TRỐNG ĐOÀI-CHẤN/ÂU-LẠC THÁI DƯƠNG/HỒNG VIỆT SÔNG ĐÀ (4).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

Nhóm Trống Thái Dương. 

TRỐNG ĐỒNG SÔNG ĐÀ

TRỐNG ĐOÀI-CHẤN/ÂU-LẠC THÁI DƯƠNG/HỒNG VIỆT.

 (phần 4)

Nguyễn Xuân Quang

Mấu Chốt Nhận Diện Danh Tính Trống:

.Trống nhóm thái dương Càn/Tốn mặt trời 14 nọc tia sáng.

.Ba vành ngoài biên có hai vành nọc mũi mác thái dương kẹp giữa vành có những đoạn sóng hình thoi nhọn Gió Dương Đoài vũ trụ khí gió và những đoạn sóng uốn khúc vuông góc chuyển động Nước Dương Chấn. Ba vành cho biết trống là trống nhánh Khôn Đoài vũ trụ khí gió- Chấn ngành thái dương .

.Khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ vì có sự hiện diện của vỏ không gian là vòng tròn bao quanh đầu tia sáng nhỏ nét mang dương tính và các vành giới hạn nọc chấm đặc mang tính dương thái dương. Thái dương (II) của Khôn (O) là Đoài vũ trụ khí gió (IIO).    

Tóm lại

Trống Sông Đà là trống Khôn Đoài vũ trụ khí gió-Chấn với Đoài vũ trụ mang tính chủ  nhánh trống thái dương, ngành mặt trời thái dương. 

*

. Vùng nước thế gian.

Vùng nước là phần phình tang trống (trông như một vật đựng nước).

Phần trên tang trống có 6 vành hoa văn hình học gồm hai vành giới hạn chấm nọc lửa sinh tạo còn lại bốn vành hoa văn có hai vành nọc mũi mác thái dương  trong có bỏ hai dấu nọc chấm cũng cho biết là lửa, thái dương. Hai vành này kẹp giữa hai vành vòng tròn có chấm có tiếp tuyến Li -Tốn giống như ở trống Ngọc Lũ I.

Ở đây thấy có sự cọc cạch không giống nhau của những vành ở biên trống và trên tang trống. Thường thường giống nhau. Ta thấy có sự cố ý làm cọc cạch của người làm trống vì muốn cho biết:

-Qua hai vành chấm nọc sinh tạo, các tộc nước có một khuôn mặt chủ là Càn-Li lưỡng hợp khuôn mặt Chấn-Đoài của hai tộc người đất trên mặt trống .

-Qua hai vành nọc mũi mũi mác: các tộc này thuộc về ngành mặt trời thái dương.

-Qua hai vành vòng tròn có chấm có tiếp tuyến: có sự lưỡng hợp thế gian của hai tộc Đoài trên mặt đất với Li ở vùng nước. Như đã nói ở trên, ở vùng đất trên mặt trống Đoài mang tính chủ nên ở vùng nước này Li mang tính chủ.

Dưới chân tang trống có hai vành biên giới chấm nọc mang nghĩa lửa, thái dương sinh tạo kẹp giữa một vành vòng tròn có chấm có tiếp tuyến Li/Tốn có nghĩa như đã nói ở trên, không có hai vành nọc mũi tên mác.

Phần chủ yếu của tang trống vùng nước là thuyền với cảnh sinh hoạt sông nước.

.Thuyền

Chủ điểm của tang trống là 6 hình thuyền.

Trống Sông Đà là trống thuộc nhóm Đoài/Tốn thế gian có mặt trời 14 nọc tia sáng nằm cùng trong một nhóm với trống Ngọc Lũ I nhưng là trống đã hơi muộn. Trên vai trống Sông Đà cũng có 6 chiếc thuyền như ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Số 6 là số lão âm, âm thái dương, vậy 6 con thuyền này và những người trên thuyền thuộc nhánh Nòng thái dương (vì thuyền thuộc tộc nước, âm). Số 6 Tốn hôn phối với Đoài, ăn khớp trăm phần trăm với trống Đoài-Tốn Sông Đà. Chi tiết về các con thuyền này đã nói ở chương Ý Nghĩa Hình Người Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á. Ở đây chỉ xin tóm lược lại.

Sau đây là hình vẽ 6 con thuyền trên trống Sông Đà trong quyển Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hiện Ở Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên.

 

Sáu con thuyền trên trống Sông Đà (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 Nhìn tổng quát, sự trình bày của thuyền ít tinh vi và ít phức tạp hơn so với thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Thuyền không còn là thuyền phán xét linh hồn như trên trống Ngọc Lũ I nữa nhưng vẫn diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh mang ý nghĩa Vũ Trụ giáo bằng một cách đơn giản hóa.

Cũng như ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, trong 6 thuyền, có hai thuyền biểu hiệu cho âm dương, Lưỡng Nghi, cho hai ngành hay hai nhánh và 4 thuyền cho Tứ Tượng hay bốn chi tộc tương ứng với Tứ Tượng. Nói một cách khác có ba thuyền thuộc phía âm, trong đó có một thuyền đại diện cho ngành, tộc nòng âm và hai thuyền cho hai chi âm là thái âm và thiếu âm và 3 thuyền dương trong đó có một thuyền đại diện cho ngành, tộc nòng dương và hai thuyền cho hai chi dương là nòng thái dương và nòng thiếu dương. Hình dạng và kích thước các thuyền trên trống này đều giống nhau nhưng về chi tiết không một thuyền nào giống một thuyền nào. Hiển nhiên mỗi thuyền biểu hiệu cho một ngành hay một chi riêng biệt nào đó. Chi tiết là yếu tố quyết định để nhận dạng mỗi thuyền.

Rất tiếc trống này đã hơi muộn, về kỹ thuật không được hoàn hảo, mất nhiều chi tiết. Vì thế giống như ở trường hợp các ngôi nhà đã nói ở trên, để tránh lầm lạc, tôi chỉ dựa vào các chi tiết lớn để nhận định một cách khái quát mà thôi.

Ta đã biết trống này có hai khuôn mặt lưỡng hợp với Tốn là Đoài/Tốn và Chấn /Tốn. Vậy 6 con thuyền này nếu nhìn theo qui ước thông thường lưỡng hợp nòng nọc, âm dương của trống đồng nòng nọc, âm dương giữa người của hai vùng đất và nước thì các tộc nước có  hai khuôn mặt lưỡng hợp với Đoài vũ trụ  Chấn là Li và Càn dòng âm nước thái dương.

Suy ra trong 6 thuyền có hai thuyền đại diện cho hai tộc Đoài Chấn là hai thuyền Càn/Chấn và Li/Đoài , còn lại bốn con thuyền biểu tượng cho bốn chi tộc ứng với tứ tượng ngành nọc thái dương phía âm nước ngành Thần Nông thái dương.  Kiểm chứng lại ta cũng thấy rõ là các vành hình chấm nọc ở tang trống cho biết các tộc người  trên thuyền có một khuôn mặt nọc dương manh tính chủ tức Càn-Li. Như thế  cho thấy sự lưỡng hợp vừa nói ăn khớp trăm phần trăm.

.Các Hình Thuyền

Nhìn chung, mũi sáu con thuyền có hình đầu Rắn Nước Chấn thái dương đang há miệng tương tự như ở mũi thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Nhưng ở đây không có thêm hình chim trong miệng rắn như ở trống Ngọc Lũ I vì vậy đây chỉ là dạng Rắn Nước đơn độc không phải là dạng lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng (xem trống trống Ngọc Lũ I).

Mũi thuyền Rắn Nước có sừng (Rắn Việt) đơn độc chỉ biểu tượng cho thái âm, nước, dương là Chấn. Đầu rắn nước của 6 con thuyền có những chi tiết khác nhau ứng với lưỡng nghi và tứ tượng. Rất tiếc chi tiết không rõ.

 Đuôi thuyền có hình đầu chim có mỏ hình rìu, có con mắt dương chỉ có một vòng tròn. Đây là đầu chim nông mỏ rìu lửa, chim bổ cắt biểu tượng lửa thad Càn.

Đầu chim bổ cắt ở đuôi 6 con thuyền cũng có những chi tiết khác nhau ứng với lưỡng nghi và tứ tượng.

Như thế nhìn chung 6 con thuyền có mũi và đuôi diễn tả sự lưỡng hợp  thái âm thái dương nhánh nước thái dương.

Cần nói thêm, thuyền ở đây khác với ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và Trống Miếu Môn I. Trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ mũi thuyền diễn tả chim rìu mỏ cắt lao vào miệng rắn nước diễn tả lưỡng hợp Càn-Chấn, Chim-Rắn, Tiên Rồng theo dạng hai cá thể riêng rẽ. Ở trống Trống Miếu Môn I, chim và rắn vẫn là hai cá thể riêng biệt nhưng chim là hàm trên của miệng rắn tức mũi thuyền diễn tả chung cả chim và rắn ở dạng lưỡng hợp đại vũ trụ thái âm thái dương. Ở trống Sông Đà này đầu thuyền chỉ diễn tả đầu rắn nước.

Còn đuôi thuyền vẫn là đầu chim bổ cắt (ở đây sau đuôi thuyền không có cây cọc đầu bồ cắt nên biết rõ đuôi thuyền đích thực là đầu chim bổ cắt).

Như thế đầu và đuôi thuyền ở trống Sông Đà diễn tả dạng lưỡng hợp thái âm Chấn với thái dương Càn.

.Người

Mỗi thuyền có 5 người. Số 5 là số Li.  Những người trên thuyền có khuôn mặt Li mang tính chủ. Ta đã biết trống Sông Đà này là trống Đoài-Chấn có khuôn mặt Đoài mang tính chủ, ở cõi đất thế gian tộc người Đoài mang tính chủ. Ở cõi nước này tộc người Li mang tính chủ ăn khớp trăm phần trăm theo dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ Đoài-Li (tiểu vũ trụ là cõi người, con người là tiểu vũ trụ).

.Chim

Bốn trong sáu thuyền, ở phía đầu và đuôi thuyền có hình chim. Chim ở vùng nước này theo chính thống phải là loài chim nước. Chúng là những loài có các đặc tính nòng nọc, âm dương khác nhau biểu tượng cho các giai đoạn của Vũ Trụ Tạo Sinh hay các tộc khác nhau.

Các thuyền tính từ trên xuống:

-Thuyền số 1

 

Thuyền số 1 trên trống Sông Đà (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Liếc mắt qua, thuyền có hai con chim. Hai con chim đều hướng về chiều dương tay phải, ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời, tức hai dương, thái dương, lửa. Hai con chim nước này thuộc loài chim dương biểu tượng cho lửa của dòng nước có thể là chim cuốc, (xem dưới). Hai con chim này diễn tả theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là hai nọc que II, tức lửa, thái dương. Chim ở phía đuôi thuyền có dáng nghiêng nghiêng như muốn bay lên trời. Vậy hai con chim diễn tả lửa cõi trời tức Càn.

Như thế hai con chim cho biết thuyền thuộc ngành nọc lửa thái dương Càn.

Bây giờ đi vào chi tiết hơn.

Chim đầu mũi thuyền có mỏ ngắn, to, hình nọc mũi mác  mang tính nọc, lửa thái dương, có con mắt dương một vòng tròn, không có bờm, trông giống như loài chim cuốc. Chim này biểu tượng cho nọc, dương, lửa, thái dương mang tính lửa vũ trụ Càn. Chim ở phía đuôi thuyền có mỏ ngậm mồi tạo thành hình nọc mũi mác chỉ thiên Càn, có bờm hai nọc que lửa và con mắt dương. Như thế hai con chim này mang dương tính là hai dương, hai nọc, thái dương diễn tả ngành nọc, dương lửa cõi trời Càn.

Thuyền này là thuyền Càn ứng với cực dương trong lưỡng nghi, biểu tượng cho phía nọc, dương Càn của dòng nước.

Thuyền số 2

Thuyền số 2 trên trống Sông Đà (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Không có chim. Nhìn theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que không có chim tức không có dương tính, tức thuộc ngành nòng Khôn Đoài Chấn.

Đặc biệt phía dưới đầu thuyền có thêm hình con cá. Cá biểu tượng cho nước. Cá nước. Trong 6 con thuyền, chiếc thuyền này duy nhất có hình cá. Con cá cho biết thuyền này thuộc nhánh nòng nước Khôn thái âm.

Con cá ở đây rất đặc biệt là khắc thấy cả hai con mắt nhìn từ trên xuống trong khi ở các trống khác như ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, cá khắc nhìn theo bán diện chỉ thấy một con mắt. Hai con mắt ở đây mang một ý nghĩa gì? Hai con mắt ở đây là hai con mắt dương chỉ có một vòng tròn có chấm (đúng lý nhìn theo diện cá nước thì con mắt phải là con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm có chấm). Hai con mắt dương là hai dương, lửa, thái dương. Như thế con cá diễn tả nước dương, nước lửa, thái dương Chấn. Vậy thuyền là thuyền Chấn.

Thuyền này là thuyền Chấn ứng với cực âm trong lưỡng nghi, biểu tượng cho phía nòng, âm Khôn Chấn-Đoài của dòng nước.

Như thế hai thuyền này biểu tượng cho hai tộc  thái dương Càn và thái âm Chấn ngành thái dương  ứng với lưỡng nghi, suy ra 4 thuyền còn lại biểu tượng cho 4 chi tộc ứng với tứ tượng.

Thuyền số 3

 Thuyền số 3 trên trống Sông Đà (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Thuyền có hai con chim. Hai con chim đều hướng về chiều dương, ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời, tức hai dương, lửa.

Chim ở đầu thuyền có mỏ dài, không có bờm, có dáng dấp loài cò nước, cò âm.

Chim sau thuyền mỏ ngắn, bờm hình sừng nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang dương tính.

Như thế hai con chim này diễn tả theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que nhìn tổng quát là thái dương II của âm O tức quẻ IIO, Đoài. Còn nhìn theo tính nòng nọc, âm dương thì con chim đầu là con cò nước âm tức nòng O và con chim ở đuôi thuyền mang dương tính là nọc I. Hai con đọc gộp lại theo chiều dương là IO, tức thiếu âm, nguyên thể của khí gió Đoài.

Đặc biệt trong sáu thuyền chỉ duy nhất thuyền này có một người trên thuyền ôm một con chim lớn hướng lên trời. Đây là “phụ đề” chim trời Đoài xác thực thêm cho biết thuyền này là thuyền chi Đoài. Ta đã biết tộc Đoài mang tính chủ của trống Sông Đà này. Con chim này cũng nhấn mạnh cho biết tộc Đoài mang tính chủ.

Như thế đây là thuyền của chi tộc Đoài phía nòng âm nước.

Thuyền số 4

 Thuyền số 4 trên trống Sông Đà (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 Tổng quát giống thuyền Chấn số 2.

Thuyền không có hình chim, tức thuần âm. Ở đây là thuyền của chi tộc nước Chấn.

Thuyền số 5

Thuyền số 5 trên trống Sông Đà (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 Thuyền có hai con chim. Hai con chim hướng theo hai chiều khác nhau mang tính nòng nọc, âm dương khác nhau. Con ở đầu thuyền hướng về chiều dương, ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời. Con ở đuôi thuyền hướng về phía đuôi thuyền chiều âm tức theo chiều với kim đồng hồ, Như thế hai con chim biểu tượng cho âm của dương tức thiếu dương tức lửa thế gian Li.

 Chim ở đầu thuyền có mỏ ngắn to, hình nọc mũi mác, có bờm hình nọc mũi tên, có dáng dấp loài chim cốc. Chim sau thuyền có cẳng dài, mỏ dài cong, không có bờm, trông ủ rũ, mang âm tính. Đây là con cò nước. Nhìn theo tính nòng nọc, âm dương thì con cò âm ở đuôi thuyền là nòng O và con cuốc dương ở mũi thuyền là nọc I. Đọc gộp lại hai con là OI, thiếu dương, lửa thế gian Li.

Vậy hai con chim này diễn tả thiếu dương, nguyên thể của lửa thế gian Li.

Như thế đây là thuyền của chi tộc Li phía nòng âm nước.

Thuyền số 6

 Thuyền số 6 trên trống Sông Đà (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Tổng quát, thuyền có hai con chim dương mang vóc dáng loài chim cuốc giống như thuyền số 1 Càn.

Hai con chim đều hướng về chiều dương, ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời, tức hai dương, thái dương, lửa. Chim ở phía đuôi thuyền có mỏ ngắn hình nọc mũi mác  trong có bỏ dấu hai nọc que lửa thái dương.

Hai con chim thuộc loài chim dương biểu tượng cho lửa của dòng nước. Hai con chim này diễn tả theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là hai nọc que II, tức lửa, thái dương. Con chim sau đuôi thuyền có dáng dấp muốn bay lên trời diễn tả cõi trời. Như thế hai con chim diễn tả lửa trời, lửa vũ trụ tức Càn.

Như thế đây là thuyền của chi tộc Càn phía nòng âm nước.

 Tóm lại

Nhìn tổng quát, sự trình bày của thuyền ít tinh vi và ít phức tạp hơn. Thuyền không còn là thuyền phán xét linh hồn như trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I nữa nhưng vẫn diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh mang ý nghĩa Vũ Trụ giáo bằng một cách đơn giản hóa. Thuyền chỉ diễn tả sự liên hiệp hay lưỡng hợp thái âm thái dương ngành nọc dương thái dương.

Chỉ cần dựa vào cách diễn tả theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que và tính nòng nọc, âm dương của các hình chim hay không có hình chim ở đầu và đuôi mỗi con thuyền là ta cũng đã đủ để nhận diện được 6 con thuyền rồi.

Trong 6 thuyền, có hai thuyền biểu hiệu cho âm dương, Lưỡng Nghi, Càn Chấn ứng với hai ngành hay hai nhánh hay hai tộc và 4 thuyền biểu hiệu cho tứ tượng hay bốn chi tộc tương ứng với tứ tượng.

Sự hiện diện của các vành chấm nọc dương sinh tạo cho biết các tộc người nước thuộc về ngành Lửa Càn Li.

Các tộc người nước Li-Càn (Li mang tính chủ) lưỡng hợp với các tộc người đất trên mặt trống Đoài-Chấn (Đoài mang tính chủ).

Đối chiếu với truyền thuyết Việt, người trên mặt đất thuộc nhánh Đoài-Chấn Thần Nông thái dương và người trên thuyền thuộc nhánh Li-Càn Viêm Đế thái dương. Đối chiếu với cổ sử Việt, người trên mặt dất thuốc nhánh Âu Việt- Lạc Việt  hay liên hiệp Âu-Lạc (Việt). Người trên thuyền thuộc nhánh Kì Việt-Dương Việt hay liên hiệp Kì-Dương (Việt) của ngành nòng nước.

C. HẠ THẾ

Chân trống còn giữ được chính thống vì không có trang trí,

(còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: