NHÓM TRỐNG THÁI DƯƠNG: TRỐNG NGỌC LŨ I, TRỐNG NGÀNH MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG CÀN THẾ GIAN (phần 1).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).
Phải tuân thủ luật tác quyền copyright. 

NHÓM TRỐNG MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG .

TRỐNG NGỌC LŨ I, TRỐNG BIỂU NGÀNH CÀN.

 Nguyễn Xuân Quang

Xin nhắc lại:

.Phân loại trống theo vũ trụ tạo sinh.

Như đã biết Trống Đồng Nòng Nọc (Âm Dương) của đại tộc Đông Sơn là trống biểu mặt trời thái dương, của người mặt trời ứng với Người Việt Mặt Trời Thái Dương đại tộc mặt trời, là trống biểu của Vua Mặt Trời Hùng Vương dòng mặt trời Viêm Đế-Thần Nông thái dương. 

Phân loại theo vũ trụ tạo sinh dựa theo tính nòng nọc (âm dương) của mặt trời. Như đã biết trống đồng là trống nòng nọc (âm dương) nên theo chính thống mặt trời có khối sáng (solar mass) là  dương diễn tả bằng số dương và nọc tia diễn tả bằng là số âm. Gộp lại theo nòng nọc (âm dương) là khối sáng mặt trời dương là số 1 cộng với số tia sáng âm cho ra tính nòng nọc (âm dương) của cả mặt trời, của trống. Ví dụ trống Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng mũi mác có khối sáng mặt trời là 1  thì 1+ 14 nọc tia sáng = 15. Số 15 là số Càn tầng 2 thế gian. Trống Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống Càn thế gian.

Như thế có ít nhất bốn nhóm trống ứng với tứ tượng: 

1- Nhóm trống mặt trời thái dương Càn là nhóm trống có mặt trời có số nọc tia sáng là số Tốn (gồm số 6, 14, số 22). Quẻ Tốn OII là âm O thái dương II, tương đồng bản thể với  Càn III (dương  I thái dương I)I.  Tốn hôn phối với Càn thấy rõ trong Hậu Thiên bát quái.

Như thế  trống  có mặt trời  có nọc tia sáng số Tốn là trống thuộc nhóm trống Mặt Trời Thái Dương Càn-Tốn. Càn có hai khuôn mặt: Càn vũ trụ, Càn Trời là lửa thái dương cõi trên ứng với cực dương hôn phối Khôn là Càn Khôn thấy trong Tiên Thiên bát quái và Càn thế gian, Càn Đất ứng với cõi tứ tượng có thêm một khuôn mặt là tượng lửa hôn phối với Tốn là Càn Tốn như vừa  nói ở trên thấy trong Hậu Thiên bát quái. Hai khuôn mặt Càn này thấy rõ qua Đế Minh. Tước hiệu có từ  Đế cho biết có một khuôn mặt là Càn vũ trụ cùng vai vế với các thần tổ Đế ở cõi tạo hóa. Càn tạo hóa Đế Minh đội lốt Càn tạo hóa Viêm Đế. Nhưng từ Đế lại để trước Minh (Đế Minh) thay vì để sau như Viêm Đế nói cho biết Đế Minh còn có một khuôn mặt Càn thế gian ứng với tượng Lửa thái dương ở tầng tứ tượng thế gian cùng vai vế với các vua (vương, quân) như Kì Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Lang Vương ứng với tứ tượng. Vì thế ở cõi thế gian Càn Đế Minh có một khuôn mặt của một vị ‘thần làm vì’ (Idle god), một vị thần đả qui ẩn (hidden) gọi là Deus otiosus, được thay thế bằng một vị thần con trẻ trung, năng hoạt hơn . Ví dụ điển hình là Li Kì Dương Vương với khuôn mặt trục thế giới, trụ lửa (như Shiva) có một khuôn mặt đội lốt, thừa hành Càn tạo hóa Đế Minh. Như thế Càn thế gian, Càn Đất có một khuôn mặt là Li trụ trời,  là Càn Đất thế gian.

Tóm lại nhóm  trống  thái dương Càn có hai khuôn mặt: Càn dương hay dương thái dương (Càn đi với số dương, lẻ, dương thái dương như 7, 15, 23) là Càn Khôn và Càn âm hay âm thái dương (Càn đi với số chẵn âm thái dương Tốn như 6, 14, 22) là Càn Tốn.

Trống Càn-Tốn thấy nhiều nhất là trống Tốn tầng 2 thế gian 14 nọc tia sáng mũi mác. Còn trống Càn tốn vũ trụ 6 nọc tia sáng mũi mác và trống Càn Tốn hạ thế mặt trời 22 nọc tia sáng mũi mác rất hiếm thấy.

Trống tiêu biểu của nhóm trống thái dương này là trống Ngọc Lũ I, trống biểu tộc Càn Tốn thế gian. 

2- Nhóm trống mặt trời thái âm có mặt trời có số nọc tia sáng Khôn (0, 8, 16). Trống đồng biểu tượng cho phía nọc, dương, trống (đực) ngành thái dương nên theo chính thống không có mặt trời đĩa tròn âm có số nọc là số Khôn 0 mà chỉ có mặt trời có số nọc thường thấy là 8 và 16. Do đó, như đã biết số 8 Khôn thế gian trên trống đồng nòng nọc (âm dương) có một khuôn mặt đội lốt hay tương đương với số 0 cõi tạo hóa. Trong trường hợp này trống có mặt trời 8 nọc tia sáng mũi mác có một khuôn mặt là 1 + 0 = 1,  là trống nhất thể , vũ trụ, tạo hóa như trống Quảng Xương. Còn trống có mặt trời có 16 nọc tia sáng mũi mác là mặt trời 16 + 1 = 17, Chấn thế gian như trống Hoàng Hạ.   

3- Nhóm trống mặt trời thiếu dương Li có số nọc tia sáng mũi mác là số Cấn (4, 12, 20) nhiều nhất là loại 12 nọc tia sáng tức 1 + 12 = 13. Số 13 là số Li thiếu dương  như trống Khai Hóa, Hòa Bình…

4- Nhóm trống mặt trời thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió có mặt trời có số nọc tia sáng mũi mác Khảm (2, 10, 18) nhiếu nhất là loại 10 nọc tia sáng tức 1 + 10 = 11. Số 11 là số Đoài vũ trụ khí gió tầng 2.

Mỗi nhóm trống này có riêng đủ các loại trống biểu tượng cho ngành, nhánh, đại tộc, tộc người ứng với các giai kỳ trong vũ trụ tạo sinh của họ mặt trời nọc thái dương gồm có hai  ngành: ngành mặt trời nọc thái dương có tia sáng nọc mũi mác ứng với Nọc Việt và ngành mặt trời nòng thái dương có mặt trời ánh sáng là nòng vòng sáng (như trống Đào Xá) ứng với Nòng Việt. Ngành mặt trời nọc thái dương Nọc Việt lại chia ra: 1. nhánh mặt trời dương thái dương (nọc dương thái dương ) diễn tả bằng hai vành nọc mũi mác có một nghĩa là dương  thái dương, nọc thái dương ở ngoài biên trống 2. mặt trời nọc âm thái diễn tả bằng hai vành nọc bằng đầu mang âm tính hình thanh thang hay thanh ngang đường rầy hiện gọi là răng lược có một nghĩa là nọc âm thái dương ở ngoài biên trống.

.Trống nhóm thái dương diễn tả trọn vẹn tất cả các khuôn mặt ứng với các giai kỳ của vũ trụ tạo sinh gồm trống biểu của ngành, nhánh, đại tộc, tộc của tượng thái dương dưới dạng liên tộc (kết hợi, liên minh hai hay nhiều tộc), lưỡng hợp (nòng nọc (âm dương). Loại trống này có khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái tứ tượng, lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) hay đơn thuần chỉ là trống biểu của một tộc duy nhất mà thôi. Loại trống này có khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất.

Nhóm Trống Mặt Trời  Thế Thái Dương gồm có:

. Nhóm trống Càn vũ trụ có mặt trời có số nọc tia sáng mũi mác bằng hay dưới 7 (Số 7 là số Càn).

.Nhóm trống Càn thế gian có mặt trời có số nọc tia sáng mũi mác bằng hay lớn hơn 14.

.Nhánh nọc dương thái dương.

Nhóm trống Mặt Trời Thế Gian thái dương 14 nọc tia sáng có hai vành nọc mũi mác nọc dương thái dương ở biên trống.

Ví dụ trống Ngọc Lũ I, Sông Đà, Miếu Môn I, Sơn Tây, Phú Xuyên…

.Nhánh nọc âm thái dương

Nhóm trống Mặt Trời Thế Gian thái dương 14 nọc tia sáng có hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống. Nhánh này có hai nhóm phụ:

.Phụ nhóm trống biểu Tộc người hay Vũ Trụ Thuyết (không có tượng cóc/ếch).

Ví dụ  trống Cổ Loai I.

.Phụ nhóm trống Sấm có tượng cóc/ếch.

Ví dụ trống Nông Cống.

……

*

NHÓM TRỐNG THÁI DƯƠNG CÀN THẾ GIAN MẶT TRỜI 14 NỌC TIA SÁNG MŨI MÁC.

I. NHÁNH NỌC DƯƠNG THÁI DƯƠNG.

a. Trống Nọc Thái Dương Vũ Trụ 6, 7 nọc tia sáng mũi mác.

a1. Trống Nọc Thái Dương Vũ Trụ Có Nọc Tia Sáng Số Chẵn: 6 Nọc Tia Sáng Mũi Mác. 

Như đã biết vì trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc (âm dương) nên có khối lửa mặt trời là 1, số dương thì theo thộng lệ, theo chính thống phải lưỡng hợp với số nọc tia sáng là số âm, chẵn.

Trống Lại ThươngTrống Liên Tộc Càn Li, Nhóm Trống Thái Dương Vũ Trụ 6 Nọc Tia Sáng  Số Chẵn.

LAI THUONG 

Trống Lại Thương (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Vắn tắt chỉ nói tới Những Điểm Mấu Chốt:

.Trống mặt trời thái dương vũ trụ 6 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc dương thái dương có vành nọc mũi mác dương thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian khá dầy  mang tính âm, đúng ra phải rất mỏng mang tính thái dương. Trống này là trống muộn làm sai tính nòng nọc (âm dương).

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái nhánh nọc dương Càn Li đồng nhất gồm 7 nọc mũi mác lửa thái dương Càn và nọc que nhỏ biểu tượng trụ Đất dương thiếu dương Li.

.Vành sinh tạo vận hành: có hai vành: vành 1 có từ ngữ vòng tròn chấm có tiếp tuyến đi lên có một nghĩa thiếu dương Li và cũng có nghĩa thái dương Càn (chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời Càn). Vành 2 từ chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Hiểu theo thông lệ là hai vành thiếu dương thiếu âm lưỡng hợp với nhau. Tuy nhiên đây là trống muộn thuộc nhóm trống thái dương Càn, nên nếu hiểu từ chấm-vòng tròn theo nghĩa mặt trời thì ta có hai vành diễn tả Càn Li nhánh nọc dương, ăn khớp với khoảng không gian giữa các nọc tia sáng Càn Li.

.Vành giới hạn trống không mang âm tính ở đây là trống Càn vũ trụ nên lấy theo nghĩa là không gian Khôn đển có lưỡng hợp với Càn.

.Vành 4 cò bay đã bị mòn mờ. Theo chính thống thì trống vũ trụ không nhất thiết phải có hình cò.

.Bốn vành ngoài biên gồm có hai vành nọc mũi mác nọc dương thái dương kẹp giữa một hai từ  vòng tròn-chấm và chấm-vòng tròn giống ở vùng sinh tạo vận hành có thể có nghĩa theo thông thường là lưỡng hợp thiếu dương thiếu âm nhưng ở đây là trống Càn vũ trụ cũng có thể là dạng Càn Li ở cùng một nhánh nọc dương. Tôi thấy khuôn mặt Càn Li hợp lý hơn vì lưỡng hợp Li Đoài là lưỡng hợp tiểu vũ trụ trong khi trống này là trống vũ trụ.

Như thế trống Lại Thương là trống biểu của liên tộc Càn Li hay trống Càn lưỡng hợp Li Đoài, thuộc nhóm trống mặt trời thái dương vũ trụ 6 nọc tia sáng, nhánh nọc dương thái dương, ngành mặt trời thái dương.

-Trống Bình Đà, Trống Tộc Li, Nhóm Trống Thái Dương Vũ Trụ 6 Nọc Tia Sáng  Số Chẵn, Nhánh nọc dương thái dương.

BINH DA

Trống Bình Đà (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những Điểm Mấu Chốt:

.Trống mặt trời thái dương vũ trụ 6 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc dương thái dương có vành nọc mũi mác dương thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian khá dầy  mang tính âm, đúng ra phải rất mỏng mang tính dương. Trống này là trống muộn làm sai tính nòng nọc (âm dương).

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái nhánh nọc dương Càn Li đồng nhất gồm 7 nọc mũi mác lửa thái dương Càn và nọc que nhỏ biểu tượng trụ Đất dương thiếu dương Li.

.Vành sinh tạo vận hành: có ba vành: vành 1 từ  vòng tròn chấm có tiếp tuyến đi lên có một nghĩa thiếu dương Li và cũng có nghĩa thái dương Càn (chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời Càn). Vành 2 từ chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Hiểu theo thông lệ là hai vành thiếu dương thiếu âm lưỡng hợp với nhau. Tuy nhiên đây là trống muộn thuộc nhóm trống thái dương Càn, nên nếu hiể từ chấm-vòng tròn theo nghĩa mặt trời thì ta có hai vành diễn tả Càn Li nhánh nọc dương, ăn khớp với khoảng không gian giữa các nọc tia sáng Càn Li. Vành thứ 3 nọc mũi mác núi tháp nhọn đất dương Li. Như thế ta thấy rõ vành 2 chấm-vòng tròn Đoài vũ trụ khí gió đúng ra phải có một nghĩa là Càn.

.Vành giới hạn trống không mang âm tính ở đây là trống Càn vũ trụ nên lấy theo nghĩa là không gian Khôn đển có lưỡng hợp với Càn.

.Vành 4 cò bay có bờm hình rìu đất thiếu dương Li. Thân và cánh hình chữ T có một khuôn mặt trụ chống trời có một khuôn mặt biểu tượng đất dương Li. Cò là cò Li.

.Ba vành ngoài biên gồm có hai vành nọc mũi mác nọc dương thái dương kẹp giữa một vành từ  vòng tròn-chấm có một nghĩa thiếu dương Li

Như thế trống Bình Đà là trống biểu của  tộc Li, thuộc nhóm trống mặt trời thái dương vũ trụ 6 nọc tia sáng, nhánh nọc dương thái dương, ngành mặt trời thái dương.

a2 Trống Nọc Thái Dương Vũ Trụ, Càn Khôn Có Nọc Tia Sáng Số Lẻ: 7 Nọc Tia Sáng Mũi Mác. 

Trống Làng Vạc V, Trống Chấn-Càn, Khôn-Càn, Vũ Trụ, Nhóm Trống Thái Dương Vũ Trụ 7 Nọc Tia Sáng Số Lẻ, Nhánh nọc dương thái dương.

lang-vac-v0002

Trống Làng Vạc V (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những Điểm Mấu Chốt:

.Trống mặt trời thái dương vũ trụ 7 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương. Đây là trống có mặt trời có số tia sáng là số lẻ, rất hiếm thấy. Người làm trống làm mặt trời có 7 nọc tia sáng cố ý cho đây là mặt trời Càn (số 7 là số Càn vũ trụ). Điểm này cho thấy trống rất muộn.

.Nhánh nọc dương thái dương có vành nọc mũi mác dương thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian rất mỏng mang tính siêu dương Càn.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất biểu tượng cho một tộc duy nhất gồm những sọc song song diễn tả không gian Khôn. Mặt trời và không gian ở dạng Càn Khôn.

.Vành sinh tạo vận hành: chỉ có một vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn

.Vành giới hạn trống không mang âm tính ở đây là trống Càn vũ trụ nên lấy theo nghĩa là không gian Khôn để có lưỡng hợp với Càn.

.Kế đến là vành trống không, không có cảnh sinh hoạt nhân sinh của  cõi giữa nhân sinh biết đây là trống vũ trụ.

.Không có vành hình chim bay diễn tả bầu trời thế gian cũng cho biết đây là trống vũ trụ.

.Không có vành 4 cò bay ăn khớp với khuông mặt trời vũ trụ của trống.

.Ba vành ngoài biên gồm có hai vành nọc mũi mác nọc dương thái dương kẹp giữa một vành từ  từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn. Ba vành ở biên trống này cho biết đây là trống Chấn nọc dương thái dương.

Lưu ý đây là điểm khác với các trống sấm mưa Chấn thường có khuôn mặt Chấn nọc âm thái dương diễn tả bởi hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) kẹp một vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn  ở biên trống. Ở đây hai vành mũi mác có một nghĩa dương thái dương Càn và vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương, Chấn  có một khuôn mặt lưỡng hợp thái dương Càn thái âm Chấn ngành nọc dương thái dương. Lửa Càn liên tác với nước Chấn cũng tạo ra sấm mang tính sinh tạo, tạo hóa như tiếng sấm big bang khai thiên lập địa. Như thế trống có một khuôn mặt sấm tạo hóa, tạo sinh, Càn Khôn.

.Bốn tượng loài lưỡng cư.

Trống có bốn tượng loài lưỡng cư bốn chân cũng sống trên mặt đất nhưng ở đây là trống rất muộn người làm trống dùng với nghĩa biểu tượng sinh tạo, tạo hóa nên có thể ‘có mặt’ ở cõi trên (con cóc là cậu ông trời) ví dụ trên mặt trăng có con cóc thiềm thừ. Điểm này cũng cho biết con vật lưỡng cư trên trống vũ trụ này rất đặc biệt không phải chỉ là biểu tượng thuần nhất cho sấm mưa hay sấm dông mà như đã nói ở trên là biểu tượng cho sấm tạo hóa, sinh tạo.

Bốn tượng vật lưỡng cư “nằm dài duỗi hai chân ra sau”. Hai chân duỗi ra thành hình chữ V có một nghĩa là âm thái dương, nước thái dương Chấn, Khôn âm ngành thái dương  (V là do hai nòng OO, thái âm dương hóa cực đại thành hai nọc que ghép lại) (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ Hai Nòng Vòng Tròn) vì thế trônggiống như đuôi cá diễn tả Khôn nước thái âm (cá là nước thấy qua từ đôi cá nước). Trên đầu con vật có từ nọc hình tam giác thuận cho biết con vật mang tính dương, lửa thái dương Càn (tam giác do ba nọc que ghép lại tức quẻ Càn). Con vật có một khuôn mặt là Khôn Càn nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực, vũ trụ.

Đi xa nữa nhìn dưới dạng phân cực là lưỡng nghi. Trụ cột xương sống  biểu tượng cho núi trụ đất thiếu dương Li. Xương sườn hình lông chim biểu tượng cho thiếu âm gió Đoài vũ trụ khí gió. Đầu có từ tam giác Càn cực dương cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái dương lửa thái dương và đuôi cá chữ V cực âm Khôn cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng nước thái âm ngành thái dương  Chấn. Ta có tứ tượng. Như thế con cóc/ếch mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh.

Rõ như ban ngày nó mang tính sinh tạo, tạo hóa không hoàn toàn là vật biểu của sấm mưa hay sấm dông như thường thấy ở các trống cóc/ếch thế gian.

Trống này là một ví dụ điển hình cho thấy cóc/ếch có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, biểu tượng cho sấm tạo hóa.

Như thế trống Làng Vạc V là trống biểu của tộc Chấn lưỡng hợp Chấn-Càn, Khôn Càn, Vũ Trụ, Viêm Đế-Thần Nông thái dương có một khuôn mặt sấm vũ trụ tức trống khai thiên lập địa, sấm big bang, sấm Viêm Đế-Thần Nông lưỡng cực, thuộc nhóm trống mặt trời thái dương vũ trụ 6 nọc tia sáng, nhánh nọc dương thái dương, ngành mặt trời thái dương.

……

b. Trống Nọc Thái Dương Thế Gian 14 Nọc Tia Sáng Mũi Mác.

  1. Trống Ngọc Lũ I: Trống Biểu Ngành Mặt Trời Thái Dương Càn (Viêm Đế-Đế Minh) thế gian, Nhóm trống thái dương, Nhánh Nọc Dương Thái Dương (Dương Việ)t, Họ Người Mặt Trời Thái Dương (Hồng Bàng), Chủng Người Vũ Trụ (Chim-Rắn, Tiên Rồng). Xem phần 1 ở dưới và các phần tiếp theo.
  2. Trống Sông Đà. Xem Trống Sông Đà, Trống Biểu Liên Tộc Đoài Chấn/Lang-Lạc Việt,  Nhóm Trống Thái Dương Càn thế gian.
  3. Trống Miếu Môn I. Xem Trống Miếu Môn I, Trống Biểu Tộc Chấn lưỡng hợp  Đoài vũ trụ khí gió-Li Đất dương/Lang Mang Việt, Nhóm Trống Thái Dương thế gian.
  4.  Trống Phú Xuyên. Xem Trống Phú Xuyên, Trống Biểu Tộc Li/ Kì Việt, Nhóm Trống Thái Dương thế gian.
  5.  Trống Sơn Tây:

Trống Tộc Chấn/Lạc Việt, Nhóm Trống Thái Dương Thế Gian.  

SON TAY

Trống Sơn Tây (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những Điểm Mấu Chốt:

.Trống mặt trời thái dương 14 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc dương thái dương có vành nọc mũi mác dương thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian rất dầy mang tính thái âm, nước, Chấn.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng đơn, đồng nhất biểu tượng cho một đại tộc, một tộc duy nghất và có 4 nọc mũi mác chồng lên nhau. Số 4 là số Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Chấn (Âu Cơ Cấn Non hôn phối với Lạc Long Quân Chấn, Biển).

.Vành sinh tạo vận hành: có hai  vành chấm-hai vòng tròn đồng tâm nước dương ứng với Chấn.

.Vành giới hạn nọc chấm đặc mang dương tính, thái dương.

.Vành 8 cò bay. Số 8 là số Khôn tầng 2 . Khôn âm là thái âm nước ứng với Chấn. Cánh có những làn gợn sóng nước cho thấy rõ cò là cò nước ứng với Chấn.

.Ba vành ngoài biên gồm có hai vành nọc mũi mác dương có một nghĩa thái dương, trong có hai nọc chấm đặc mang nghĩa thái dương, kẹp giữa một vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn. Gộp lại là nước thái dương Chấn nọc dương thái dương.

Như thế trống Sơn Tây là trống biểu của tộc thái âm  nước Chấn, thuộc nhóm trống mặt trời thái dương 14 nọc tia sáng, nhánh nọc dương thái dương, ngành mặt trời thái dương.

*

TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG.

NGỌC LŨ I, TRỐNG BIỂU NGÀNH MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG, CÀN THẾ GIAN.  

(phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

TỔNG LƯỢC NHỮNG MẤU CHỐT CHÍNH ĐỂ NHẬN DIỆN RA CĂN CƯỚC CỦA TRỐNG: 

Trống có những đầu mối, manh mối (clues) chính sau đây:

Phân loại theo hình dạng.

Trống thuộc nhóm trống Cây Nấm Vũ Trụ (Nấm Tam Thế, Nấm Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I), đích thực là loại trống Đông Sơn mang trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh.

Phân loại theo vũ trụ tạo sinh.

Như đã nói ở trên thuộc nhóm trống thái dương là trống biểu của ngành thái dương Càn  gồm hai ngành phụ nòng nọc (âm dương):

-Ngành phụ dương thái dương Càn Khôn. Dạng lưỡng hợp Càn với Khôn thấy trong Tiên Thiên bát quái mang tính sinh tạo cõi trên tạo hóa. Ta có thể gọi là ngành phụ Càn Tiên Thiên hay Càn Khôn hoặc Càn dương thái dương hay ngắn gọn gọi là Càn dương  

-Ngành phụ âm thái dương Càn Tốn. dạng lưỡng hợp Càn với Tốn thấy trong Hậu Thiên bát quái mang tính sinh tạo cõi thế gian. Ta có thể gọi là ngành phụ Càn Hậu Thiên hay Càn Tốn hoặc Càn âm thái dương hay ngắn gọn gọi là Càn âm.  Ở đây có số nọc tia sáng mũi mác 14 Tốn lưỡng hợp với Càn ở Hậu Thiên Bát Quái mang tính thế gian  nên có khuôn mặt trời Càn Tốn ở cõi thế gian vì trống là trống thế gian (có nọc tia sáng mũi mác lờn hơn 8).

Nói gọn lại chìa khóa chính là:

Trống Ngọc Lũ I là trống biểu tượng ngành Càn gồm có hai ngành phụ: 1. Ngành phụ dương ở bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa là Càn Tiên Thiên Bát Quái (Càn Khôn, Càn dương thái dương, Càn dương) và 2. Ngành phụ âm ở bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa là Càn Hậu Thiên Bát Quái (Càn Tốn, Càn âm  thái dương, Càn âm).  

.Vành trống.

Mặt Trống trống Ngọc Lũ I có 16 vành. Số vành trống cho biết bản tính, bản thể của trống. Tính nòng nọc (âm dương) của vành thường diễn bản tính của trống ở dạng trực tiếp hay lưỡng hợp. Ta thấy rõ 16 vành với số 16 là số Khôn tầng 3 thế gian (0, 8, 16)  lưỡng hợp với bản thể Càn tầng 2 thế gian (7, 15) của trống. Vành 16 Khôn cho biết trống Ngọc Lũ I là trống Càn (trong khi trống Hoàng Hạ là trống dương thái âm Chấn có mặt trời 16 nọc tia sáng mũi mác có 15 vành. Số 15 là số Càn lưỡng hợp với số 16 Khôn nọc tia sáng mũi mác, bản thể dương thái âm Chấn của trống. 15 vành Càn cho biết trống là trống Khôn thái âm mang tính dương ngành thái dương tức dương thái âm Chấn).

Ở trống Ngọc Lũ I ba vành quan trọng nhất là vành 6, 8, 10.

-Vành số 6 là vành sinh hoạt nhân sinh, có chủ thể là Người, là vành chủ yếu của trống. Số 6 là số Tốn tầng 1 cùng số Tốn 14 tầng 2 của nọc tia sáng mũi mác mặt trời. Vành này cho biết rõ người, chim và các sinh hoạt trên vành này thuộc nhánh Tốn-Càn, là người mặt trời dương thái dương, là Người Việt Mặt Trời Thái Dương và xác thực trống này là trống biểu của nhánh dương thái dương Càn thuộc nhóm trống Càn.

-Vành 8 là vành chim nông bay và hươu nai. Số 8 là số Khôn tầng 2 thế gian (0, 8) như thế vành này là vành Khôn-Càn thế gian. Vành cho biết chim nông, loài chim nước và hươu, loài thú lửa vì có sừng trên vành Càn Khôn này phải mang tính Càn Khôn. Điều này giải thích cho thấy rõ tại sao ở bán viên dương có 6 con nông. Số 6 là số Tốn-Càn. Ở bán viên âm có 8 con nông mang tính Khôn. Tương tự hươu nai cũng có tính Càn-Khôn. Điều này giải thích tại sao có hươu đực và nai cái đi cùng chung. Hươu đực là dương là Càn (có nhiều con có sừng 3 mấu nhọn là ba nọc tức Càn III). Nai cái là âm Khôn.

Nông Khôn và Hươu Càn đi cùng vành diễn tả lưỡng hợp Khôn-Càn mang tính sinh tạo đại vũ trụ.

-Vành số 10 là vành 18 cò bay thiếu âm gió diễn tả bầu Trời cõi người và 18 chim đứng trên đất diễn tả Đất thiếu dương cõi người. Vành 10 diễn tả lưỡng hợp thiếu âm với thiếu dương tức Trời Đất, tiểu vũ trụ.

-Người.

Trống có hai nhóm 7 và 6 người nhẩy múa, trừ người cuối cùng ở nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu hình bầu nậm, còn lại 12 người đều hóa trang chim Rìu Lửa Bổ Cắt, chim biểu của thần mặt trời thái dương. Chim Rìu Cắt Lửa Hán Việt gọi là chim Hồng Hoàng. Chim Rìu Lửa Cắt Sừng Hồng Hoàng là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế. Như thế người trên trống Ngọc Lũ I thuộc ngành người Việt Mặt Trời Viêm Đế thái dương (trong khi Chim Rìu Nước Bổ Nông là chim biểu nhánh người Hoàng Việt mặt trời thái âm Thần Nông thái dương thấy ở trống Hoàng Hạ ngành Việt Mặt Trời Thái Dương).

Tất cả hai nhóm người (trừ người cuối cùng nhóm 7 người nhẩy múa) đều có trang phục đầu bầu nậm) đều là Người Mặt Trời Chim Rìu Lửa, Cắt, Hồng Hoàng, Chim Việt Lửa thái dương cho thấy họ thuộc về một ngành là ngành người mặt trời thái dương, ngành Người Việt Mặt Trời Thái Dương Viêm Việt, Hồng Việt, Lửa Việt. 

Nhóm 7 người là nhóm Càn dương thái dương (số 7 là sốn Càn, số lẻ) ứng với khuôn mặt Càn Khôn vũ trụ là ngành phụ Càn Khôn (lưỡng hợp Càn Khôn thấy trong Tiên Thiên bát quái). Khuôn mặt Càn Khôn số 7 này thấy rõ qua trống Càn Khôn Làng Vạc V có mặt trời 7 nọc tia sáng mũi mác đã nói ở trên.

Người thứ 7 ở nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu hình bầu nậm có một khuôn mặt biểu tượng cho bầu vũ trụ, bầu trời. Người này là người vũ trụ, tiểu vũ trụ. Người này cũng cho biết là người trên trống Ngọc Lũ I thuộc Chủng Người Càn Khôn, Vũ Trụ, Người Vũ Trụ sinh ra từ bầu, bọc, trứng vũ trụ ứng với truyền thuyết và cổ sử Việt nói rằng người Việt sinh ra từ một quả Bầu và Các thần tổ đầu tiên Hùng Lang sinh ra từ bọc trứng thế gian của Mẹ Tổ Âu Cơ đội lốt bọc trứng vũ trụ, càn khôn Viêm Đế-Thần Nông nhất thể . 

Tuy nhiên người này còn có một chức vụ dùng như một dấu, một chỉ định từ trong chữ nòng nọc vòng tròn-que vì trang phục đầu bầu nậm mang tính nòng nọc (âm dương). Điểm này thấy rõ là người này nhỏ bé hơn 12 người chim Rìu lửa. Một dấu hay chỉ định tố thường nhỏ hơn chữ, nhỏ hơn yếu tố chủ, chính của nó. Với chức vụ này, người này cho biết 12 người chim cắt-lửa ở hai bán viên mang tính nòng nọc (âm dương) khác nhau. Ở bán viên dương, nhóm 7 người nhẩy múa mang dương tính Trụ. Ở bán biên âm, nhóm 6 người nhẩy múa mang âm tính Vũ. Quan trọng hơn là dùng trong lịch học, người này chỉ dùng làm chỉ định tố  chỉ các ngày còn thừ dư như một tháng ngằn. Ví dụ trống Ngọc Lũ I có diễn tả một loại lịch-đầt thái dương Càn 365 ngày dựa theo quả đất quay quanh mặt trời  gốm 13 tháng:  12 tháng dài 30 ngày và 1 tháng ngằn là 5 ngày còn lại. Ta thấy 12 tháng dài diễn tả bằng 12 người-chim Rìu Lửa, Cắt Lửa và tháng ngắn diễn tả bằng người nhỏ bé có trang phục đầu bầu nậm ở cuối nhóm 7 người nhẩy múa. Rõ như ban ngày người này có thêm một chức vụ như một chỉ định tố (xem Lịch Đồng Đông Sơn Ngọc Lũ I, phần 1). 

Nhóm 6 người nhẩy múa là nhóm Càn-Tốn thế gian âm thái dương (số Tốn là số âm thái dương) là ngành phụ Càn Tốn (lưỡng hợp Càn với Tốn thấy trong Hậu Thiên bát quái).

Tóm lại người trên trống Ngọc Lũ I là người thuộc ngành Càn Chim Rìu Lửa Cắt, Hồng hoàng, Chim Việt Lửa thái dương gồm hai nhánh: ngành phụ Càn Khôn nhóm 7 người nhẩy múa và ngành phụ Càn Tốn nhóm 6 người nhẩy múa thuộc chủng người vũ trụ.

-Nhà Nọc, Mặt Trời. 

Ở bán viên dương ngành phụ Càn Khôn nhóm 7 người nhẩy múa có ngôi nhà tổ, nhà thờ mặt trời  nhà Càn Li  mang tính dương thái dương, Càn dương (như đã biết số 7 là số lẻ, dương, Càn dương thái dương) và ở bán viên âm  ngành phụ Càn Tốn nhóm 6 người nhẩy múanhà Chấn Đoài vũ trụ khí gió (số 6 là số Tốn âm thái dương.  Tốn hôn phối với Chấn và với Đoài). 

-Bốn vành ngoài biên trống.

Gồm hai vành nọc mũi mác thuộc nhánh nọc dương thái dương, kẹp ở giữa hai vành sóng vòng tròn-chấm Li và chấm-vòng tròn Đoài vũ trụ khí gió diễn tả sự lưỡng hợp thế gian thiếu dương với thiếu âm nhánh nọc dương thái dương. Hiển nhiên Li ứng với ngành phụ Càn Khôn và Đoài ứng với ngành phụ Càn Tốn.

Ở đây diễn tả lưỡng hợp tiểu vũ trụ thế gian thiếu dương Li với thiếu âm Đoài vì trống Ngọc Lũ I là trống thế gian. Li là khuôn mặt đất thế gian của ngành phụ Càn Khôn còn Đoài là bầu trời thế gian của ngành phụ Càn Tốn. 

Tổng  lược lại trống Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống thái dương là trống biểu ngành thái dương Càn Chim Rìu Lửa Cắt Hồng Hoàng, chim biểu tượng mặt trời thái dương gồm hai ngành phụ dương thái dương Càn Khôn Tiên Thiên (bát quái) và âm thái dương Càn Tốn Hậu Thiên (bát quái) có lưỡng hợp chính là thiếu dương Li thiếu âm Đoài tiểu vũ  trụ, thế gian. Khuôn mặt Li mang tính trội, tính chủ. Trống diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh qua bốn đại tộc Càn Li Chấn Đoài cõi tứ tượng thế gian. Trống thuộc nhánh nọc dương thái dương, họ mặt trời, chủng người vũ trụ. 

Phân loại theo truyền thuyết và cổ sử Việt.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt trống Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống thái dương, Ngành  Người Việt Mặt Trời Chim Rìu Lửa, Chim Việt Lửa, Chim Cắt, Chim Sừng, Hồng Hoàng mặt trời thái dương Viêm Đế. Ngành gồm ngành phụ: dương mặt trời dương thái dương Càn Khôn Tiên Thiên Viêm Đế-Thần Nông và ngành phụ âm mặt trời âm thái dương Càn Tốn Hậu Thiên (Đế Minh-Âu Cơ), có mặt cả bốn đại tộc Càn Đế Minh, Li Kì Dương Vương, Chấn Lạc Long Quân, Đoài Hùng Lang, 36 tộc Liên Bang Văn Lang Hùng Vương, với lưỡng hợp chính tiểu vũ trụ Li Kì Dương Vương, Kì Việt với Đoài Hùng Lang, Lang Việt Lạc Long Quân, mang trọn vẹn nguyên lý Chim-Rắn, Tiên Rồng. Khuôn mặt Li Kì Dương Vương mang tính trội, tính chủ. Trống thuộc nhánh mặt trời rạng ngời Hừng Việt ngành Viêm Đế, họ Mặt Trời Hồng Bàng, chủng người vũ trụ sinh ra từ bọc trứng vũ trụ Viêm Đế-Thần Nông tiền thân của bọc trứng thế gian Hùng Lang Chim-Rắn, Tiên Rồng.   

Trống Ngọc Lũ I là trống ngành thái dương Càn Viêm Đế trong khi trống Hoàng Hạ là trống ngành thái âm Khôn Thần Nông (xem Trống Hoàng Hạ). Hai trống là trống biểu hai ngành Người Việt Mặt Trời Càn Khôn Viêm Đế-Thần Nông Thái Dương, Họ Mặt Trời Hồng Bàng, chủng Người Vũ Trụ Bọc Trứng Lang Hùng Chim-Rắn, Tiên Rồng nhất thể.      

Đây là những đầu mối, mấu chốt, chìa khóa để giải đọc trống Ngọc Lũ I, mở ra kho tàng vô giá trống đồng nòng nọc (âm dương) Đông Sơn của Việt Nam và nhân loại.

*

*              *

Tổng quát 

Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Trống nòng nọc (âm dương) Ngọc Lũ I vốn để ở đình làng Ngọc Lũ, tìm thấy ở xã Như Trác, huyện Lý Nhân, Hà Nam Ninh. Hiện nay trống được trưng bầy tại viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam, Hà Nội .

Nhìn thoáng qua ta thấy trống Ngọc Lũ I tinh xảo nhất, tinh tế nhất, mỹ thuật nhất, hàm súc nhất trong các trống đồng hiện có trên khắp thế giới.

Chỉ xin nhắc lại vài điểm mấu chốt chính:

.Trống nòng nọc (âm dương).

Như đã biết trống đồng là trống nòng nọc (âm dương) (Cơ Thể Học Trống Đồng). Trống nòng nọc (âm dương) Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng thuộc nhóm mặt trời thái dương, Càn có số nọc tia sáng là số Tốn tầng 2 thế gian. Ta thấy trống này có những khuôn mặt lưỡng hợp nòng nọc, âm dương như sau:

-Tốn hôn phối với Càn.

Như đã nói ở trên ta có Tốn hôn phối với Càn trong Hậu Thiên Bát Quái.

  -Tốn hôn phối với Chấn.

 Theo duy âm, ta có Tốn hôn phối với Chấn trong Tiên Thiên Bát Quái: 

Hai dạng Tốn lưỡng hợp Càn và Chấn này mang khuôn mặt lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương Càn với thái âm Chấn dạng càn khôn ngành nọc thái dương qua khuôn mặt Tốn. 

 -Tốn với Li

Số Tốn 6 nằm giữa  số Li 5 và số Càn 7 (5, 6, 7). Như thế về phía âm (số 5 nằm bên tay trái, phía dưới số 6 nên là phía âm), Tốn 6 đi với Li 5 phía âm. Li âm đất âm là Cấn Non. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt ta thấy rõNàng (O) Lửa II Âu Cơ Tốn (OII) có một khuôn mặt Cấn Non (dẫn 50 con lên Non). Như thế Tốn có một khuôn mặt Li âm, Cấn.

Vậy Tốn có một khuôn mặt lưỡng hợp với Li.

Kiểm chứng với truyền thuyết và cổ sử Ai Cập cổ ta thấy không sai. Nữ thần bầu trời Nut ứng với Tốn hôn phối với thần đất Keb ứng với Li.

Nữ Thần Bầu Trời Nut có một khuôn mặt Tốn hôn phối với Thần Đầt Keb (Geb) có một khuôn mặt Li. Keb chính là Việt ngữ Kẻ, Kè, Kì. Keb ruột thịt với Kì Dương Vương.

Vậy có sự tương hợp giữa Tốn với khuôn mặt Li, Cấn (xem Sự Tương Đồng Giữa Cổ Việt Với Ai Cập Cổ).

-Tốn với Đoài

Theo duy âm Tốn OII là không gian O thái dương II tức Khôn dương Đoài vũ trụ khí gió. Do đó ta có Tốn hôn phối với Đoài. Kiểm chứng với dịch sách ta cũng thấy Đoài hôn phối với Tốn ở lá bùa trừ tà của dân gian Việt Nam (dùng trừ tà vì bùa này theo dịch có một khuôn mặt Chấn Sấm đầu non Cấn có búa thiên lôi trừ được ma quỉ).

 

 Sự hôn phối Tốn OII với Đoài IIO này cũng thấy rất rõ trong truyền thuyết Ai Cập cổ là nữ thần lửa Tefnut (goddess of Fire), Tốn OII lấy Thần Khí Gió Shu (God of Air), Đoài phía ngành nòng, âm.

Như thế Tốn có khuôn mặt lưỡng hợp trọn vẹn lưỡng hợp đại vũ trụ Tốn/Càn- Tốn/Chấn và lưỡng hợp tiểu vũ trụ Tốn/Li và Tốn/Đoài. 

Để vững chắc thêm nữa ta có thể kiểm chứng với ma phương có số trục 14 (14 là số nọc tia sáng) có tổng số các chi là 42.

 Ta thấy rõ theo một đường chéo Tốn 14 (tầng hai) đi với Li 13 (tầng 2) và Càn 15 (tầng 2). Và theo đường chéo thứ hai Tốn 14 đi với 11 Đoài (tầng 2) và 17 Chấn (tầng 2). Theo duy dương hai khuôn mặt lưỡng hợp chính là Càn 15 và Li 13.

Lưu Ý

Ta thấy rõ một trống đồng có thể diễn tả nhiều loại dịch sách. Tùy theo tính nòng nọc (âm dương) của trống ta chọn một loại dịch thích ứng. Ở đây trống Ngọc Lũ I  là trống có mặt trời số 14 Tốn là trống Càn-Li (đường chéo Càn 15- Li 13) lưỡng hợp với Chấn-Đoài (đường chéo  Chấn 17-Đoài 11). Ta cũng thấy rõ hai khuôn mặt chính Càn Li qua thứ tự các số 13-14-15. Tốn 14 có số 13 Li ở bên trái âm và số 15 Càn ở bên phải, dương. 

.Họ

Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I thuộc họ mặt trời thái dương hừng rạng, rạng ngời có tia sáng nọc mũi mác.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là trống thuộc họ Hồng Bàng có một khuôn mặt là họ mặt trời thái dương. Theo duy dương, họ Hồng Bàng có một nghĩa là Họ Đỏ, Họ Mặt Trời dòng thần mặt trời Viêm Đế.

.Đại tộc

Khối lửa mặt trời hình cầu gai chói lọi không thấy đĩa tròn ứng với đại tộc thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là đại tộc Việt thái dương rạng ngời.

.Nhánh

Như đã nói ở trên hai vành nọc mũi mác ở biên trống cho biết trống thuộc  nhánh nọc dương thái dương mặt trời chói sáng khác với trống đồng nọc âm thái dương ví dụ như trống Cổ Loa cũng có mặt trời 14 nọc tia sáng nhưng có hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) ở biên trống cho biết trống thuộc nhánh nọc âm thái dương, mặt trời êm dịu.

 Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là ngành Nọc Việt, Dương Việt mặt trời dương thái dương.

.Ngành

Mặt trời có tia sáng hình nọc mũi tên nhọn, sắc, dài ứng với ngành nọc, lửa, nọc nhọn, rìu nhọn tức ngành mặt trời thái dương rạng ngời khác với các trống cóc/ếch như trống Hữu Chung có nọc tia sáng cạnh cong hình búp măng, cánh hoa sen nhọn đầu mang âm tính diễn tả ánh sáng nọc âm êm dịu.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là ngành Viêm Việt mặt trời rạng ngời Viêm Đế.

.Phân loại theo hình dạng.

.Về hình dạng trống Ngọc Lũ I là trống Nấm Vũ Trụ (Nấm Tam Thế, Nấm Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) thường gọi là trống Đông Sơn. Trống hình Cây Nấm Vũ Trụ gồm đủ cả ba cõi, Tam Thế mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ luận.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống này mang trọn vẹn cốt lõi văn hóa Việt dựa trên nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng nền tảng của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

1.  Mặt trống

Nhìn tổng thể, mặt trống Ngọc Lũ I trông “phức tạp” hơn các trống khác. Mặt trống ngoài vành người nhẩy múa, vành cò bay thường thấy trên các trống thế gian khác còn có thêm vành hươu-chim (khác cò), có vòng chim đứng đi chung với vòng cò bay. Như thế trống đồng âm dương Ngọc Lũ I diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn các trống khác. Trống trống Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng Tốn này có thể có đủ tất cả các khuôn mặt dịch đã nói ở trên trong vũ trụ tạo sinh ở khâu thái dương. 

Nhìn thoáng qua mặt trống, có cảm giác ấm có khuôn mặt thiếu dương Li mang tính trội.

Cõi Trên, Thượng Thế.

 Thượng Thế, theo nguyên tắc, là phần ở tâm trống biểu tượng cho cõi trên chiếu xuống tâm trống hay là phần cõi trên đập dẹp xuống để làm mặt trống.

 Tâm trống thượng thế gồm đĩa tròn hư không, vô cực, sau biến thành không gian, cực âm có vỏ là vòng tròn bao quanh mặt trời, cực dương. Nhìn dưới dạng nhất thế, mặt trời trong đĩa không gian là trứng vũ trụ, thái cực. Diễn tả theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là từ vòng tròn-chầm (dot-circle), có một khuôn mặt là linh tự Ra, Re của Ai Cập cổ.

Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que chấm-vòng tròn. Đây là linh tự Ra, Re của Ai Cập cổ và là hình ảnh của Bọc Trứng 100 Hùng Lang.

Đây cũng là hình ảnh bọc trứng 100 Lang Hùng.

Trống này có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống thế gian (xin nhắc lại trống có mặt trời có số tia sáng bằng hay nhỏ hơn 7 là trống vũ trụ) nên tâm trống cũng mang một khuôn mặt cõi trên tức bầu trời của thế gian. Như thế phần tâm trống có thể coi như là mang hai khuôn mặt: một là cõi trên thượng thế càn khôn, vũ trụ (đại vũ trụ, tạo hóa) chiếu xuống, hai là khuôn mặt cõi trên bầu trời thế gian (tiểu vũ trụ, cõi nhân sinh). 

Cõi trên Thượng Thế ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Cõi trên Thượng Thế lại chia ra bốn tầng: hư vô, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng/tứ hành.

a. Hư Vô.

Như đã nói ở trên vòng tròn bao quanh đầu tia sáng có phần ngoài coi như vòng hư vô, và phần trong là vỏ không gian. Vòng tròn vỏ trứng vũ trụ hay vỏ không gian bao quanh đầu tia sáng mặt trời hơi dầy một chút mang tính thiếu dương Đất Li thế gian.

b. Thái Cực: bọc Trứng Vũ Trụ.

Gồm mặt trời 14 nọc tia sáng và không gian, nhìn dưới dạng nhất thể có một khuôn mặt thái cực.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt,  đây là Bọc Trứng Vũ Trụ Viêm Đế-Thần Nông nhất thể  ở cõi đại vũ trụ và là Bọc Trứng Trăm Lang Hùng thế gian (trống này là trống thế gian nên đây là Bọc Trứng Hùng Lang đội lốt Bọc Trứng Vũ Trụ Viêm Đế-Thần Nông nhất thể).

Lưu Ý

Tổ Hùng đại vũ trụ Viêm Đế-Thần Nông nhất thể  ở cõi tạo hóa có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa tương đương với thần mặt trời tạo hóa Ra hay Re lưỡng tính phái của Ai Cập cổ (Sun as Creator). Tổ Hùng Vương thế gian, lịch sử là con cháu của Tổ Hùng Tạo Hóa có một khuôn mặt tương đương với thần mặt trời Horus Ai Cập cổ nên cũng có lưỡng tính phái nòng nọc (âm dương) hai nhánh Chim-Rắn, Tiên Rồng. 

b. Lưỡng nghi:

 

-Cực dương:

Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng thuộc nhóm mặt trời thái dương Càn thế gian.

-Cực âm:

.Không gian

Cực âm là không gian chứa mặt trời. Bản chất không gian thường được diễn tả bởi các hình thái ở các khoảng không gian giữa các tia sáng. Ở đây khoảng không gian có hình thái tứ tượng.

Khoảng không gian giữa các tia sáng có hình thái tứ tượng.

 Hình thái tứ tượng có 4 chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là:

1. Hình hai giọt nước đặc biểu tượng cho nòng âm. Hai giọt nước này thuôn nhọn có đuôi mang hình ảnh hai giọt nước vũ trụ chuyển động, rơi từ trời tức hai âm (OO), hai đuôi hình nọc (I), mang dương tính tức theo duy dương đọc gộp lại là quẻ IOO, lửa nước Chấn. Đây là tượng Nước dương Chấn.

Điều này thấy rất rõ là ở những trống muộn sau này hai giọt nước viết dưới dạng hai vòng tròn đồng tâm tức OO = nước hay đúng ngữ pháp hơn là viết dưới dạng hai vòng tròn có chấm ở giữa mang ý nghĩa Chấn thái dương ví dụ như trên trống Miếu Môn II, Cửu Cao. Ở các trống muộn thời phụ quyền cực đoan hai giọt nước dương thể điệu hóa (stylized) thành hai hình tam giác, hình sò hến trông giống âm hộ (nên có tác giả gọi như vậy), hình hạt hạnh nhân… có góc cạnh. Trường hợp ở trống Ngọc Lũ I hai giọt nước này được phụ đề bằng hai chấm bao quanh bởi đĩa tròn sáng trông như hai “con mắt” mang ý nghĩa dương, mặt trời. Hai chấm nọc dương bao quanh bởi vòng tròn cũng có thể đọc theo nghĩa thái dương. Đây là hai giọt nước thái dương, nòng thái dương, theo duy dương là Chấn thái dương.

Ta có thể đọc theo chữ nòng nọc là hai giọt nước = OO, nòng nước với phụ đề “hai con mắt” là nòng nước thái dương, Chấn thái dương.

Tóm lại đây là nòng Khôn âm nước thái dương Chấn thái dương.

2. Hình vành cung hơi cong có các sọc ngắn, nhỏ, song song trông giống hình bờm, mào lông, hình nửa lông chim, rèm tua, bức sáo gió, mành mành gió. Hình này biểu tượng cho nòng Khôn dương khí gió. Rèm có một gạch ngang (bẻ cong vì hiệp theo âm tính) là nọc | và tua là nòng O. Cả rèm tua là |O, thiếu âm, theo duy dương trên trống là Gió dương Đoài (vũ trụ khí gió ).

Đây là tượng Gió Đoài.

3. Hình nọc nhọn đầu mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang ý nghĩa nọc, dương, thái dương Càn. Ta có thể phân tích nọc nhọn đầu mũi tên ( ^ ) = ||, và tính nhọn là yếu tố dương thứ 3  tức ba dương Càn. Hình nọc mũi tên Càn này giống đầu cây đòn càn của Việt Nam.

Đây là tượng Lửa vũ trụ, Lửa thái dương Càn.

4. Hình tháp nhọn hình delta kép giới hạn bởi hai nọc nhọn (^) lồng vào nhau, ở giữa phụ đề các chấm nọc lửa, bụi đất là biểu tượng cho núi nhọn đỉnh, núi tháp, núi đá, núi lửa, núi dương Li.

Đây là tượng lửa thiếu dương thế gian Đất dương Li. Anh ngữ pyramid, kim tự tháp có gốc pyro-, lửa có một khuôn mặt lửa thiếu dương thế gian Li.

Tóm lại hình thái này diễn tả Tứ Tượng. Đây là hình thái Tứ Tượng chứ không phải họa tiết “lông công”.

Hình thái tứ tượng này cho biết không gian mặt trời mang tính sinh tạo lưỡng hợp hai ngành nòng nọc, âm dương mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh.

Lưu Ý

Cần phải ghi tâm điểm mấu chốt quan trọng này: các chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, hình ngữ nòng nọc ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng cho biết trống là trống mang ý nghĩa Vũ Trụ luận gồm lưỡng nghi âm dương tứ tượng trọn vẹn hay không, dưới dạng lưỡng hợp nào, liên bang nào, ngành, nhánh nào, có mặt bao nhiêu tượng, bao nhiêu tộc và tượng hay tộc nào mang tính chủ, mang tính trội. Ở trống Ngọc Lũ I này như đã thấy những chữ nòng nọc ở khoảng không gian có hình thái  tứ tượng mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh của cả họ, ngành mặt trời thái dương.

c- Những Vành Sinh Tạo Vận Hành.

Tiếp đến là những vành (“hoa văn”) chữ viết nòng nọc vòng tròn-que bao quanh vành mặt trời-không gian. Những vành này ở dạng chuyển động theo vòng tròn mang tính vận hành, sinh động tức sinh tạo. Ở trống này ba vành sinh tạo này diễn tả tứ hành trọn vẹn của vũ trụ tạo sinh. Tứ tượng ở các khoảng không gian giữa tia sáng còn mang ý nghĩa biểu tượng, tĩnh tại chưa phải là sinh tạo thực sự. Ở vùng này tứ tượng trở thành tứ hành dưới dạng sinh tạo hoạt động năng động, vận hành, chuyển hành mãi mãi không ngừng, vô cùng vô tận, vô thủy vô chung, không đầu không đuôi vì thế dược diễn tả bằng những chữ nòng nọc chuyển động theo vòng tròn. Vùng tứ hành chuyển hành bao gồm bốn hành, thường hành ứng với khuôn mặt chủ của trống được khắc trong cùng nhất, gần mặt trời nhất nghĩa là ở vị trí hàng đầu gần sát mặt trời.

                   Vành tứ hành trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I

-Vành trong cùng sát mặt trời là vành vòng tròn và chấm. Vì nằm sát mặt trời mang dương tính nên phải đọc theo phía dương là từ vòng tròn-chấm  (O.) tức thiếu dương Li. Vành này cho biết Li đội lốt Càn, thừa hành Càn, một hình thức Càn thế gian. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt tương ứng với thiếu dương Li Kì Dương Vương đội lốt Càn Đế Minh. Kì Dương Vương có một khuôn mặt Càn thế gian có mặt trời thiên đỉnh chói chang nhất trong ngày.

-Vành phía ngoài cùng cũng giống như vành vừa nói nhưng vì nằm ngoài xa mặt trời nên mang âm tính, phải đọc theo phía âm tức nọc chấm-vòng tròn (. O)  tức thiếu âm (khuôn mặt dương I của ngành nòng O) Đoài vũ trụ khí gió. Tóm lại vành chấm  vòng tròn ở trong cùng sát mặt trời là vành thiếu âm, nguyên thể của gió dương thế gian Đoài vũ trụ khí gió.

-Hai vành này kẹp ở giữa vành hai chữ S gẫy ba khúc ôm nhau. Chữ S gẫy, gầy nhỏ nét mang dương tính diễn tả lửa vũ trụ. Chữ S gẫy này có ba khúc tức ba hào dương ghép lại, tức III, quẻ Càn Lửa vũ trụ. Ta cũng thấy chữ S gẫy ba khúc là một dạng của tia chớp, lửa vũ trụ. Ngày nay chữ S gẫy ba khúc dùng làm biểu tượng cho điện cao thế.

Chữ S gẫy ba khúc tức ba nọc III, ba hào dương biểu tượng cho lửa vũ trụ Càn, tia chớp, điện cao thế.

Chữ S mập phần giữa to nét mang âm tính thái âm diễn tả nước chuyển động mang dương tính, lửa. Phần mập ở giữa là giọt nước chuyển động thể điệu hóa và hai nọc nhọn ở hai đầu giọt nước mang nghĩa, lửa thái dương

Như thế chữ S mập diễn tả nước OO dương I tức IOO, Chấn (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và Mẫu Tự ABC).

Vậy vành này diễn tả Càn-Chấn ôm nhau dưới dạng hôn phối sinh động, sinh tạo năng động. Đây là dạng lưỡng hợp thái dương thái âm một dạng lưỡng hợp càn khôn ngành thái dương. Trong khi hai vành vòng tròn có chấm Li và chấm vòng tròn Đoài là dạng lưỡng hợp thiếu dương, thiếu âm.

Ta có tứ hành. 

Tóm lược

Ở cõi trên, trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có 14 nọc tia sáng  thuộc nhóm trống thái dương Càn thế gian.

Mặt trời không gian có khoảng không gian giữa tia sáng có hình thái tứ tượngcác vành tứ hành cho thấy trống này có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa. Trống mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh trong Vũ Trụ giáo.

Đối chiếu với cổ sử Việt là là trống thái dương Càn thế gian, Đế Minh, Minh Việt nhánh Nọc Việt dương thái dương ngành mặt trời Viêm Đế-Đế Minh.

(còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: