà này là nhà của đại tộc Người Mặt Trời Thái Dương thuộc họ Người Vũ Trụ.  Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là nhà của Đại Tộc Bách Việt Người Mặt Trời Thái Dương ngành thần mặt trời Viêm Đế , con cháu của Tổ Hùng Tạo Hóa.

Tóm Lược Vành Sinh Hoạt Nhân Sinh

Vậy tóm lại vành sinh hoạt nhân sinh chủ chốt nằm sát phía tâm trống trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I gồm:

-Người: có hai đại tộc Người Mặt Trời Thái Dương Bách Việt thuộc hai nhánh nọc  dương thái dương và nọc âm thái dương của chủng Người Vũ Trụ  có khuôn mặt chủ là Li. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là Người Mặt Trời Thái Dương Bách Việt thuộc nhánh nọc dương thái dương Viêm Đế và nọc âm thái dương Thần Nông  có khuôn mặt chủ là người Xích Quì Kì Dương Vương.

-Nhà:  có hai lọai nhà nọc mặt trời thái dương và nhà nòng mặt trời nòng thái dương hay không gian thái dương (hay nhà nòng mặt trời  nòng thái dương đại diện cho nòng không gian). Các ngôi nhà ăn khớp hoàn toàn với các nhánh, đại tộc, tộc người.

Tất cả mang trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh trong Vũ Trụ giáo.

(còn tiếp).

2 comments

  1. You understand therefore considerably on the subject of this matter, made me individually believe it from a lot of numerous angles. Its like women and men don’t seem to be interested unless it is one thing to do with Girl gaga! Your own stuffs excellent. Always care for it up!

    1. Quang Nguyen · · Reply

      Thank.
      Nguyễn Xuân Quang

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: