NHÓM TRỐNG THÁI DƯƠNG: NGỌC LŨ I, TRỐNG BIỂU NGÀNH MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG, CÀN THẾ GIAN.  

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

*Đang nhuận sắc lại.

TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG.

NGỌC LŨ I, TRỐNG BIỂU NGÀNH MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG, CÀN THẾ GIAN.  

(phần 2)

Nguyễn Xuân Quang

B. Cõi Giữa, Trung Thế.

Xin nhắc lại trống Cây Nấm Vũ Trụ (Nấm Tam Thế, Đời Sống) như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I về cơ thể học gồm có tam thế Thượng Thế (tâm trống), Trung Thế (phần còn lại của mặt trống và tang trống), Hạ Thế (chân hay đế trống) nối với nhau bằng Trục Thế Giới (thân hay eo trống). 

Trung Thế là cõi giữa nhân thế gồm có vùng đất và vùng nước. Vùng đất là phần mặt trống còn lại và vùng nước là tang trống.

Nhìn thoáng qua ta thấy cõi giữa trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I phức tạp hơn các trống khác. Ngoài một vành người hay thú, vành cò bay thường thấy ở vùng đất và vành thuyền ở vùng nước tang trống như thấy trên các trống thế gian khác còn có thêm vành chim thú (chim khác cò ) và vòng chim đứng. Điểm này cho thấy trống Ngọc Lũ I diễn tả đầy đủ thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của phía nọc dương Càn Li lưỡng hợp với phía nọc âm Chấn Đoài vũ trụ khí gió. Trống Ngọc Lũ I là trống biểu thế gian của cả ngànhmặt trời dương thái dương ứng với Viêm Đế.

1. Vùng Đất.

 

 Vùng đất là phần còn lại của mặt trống sau khi trừ bỏ đi vùng tâm trống cõi trên thượng thế/bầu trời thế gian.

Vùng đất chia ra là hai miền đầt dương nằm sát mặt trời và miền đất âm nằm ngoài biên trống sát vùng nước tang trống.

 a. Đất dương

Miền đầt dương nằm sát mặt trời gồm có vành người và vành hươu chim (khác cò).

 

Miền đất dương.

 .Vành người và nhà.

Vành số 6 có người và nhà. Số 6 là số âm thái dương cho biết người và nhà thuộc nhánh mặt trời thái dương.

A. Người.

Mấu Chốt.

Xin nhắc lại:

Trống có hai nhóm 7 và 6 người nhẩy múa, trừ người cuối cùng ở nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu hình bầu nậm, còn lại 12 người đều hóa trang chim Rìu Lửa Bổ Cắt, chim biểu của thần mặt trời thái dương. Chim Rìu Cắt Lửa Hán Việt gọi là chim Hồng Hoàng. Chim Rìu Lửa Cắt Sừng Hồng Hoàng là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế. Như thế người trên trống Ngọc Lũ I thuộc ngành người Việt Mặt Trời Viêm Đế thái dương (trong khi Chim Rìu Nước Bổ Nông là chim biểu nhánh người Hoàng Việt mặt trời thái âm Thần Nông thái dương thấy ở trống Hoàng Hạ ngành Việt Mặt Trời Thái Dương).

Tất cả hai nhóm người (trừ người cuối cùng nhóm 7 người nhẩy múa) đều có trang phục đầu bầu nậm) đều là Người Mặt Trời Chim Rìu Lửa, Cắt, Hồng Hoàng, Chim Việt Lửa thái dương cho thấy họ thuộc về một ngành là ngành người mặt trời thái dương, ngành Người Việt Mặt Trời Thái Dương Viêm Việt, Hồng Việt, Lửa Việt. 

Nhóm 7 người là nhóm Càn dương thái dương (số 7 là sốn Càn, số lẻ) ứng với khuôn mặt Càn Khôn vũ trụ là ngành phụ Càn Khôn (lưỡng hợp Càn Khôn thấy trong Tiên Thiên bát quái). Khuôn mặt Càn Khôn số 7 này thấy rõ qua trống Càn Khôn Làng Vạc V có mặt trời 7 nọc tia sáng mũi mác đã nói ở trên.

Người thứ 7 ở nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu hình bầu nậm có một khuôn mặt biểu tượng cho bầu vũ trụ, bầu trời. Người này là người vũ trụ, tiểu vũ trụ. Người này cũng cho biết là người trên trống Ngọc Lũ I thuộc Chủng Người Càn Khôn, Vũ Trụ, Người Vũ Trụ sinh ra từ bầu, bọc, trứng vũ trụ ứng với truyền thuyết và cổ sử Việt nói rằng người Việt sinh ra từ một quả Bầu và Các thần tổ đầu tiên Hùng Lang sinh ra từ bọc trứng thế gian của Mẹ Tổ Âu Cơ đội lốt bọc trứng vũ trụ, càn khôn Viêm Đế-Thần Nông nhất thể . 

Tuy nhiên người này còn có một chức vụ dùng như một dấu, một tính, một chỉ định tố trong chữ nòng nọc vòng tròn-que vì trang phục đầu bầu nậm mang tính nòng nọc (âm dương). Điểm này thấy rõ là người này nhỏ bé hơn 12 người chim Rìu lửa. Một dấu hay chỉ định tố thường nhỏ hơn chữ, nhỏ hơn yếu tố chủ, chính của nó. Với chức vụ này, người này cho biết 12 người chim cắt-lửa ở hai bán viên mang tính nòng nọc (âm dương) khác nhau. Ở bán viên dương, nhóm 7 người nhẩy múa mang dương tính Trụ. Ở bán biên âm, nhóm 6 người nhẩy múa mang âm tính Vũ. Quan trọng hơn là dùng trong lịch học, người này chỉ dùng làm chỉ định tố  chỉ các ngày còn thừ dư như một tháng ngằn. Ví dụ trống Ngọc Lũ I có diễn tả một loại lịch-đầt thái dương Càn 365 ngày dựa theo quả đất quay quanh mặt trời  gốm 13 tháng:  12 tháng dài 30 ngày và 1 tháng ngằn là 5 ngày còn lại. Ta thấy 12 tháng dài diễn tả bằng 12 người-chim Rìu Lửa, Cắt Lửa và tháng ngắn diễn tả bằng người nhỏ bé có trang phục đầu bầu nậm ở cuối nhóm 7 người nhẩy múa. Rõ như ban ngày người này có thêm một chức vụ như một chỉ định tố. 

Nhóm 6 người nhẩy múa là nhóm Càn-Tốn thế gian âm thái dương (số Tốn là số âm thái dương) là ngành phụ Càn Tốn (lưỡng hợp Càn với Tốn thấy trong Hậu Thiên bát quái).

Tóm lại người trên trống Ngọc Lũ I là người thuộc ngành Càn Chim Rìu Lửa Cắt, Hồng hoàng, Chim Việt Lửa thái dương gồm hai nhánh: ngành phụ Càn Khôn nhóm 7 người nhẩy múa và ngành phụ Càn Tốn nhóm 6 người nhẩy múa thuộc chủng người vũ trụ.

Bây giờ ta đi vào chi tiết.

Tổng quát.

Trên những trống đồng âm dương biểu tượng Tam Thế trọn vẹn gồm cả Ba Cõi như trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ, Sông Đà v.v… phần Cõi Giữa nhân gian trên mặt đất và trên mặt nước có cảnh sinh hoạt nhân sinh. Trên những trống chính thống, cõi nhân gian bắt buộc phải là một phần của giáo thuyết Vũ Trụ giáo, Đạo Mặt Trời, nói một cách khác cảnh sinh hoạt nhân sinh phải mang một ý nghĩa phù hợp với Vũ Trụ thuyết. Những trống muộn như trống Vân Nam thường có cảnh nhân sinh thế tục diễn tả sinh hoạt của đời sống hàng ngày không mang triết thuyết Vũ Trụ giáo. Đây là những trống muộn hay trống thương mại đã mất gốc. Như thế theo nguyên tắc tổng quát ở những trống chính thống, con người và cảnh sinh hoạt nhân sinh phải mang một ý nghĩa, biểu tượng tín ngưỡng Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo: người do vũ trụ sinh ra, con người là tiểu vũ trụ, là con trời, về thời phụ quyền là người mặt trời, người ánh sáng (xin nhắc lại Người Việt là Người Mặt Trời); cảnh sinh hoạt của con người dù ở trên mặt đất hay trên mặt nước phải là cảnh giáo vụ (religious services) như lễ lạc, lễ tế… liên hệ tới Vũ Trụ giáo, Đạo Mặt Trời.

Bởi vì trống có một khuôn mặt trội là trống (male) biểu tượng cho dương, mặt trời, nên người thấy trên trống thường thuộc về dòng dương, dòng MặtTrời, là người mặt trời. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt trống đồng của đại tộc Đông Sơn có mặt trời ở tâm trống là trống biểu của Hùng Vương Mặt Trời nên người trên trống đồng là Người Việt Mặt Trời.

  1. Người mặt trời hóa trang thành chim, người chim mặt trời. 

Ví dụ như người chim của Người Mặt Trời Aztec (People of the Sun); thần mặt trời Horus của Ai Cập cổ có một khuôn mặt tương đương với Hùng Vương có đầu hay trang phục đầu chim ưng (falcon).

Thần Mặt Trời  Horus.

Những người trên trống đồng nòng nọc (âm dương) Ngọc Lũ I là Người hóa trang Chim Mặt Trời, là người Mặt Trời ứng với Người Việt Mặt Trời. 

Cần lưu tâm:

Con người là khuôn mặt chính ở Cõi Giữa nhân gian, vì thế ta có một định luật là: khi liếc mắt nhìn qua, nếu thấy có hình người trên mặt một trống nào đó, thì theo chính thống, trăm phần trăm trống đó phải là trống thế gian, nghĩa là trống có mặt trời có từ 8 nọc ánh sáng trở lên. Trống này có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống thế gian nên có vành số 6 chủ chốt là vành diễn tả cảnh sinh hoạt nhân sinh của người mặt trời.

2. Dựa vào tính nòng nọc (âm dương) của trang phục đầu, trang phục trên người, gậy thờ, khí giới thờ và các chữ nòng nọc, chúng ta có thể nhận diện ra những tộc người trên trống đồng.

Ví dụ như trên trống Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng dương thái dương  thuộc nhóm trống thái dương Càn thế gian, nên người chim mặt trời có trang phục đầu có đường nét thẳng, có góc cạnh sắc nhọn mang nhiều dương tính (xem dưới).

4-6

Một người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I.

Trên trống Hoàng Hạ có mặt trời 16 nọc tia sáng và tuy cũng có sự hiện diện của hai vành ngoài biên nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) thái dương  nhưng những người nhẩy múa có trang phục đầu có đường nét cong tròn tròn mang âm tính  (xem trống này).

Trang phục đầu thái dương mang âm tính tròn trên trống Hoàng Hạ.

Trên trống Khai Hóa có mặt trời 12 tia sáng và cũng có sự hiện diện của hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) thái dương, những người nhẩy múa có trang phục đầu có đường nét cong hơn nữa mang nhiều âm tính (có khuôn mặt chủ là Chấn thái dương) (xem trống này).

Trang phục đầu mang âm tính cong thẳng trên trống Khai Hóa.

3. Số người trong mỗi bán viên và trong các tiểu nhóm ở mỗi trống đồng nòng nọc (âm dương) khác nhau theo tính nòng nọc (âm dương).

Ví dụ ở trống Ngọc Lũ I có hai nhóm 6 và 7 người nhẩy múa. Với số người khác nhau cho biết hai nhóm người thuộc hai nhánh, hai đại tộc khác nhau hay hai phía nội ngoại khác nhau của một ngành, một đại tộc. So sánh với trống Ngọc Lũ I, trống Sông Đà cũng cùng nhóm mặt trời với trống Ngọc Lũ I nhưng một bán viên có 6 người nhẩy múa phân chia ra làm hai tiểu nhóm 3 người và một nhóm 8 người chia ra hai tiểu nhóm 4 người. Tiểu nhóm 3 người là Đoài thái dương và tiểu nhóm 4 là Cấn/Chấn thái dương. Điều này thấy rất rõ là ở ngoài biên trống có vành hai gồm hai đoạn sóng hình thoi gió dương Đoài vận hành, ở đầu mỗi hình thoi có phụ đề thêm hai chữ “vòng tròn có chấm” có một nghĩa là hai dương, thái dương. Xen kẽ với hai đoạn sóng hình thoi này là hai đoạn uốn khúc sóng hình vuông có một nghĩa là lửa nước, sấm gầm Chấn. Hai bên vành uốn khúc này là hai vành nọc mũi tên thái dương. Rõ ràng trống có hai tộc Đoài ứng với tiểu nhóm 3 người và Chấn thái dương ứng với tiểu nhóm 4 người nhẩy múa.

Ở trên trống Hoàng Hạ có hai nhóm 6 người nhẩy múa, ở trên trống Khai Hóa có hai nhóm 8 người nhẩy múa. Trống Cổ Loa I cũng thuộc nhóm trống nọc lửa có mặt trời 14 nọc tia sáng như trống Ngọc Lũ I nhưng ở trống Cổ Loa I hai nhóm người nhẩy múa mỗi nhóm cùng có 6 người (6 là âm thái dương) vì thế trống này có thể chỉ là trống biểu của một ngành, một đại tộc gồm có hai phía nội ngoại, dương âm của ngành hay đại tộc thái dương mang âm tính đó. Điều này thấy rất rõ là ở ngoài biên trống Cổ Loa I có hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) nọc âm thái dương.

Những con số người khác biệt này giúp ta nhận diện được những người trên một trống.

4. Mỗi người trong mỗi nhóm hay tiểu nhóm mang một ý nghĩa biểu tượng khác nhau theo Vũ Trụ thuyết.

Thường người đi sau cùng biểu tượng cho họ, nhánh, ngành hay đại tộc. Những người này có trang phục đầu và cầm các nhạc cụ hay khí giới khác với những người còn lại trong nhóm. Ví dụ ở trống Ngọc Lũ I người cuối cùng ở nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu hình bầu nậm có tính nòng nọc âm dương khác với 12 người còn lại.

Ở trống Hoàng Hạ hai người cuối cùng của hai nhóm 6 người nhẩy múa có trang phục đầu hình nang túi Khôn (gió-nước, Đoài-Chấn), phần sau gáy hình cánh chim hay đuôi chim có đường nét cong tròn mang âm tính, khác trang phục đầu của 10 người còn lại.

Hai người cuối cùng của hai nhóm 6 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I (nhóm 7 người nhẩy múa  trừ người cuối cùng còn lại 6) có trang phục đầu khác với 10 người còn lại.

Ở trống Khai Hóa, hai người cuối cùng của hai tiểu nhóm 4 người nhẩy múa trên trống Khai Hóa có trang phục đầu khác với 14 người còn lại.

5. Những người có trang phục đầu tổng quát giống nhau là những người cùng một tộc hay một đại tộc.

Trống nào có tất cả những người nhẩy múa có trang phục đầu tổng quát giống nhau thì trống đó chỉ biểu tượng cho một nhánh, tộc đại mà thôi. Đây là trường trống Ngọc Lũ I (xem dưới).

6. Số những người có trang phục đầu tổng quát giống nhau giúp ta nhận diện ra tộc đó.

Ví dụ ở trên trống Hoàng Hạ mỗi nhóm có 5 người nhẩy múa có trang phục đầu tổng quát giống nhau; ở trên trống Ngọc Lũ I có hai nhóm 6 và 7 người nhẩy múa nhưng chỉ có 6 người trong mỗi nhóm có trang phục đầu tổng quát giống nhau; ở trên trống Khai Hóa mỗi nhóm có 7 người nhẩy múa có trang phục đầu tổng quát giống nhau. Ba trống này đều là trống thái dương, mặt trời nọc dương thái dương vì cả ba đều có sự hiện diện của hai vành nọc mũi mác ở biên trống.

Như thế dựa vào tính nòng nọc, âm dương, trang phục đầu, số người, trang phục trên người, gậy thờ, khí giới thờ và các chữ nòng nọc, chúng ta có thể nhận diện ra những người trên trống đồng Ngọc Lũ I.

NGƯỜI TRÊN TRỐNG NGỌC LŨ I. 

.Người trên trống Ngọc Lũ I ở vành số 6 với số 6 là số Tốn âm thái dương lưỡng hợp với Càn cho biết người ở vành số 6 là người mặt trời thái dương Càn.

. Người trên trống Ngọc Lũ I là người mặt trời thái dương Càn nên hóa trang thành người chim mặt trời Càn tức chim Rìu Lửa, Việt Lửa, chim cắt sừng Hồng Hoàng. Chim này là chim biểu tượng mặt trời thấy rõ qua Chim Rìu Lửa Cắt Sừng là chim biểu nhánh dương Mặt Trời Viêm Đế thái dương (trong khi  Chim Rìu Nước Bổ Nông là chim biểu mặt trời nhánh âm mặt trời Thần Nông thái dương thấy ở trống Hoàng Hạ) ở ngành Việt Mặt Trời Thái Dương.

. Hai nhóm 7 và 6 người nhẩy múa đều hóa trang người mặt trời Chim Rìu (trừ người cuối cùng ở nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu hình bầu nậm là người tiểu vũ trụ). 

Chủ yếu là nhóm 7 người nhẩy múa Càn vì là trống thái dương Càn. Số 7 cũng là số Càn.

 

 Hai nhóm người nhẩy múa trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

(xem chương Ý Nghĩa Hình Người, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, tập II).

-Trang phục đầu hình chim gồm toàn những nét nọc que thẳng hay có góc cạnh mang dương tính khác với trang phục đầu có các nét cong mang âm tính như ở người trên thuyền, trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ, trên trống Sông Đà, Cổ Loa I…. cho thấy rõ những người trên trống Ngọc Lũ I này thuộc ngành chim mặt trời thái dương, Người Mặt Trời Thái Dương. 

-Hai nhóm 6 và 7 người nhẩy múa trên hai bán viên của trống đồng âm dương Ngọc Lũ I hầu hết có trang phục đầu giống nhau (trừ người cuối cùng ở nhóm 7 người nhẩy múa) cho biết những người này cùng một họ, một nhánh hay cùng một đại tộc  mặt trời thái dương.

Ở trống này hai bán viên khác nhau có hai nhóm người nhẩy múa có số người khác nhau. Một nhóm 6 và một nhóm 7 người. Số 6 là số âm và là số lớn nhất, già nhất gọi là lão âm tức âm thái dương trong bốn số âm (0, 2, 4, 6) trong 8 quẻ (ứng với bát quái) tức tầng 1 trong 8 tầng 64 quẻ. Vậy nhóm 6 người nhẩy múa là nhóm thuộc nhánh âm thái dương. Tương tự nhóm 7 người nhẩy múa với số 7 là số lão dương thuộc nhánh dương thái dương của nhánh người chim Mặt Trời Thái Dương.

Như thế hai nhóm người nhẩy múa ở hai bán viên thuộc hai nhánh nòng nọc, âm dương của Người Mặt Trời Thái Dương. Cả hai nhóm người đều nhẩy múa theo chiều dương từ trái qua phải tức chiều ngược kim đồng hồ nên đều thuộc dòng nọc, mặt trời thái dương. Nhóm 7 người nhẩy múa thuộc phía dương, nội của ngành nọc dương mặt trời thái dương và nhóm của nhóm 6 người nhẩy múa thuộc phía âm, ngoại của ngành  nọc dương mặt trời thái dương.

Ta cũng suy ra bán viên có 6 người nhẩy múa là bán viên âm và bán viên có nhóm 7 người nhẩy múa là viên dương.

Đối chiếu với truyền thuyết Việt, người trên trống Ngọc Lũ I là Người Chim  Mặt Trời thái dương Bổ Cắt Lửa thái dương dòng mặt trời Viêm Đế có chim biểu là chim Bổ Cắt Lớn (Great Horbill, Buceros bicornis).

Vị trí của người trong mỗi nhóm cũng giúp ta nhận diện ra danh tính của họ.

Như đã nói ở trên, thường người đi sau cùng biểu tượng cho họ, nhánh, ngành hay đại tộc. Những người này có trang phục đầu và cầm các nhạc cụ hay khí giới khác với những người còn lại trong nhóm. Ví dụ ở trống Ngọc Lũ I này người cuối cùng ở nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu hình nòng nọc âm dương, hình bầu nậm khác hẳn với những người còn lại có trang phục đầu hình chim  bổ cắt lửa. 

Người cuối cùng trong nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương có trang phục đầu hình bầu nậm.

Trang phục đầu hình bầu nậm mang nghĩa nòng nọc, âm dương (cổ bầu hình nọc, thân bầu hình nòng) nền tảng của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực, vũ trụ, không gian-mặt trời . Người này là thuộc chủng người vũ trụ con của đại vũ trụ, là người tiểu vũ trụ. Đối chiếu với truyền thuyết Việt những người của hai nhóm này là người mặt trời rạng ngời nhánh nọc Việt Lửa chim Rìu Lửa, Chim Việt  dòng mặt trời Viêm Đế của chủng người vũ trụ.

Hai người cuối cùng của hai nhóm 6 người nhẩy múa (trừ người cuối cùng có trang phục đầu hình bầu nậm trong nhóm nhóm 7 người nhẩy múa ra, nhóm 7 người còn lại 6 người) có trang phục đầu hình chim cũng có đặc điểm khác biệt với 10 người còn lại (xem dưới).

ĐI VÀO CHI TIẾT TỪNG NGƯỜI TRÊN TRỐNG ĐỒNG NGỌC LŨ I

A. Người Đại biểu của Họ Người Tiểu Vũ trụ, Người Vũ trụ, Người Mặt trời-Không Gian.

Đây chính là người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa (xem hình ở trên). Người Vũ Trụ nhìn tổng quát dưới con mắt nhất thể là Thái Cực âm dương nhất thể biểu tượng chung cho cả hai ngành. Người này đứng ở nhóm dương 7 người cho thấy ngành dương ngự trị, mang tính chủ.

Trang phục đầu.

Trang phục đầu của người này hình quả bầu nậm. Xin lưu ý người này có trang phục đầu khác hẳn trang phục đầu của mười hai người còn lại cho thấy người này mang một ý nghĩa biểu tượng riêng biệt không nằm trong hai đại tộc của 12 người còn lại. Nói một cách khác người này là đại biểu chung cho cả ngành hai ngành phụ tức là đại biểu cho cả họ.

Người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa, theo cái nhìn toàn diện là người tiểu vũ trụ con của đại vũ trụ, Không Gian-Mặt Trời, Tạo-Hóa mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh thấy rõ qua bầu nậm, biểu tượng cho vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo.

-Trang phục trên người.

Người này mặc váy xẻ có hai vạt òe ra hai bên mang hình ảnh cánh chim. Đây là người chim vũ trụ.

.Nhạc Cụ

Phía trước người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa này là người thổi khèn, nên những vật người cuối cùng này cầm trong tay hiển nhiên cũng phải là một thứ nhạc cụ. Đây là cây dùi và cái mõ hay chuông bát hình chữ U (như cái chuông tụng kinh của Phật giáo) hay cái cồng hình cái u, cái âu, cái bồn.

Cũng như các biểu tượng khác trên trống đồng âm dương nhạc cụ này cũng phải nhìn theo Vũ Trụ thuyết.

 ./Dùi dùi chuông

Chiếc dùi chuông cầm ở tay phải chỉ lên trời hàm ý là Nọc dương Cõi Trên, Cõi Trời mang tính lửa, thái dương, Càn (tay phải là dương, nội và dùi là nọc, nội). Dùi mõ hay chuông hình chạng (cháng, chạc cây hình chữ Y), theo thái dương (phía nội của ngành nọc dương) ở Cõi Trời là gậy lửa không gian, tia chớp lửa vũ trụ, phân tích ra gồm ba nọc ||| ghép lại tức Càn.

Chiếc dùi chuông ở tay phải và chỉ lên trời hàm ý khuôn mặt Càn mang tính chủ.

./Chuông bát hay Cồng nồi

Chuông bát ngửa, cồng nồi, chuông âu mang hình ảnh vật đựng, biểu tượng cho nước. Trong chữ nòng nọc vòng tròn-que chữ U có một nghĩa là nước âm thái dương Chấn (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và Mẫu Tự ABC). Như thế chuông bát ngửa cồng nồi có khuôn mặt nước thái dương Chấn mang tính chủ (xem dưới).

Như thế dùi thái dương Càn lưỡng hợp với chuông bát Chấn ở dạng lưỡng hợp thái dương thái âm  Càn Khôn ngành thái dương ăn khớp trăm phần trăm với trang phục đầu bầu nậm càn khôn. Người này dích thực là người vũ trụ sinh ra từ quã bầu vũ trụ.

Tóm lại người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa là người Tiểu Vũ Trụ con của Đại Vũ Trụ mang trọn vẹn Vũ Trụ thuyết, là biểu tượng của Họ Người Nọc Nòng, càn-khôn, Mặt Trời-Không Gian, Người Vũ Trụ thái dương (nhìn chung cả quả bầu) gồm hai nhánh Chim-Rắn, Tiên Rồng.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, thì người có trang phục đầu hình bầu nậm này chính là người cổ Việt sinh ra từ một quả bầu âm dương, khôn càn, Vũ Trụ. Người Vũ Trụ này đẻ ra từ quả bầu chính là Bọc Trứng Vũ Trụ Viêm Đế-Thần Nông nhất thể. Ở cõi thế gian là Bọc Trứng Trăm Hùng Lang thế gian đội lốt bọc trứng vũ trụ, quả bầu vũ trụ gồm hai nhánh Chim-Rắn, Tiên Rồng.

Những Người Đại Biểu, Đại Diện của Ngành Người Mặt Trời Thái dương.

Như đã biết người trên mặt trống Ngọc Lũ I có hai nhóm dương 7 người nhẩy múa và nhóm âm  6 người nhẩy múa. Mười hai người còn lại giống nhau cho thấy cùng một ngành. Những người này có:

1. Trang phục đầu.

Những người của cả hai ngành phụ dương âm 12 người còn lại, sau khi bỏ người biểu tượng người Tiểu Vũ Trụ ra, đều gần giống nhau và khác với người bầu nậm.

Trang phục của 12 người này tất cả các nhà khảo cứu trống đồng âm dương đều công nhận là có hình chim. Đây chính là Người Chim Mặt Trời.

 

Trang phục đầu hình chim Rìu Lửa Mỏ Cắt Lớn.

 Trang phục đầu hình đầu chim có góc cạnh mang dương tính, phía trước có phần trụ chữ nhật lớn thẳng đứng mang dương tính diễn tả chiếc mũ sừng của chim Rìu Cắt lửa, Việt Lửa. Đây là con chim mũ sừng, Mường gọi là chim Khướng (Khướng ruột thịt với Hán Việt Khương, Sừng), Anh ngữ gọi là chim Mỏ Sừng (Hornbill) loại Bổ Cắt Lớn Great Hornbill (Buceros bicornis) có một khuôn mặt là chim biểu tượng mặt trời trong vũ trụ giáo ở Đông Nam Á. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, chim mỏ cắt còn gọi là chim mỏ Rìu (mỏ to như chiếc Rìu), người Mường gọi là chim Khướng (như vừa nói ở trên), chim Cháng, chìm Chàng (chàng là cây đục, chisel). Thần Mặt Trời Viêm Đế có họ Khương (Sừng) có chim biểu là chim Khướng, chim mũ sừng, mỏ sừng hornbill, chim Rìu là chim Việt Lửa. Viêm Đế thần tổ Viêm Việt nên có chim biểu là Chim Việt, Chim Rìu Cắt Lửa.

Như thế người mặt trời hóa trang chim Rìu Lửa mặt trời trên trống Ngọc Lũ I  là người chim Rìu Lửa, chim mũ sừng Cắt Lớn, là Người Việt Mặt Trời Chim Việt Lửa, Hồng (hoàng) Việt ngành Chim Sừng Viêm Đế.

Trang phục đầu giúp ta nhận diện ra chân tướng của những người này.

2. Trang phục trên người.

Những người này mặc váy xẻ có hai vạt xòe ra hai bên chính là hai cánh chim.

Trên vạt có những sọc, chấm biểu tượng tính thái âm dương thay đổi chi tiết và có phụ đề thêm các dấu như chấm nọc, hai gạch ngang… trên mỗi người vì hiệp (accord) với tính âm dương của mỗi đại tộc, tộc, chi.

3. Nhạc cụ.

Nhạc cụ thấy rõ nhất là cái khèn làm bằng quả bầu và ở trên ta đã biết người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa là người Tiểu Vũ Trụ với tay phải cầm dùi Càn và tay trái cầm chuông chữ U Chấn, do đó ta suy ra một cách chắc chắn là những vật khác cầm trong tay của  những người còn lại đều là những nhạc cụ. Bắt buộc là như vậy. Tôi sẽ đi thêm vào chi tiết khi nói đến từng người. Ở đây chỉ xin nói tới những nhạc cụ giống nhau ở hai nhóm người:

-Khèn bầu

Hai người đi trước người cuối cùng của nhóm 6 người nhẩy múa và của nhóm 7 người nhẩy múa đều thổi khèn.  

 Hai người thổi khèn.

Khèn ở đây là khèn bầu có hình hai giọt nước nằm ngang trông như người này đang thổi hai cái bong bóng lồng vào nhau. Bầu này mang biểu tượng cho bầu hư không, bầu vũ trụ, bầu trời nòng âm, nói chung là Khôn. Khèn làm bằng ba que sậy. Ba que là quẻ Càn. Ở ngành phụ Càn-Khôn nhóm 7 người nhẩy múa  khèn là khèn Càn-Khôn có bầu khèn mang tính bầu nước Chấn phía Khôn âm. Trong khèn này có từ “chấm vòng tròn” có nghĩa là mặt trời, Càn xác thực khèn là khèn Càn Khôn.  Ở ngành phụ Càn Tốn nhóm 6 người nhẩy múa khèn là khèn Càn-Tốn có bầu khèn mang tính gió Đoài vũ trụ khí gió phía Khôn dương.  Trong khèn có từ  “chấm vòng tròn” cũng có một nghĩa thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió xác thực khèn là khèn Càn Tốn.

Ở trống Khai Hóa ở hai nhóm người nhẩy múa chỉ có một người thổi khèn. Chiếc khèn có hình “vòng tròn có chấm” (xem trống này).

Khèn trên trống Khai Hóa (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Ta thấy rất rõ hình dạng khèn diễn tả ý nghĩa khác nhau theo thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh.

-Phách hay lệnh

 

Hai nhóm người nhẩy múa ở trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 Tay phải của 5 người đầu tiên ở nhóm 7 người nhẩy múa và của 4 người đầu tiên ở  nhóm 6 người nhẩy múa cầm một vật hình tháp có vách kép để theo vị trí đỉnh chỉ thiên. Vì tất cả những người khác đều cầm nhạc cụ như khèn, chuông vì thế vật này cũng phải là một thứ nhạc cụ. Bắt buộc. Đây chính chiếc phách làm bằng tre hay hai miếng kim khí như đồng.

Hình dạng và vị thế của phách trên trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ và Khai Hóa khác nhau vì mang tính nòng nọc (âm dương) khác nhau.

-Gậy cầm ở tay trái.

Những người cầm phách của hai nhóm (ngọai trừ người dẫn đầu nhóm 6 người nhẩy múa) đều cầm gậy, que ở tay trái. Đây là những gậy, que thiêng liêng, thờ phượng cũng mang nghĩa biểu tượng ứng với tính thái âm dương vì thế có hình dạng và để ở vị thế khác nhau.

.Cần lưu tâm:

Cây gậy của những người này thẳng và cong khác nhau, dài ngắn khác nhau và chỗ tay cầm khác nhau mang ý nghĩa âm dương khác nhau ứng với dịch lý.

Tóm lại nhìn tổng quát người trên mặt trống Ngọc Lũ I là người thuộc ngành nọc mặt trời thái dương, là Người Mặt Trời Chim Rìu Lửa Cắt Lớn, chim biểu Mặt Trời, chủng người Vũ Trụ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt người trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là Người Việt Mặt Trời Thái Dương Chim Việt Lửa, Chim Cắt, Sừng, Hồng Hoàng, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế  ngành Viêm Việt, họ Mặt Trời Hồng Bàng, chủng người Vũ Trụ.

(còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: