LẠC VIỆT TRÁNG (CHOANG)… (phần 2 và hết).

 (*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

LẠC VIỆT TRÁNG (CHOANG, ZHUANG)

VÀ LẠC VIỆT VIỆT NAM.

(phần 2 và hết)

Nguyễn Xuân Quang

 Một vài nét văn hóa đặc thù khác ruột thịt với văn hóa Việt Nam.

Họ cũng có tín ngưỡng lên đồng như Việt Nam. Người Tráng Zhuang cũng có tộc nhuộm nhuộm răng đen. Đây là một nét đặc thù của người Lạc Việt con cháu mặt trời Nước, thần rồng Lạc Long Quân vì mầu đen là mầu nước thái âm. Người Việt Nam có một gốc Lạc Việt cũng nhuộm răng đen và trước đây bị các tộc thù nghịch nhận diện ra qua hàm răng đen và bị phỉ báng là bọn «răng đen mã tấu». Sau này «răng đen mã tấu” cũng dùng chỉ những người quê mùa thô bạo. Mã tấu là một thứ vật nhọn nhưng cong là khí biểu của ngành nọc thái dương của Bách Việt. Răng đen mã tấu là hai thứ tiêu biểu đặc thù của Lạc Việt.

Trong xã hội Tráng Zhuang đàn bà cũng giữ một vài trò rất quan trọng như người Việt Nam.

Họ là một thứ Lạc Việt Loyue.

Bước vào làng Tráng Zhuang được tạo dựng lại làm kiểu mẫu trong Làng Văn Hóa Các Sắc Tộc ở Nam Ninh, Quảng Tây,  trước hết ta thấy cổng làng có hai cột trụ thờ thần Rồng, thần tổ của người Tráng Zhuang.

 Trụ cổng làng thờ thần Rồng, thần tổ của người Tráng Zhuang (ảnh của tác giả chụp tại Làng Tráng Zhuang ở Làng Văn Hóa Sắc Tộc Quảng Tây tại Nam Ninh).

 Kế đến một bên vách đá vẽ lại những hình ảnh các Thiên Vương (Heaven King), Thần Tổ mà tổ tiên người Tráng Zhuang vẽ trên các vách đá từ thời Tân Thạch và một bên là ngôi nhà Đá Calabash tưởng niệm các vị thần truyền thuyết đã giúp tổ tiên người Tráng Zhuang trị yên được hồng thủy.

Vượt lên cao là tháp lầu Haotian (Heaven) thờ Ngọc Hoàng,

 Lầu Haotian (Heaven) thờ Ngọc Hoàng,

 Thờ Ngọc Hoàng cho thấy Tráng Zhuang có một gốc đạo Lão, một thứ tín ngưỡng của Bách Việt.

Người Lạc Việt Tráng Zhuang ruột thịt với nhánh Lạc Việt Việt Nam nên họ cũng thờ trống đồng thuộc đại tộc trống đồng nòng nọc, âm dương  Đông Sơn. Trong ngôi làng này có một điêu khắc trống đồng vĩ đại. Ngày nay người Tráng Zhuang cho rằng theo truyền thuyết, thần trống đồng có ma lực có thể xua đuổi đi tà ma và đem lại an vui cho họ.

Thật ra ngày nay người Tráng Zhuang đã hiểu trống đồng theo nghĩa duy tục không còn hiểu theo nghĩa nguyên thủy của trống đồng nòng nọc, âm dương. Người Tráng Zhuang ngày nay dùng trống đồng nòng nọc, âm dương như một nhạc cụ bộ gõ.

Hình trống đồng còn thấy vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây có tuổi cùng thời với trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Hình trống đồng vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây (Đạo Thờ Mặt Trời Của Bách Việt, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

 Trống đồng Tráng Zhuang phần lớn thuộc loại trống đồng tượng Nước Nguyễn Xuân Quang IV tức trống trệt Heger IV hình cái âu hay nồi úp thuộc đại tộc mặt trời Nước Lạc Long Quân.

 

 Trống đồng Tráng Zhuang thuộc loại trống đồng tượng Nước Nguyễn Xuân Quang IV tức trống trệt Heger IV hình cái âu hay nồi úp thuộc đại tộc mặt trời Nước Lạc Long Quân.

Trống đồng tượng Nước Tráng Zhuang chỉ là một tộc trong đại tộc trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn có trống biểu là trống Đông Sơn hình Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI hay Heger I (xem Cơ Thể Trống Đồng).

Người Tráng Zhuang có vũ trụ quan theo Vũ Trụ giáo dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương. Khi còn nòng nọc, âm dương quyện vào nhau là Trứng Vũ Trụ gọi là đĩa Thái Cực. Đĩa thái cực được cho là của Đạo giáo, Lão giáo.

Ta cũng thấy người Tráng Zhuang cho rằng Thần Trống Đồng trị được tà ma đúng như ta đã thấy trống đồng nòng nọc, âm dương loại cóc/ếch có một khuôn mặt là trống sấm. Ông thần sấm có búa thiên lôi, lưỡi tầm sét có đánh đuổi trị được ta mà. Như đã biết lá bùa trừ tà của dân dã Việt Nam có một loại Dịch trong đó Chấn sấm hôn phối với Cấn non ứng với Sấm Lạc Long Quân có nhà ở đầu Non Cấn Âu Cơ. Lá bùa Chấn/Cấn này hiển nhiên trừ được tà ma (Giải Đọc Nhóm Trống Đồng Cóc/Ếch).

Còn Thần Trống đồng mang lại an vui, hạnh phúc cũng nằm trong ý nghĩa sinh sản, sản xuất, mắn sinh, được mùa của trống đồng nòng nọc, âm dương là trống biểu của Vũ Trụ giáo.

Ta đã biết trống đồng nguyên khởi là trống biểu của Vũ Trụ giáo là họ biễu, quốc biểu, tộc biểu (như thấy qua các trống Quảng Xương, Hòa Bình, Phú Xuyên, Trống Miếu Môn I…)  về sau ở các trống muộn thường có tượng cóc/ếch gọi là trống ếch trống mưa, mang khuôn mặt thờ sấm mưa nổi trội lên làm lu mờ đi ý nghĩa biểu tượng nguyên thủy của trống. Các trống Nam Trung Hoa và các quốc gia khác như Lào, Campuchia, Thái Lan… gọi trống đồng là trống ếch trống mưa. Ở tộc Tráng Zhuang cũng vậy, họ coi trống đồng là trống biểu tượng cho sấm, mưa. Trống tiêu biểu mà họ hãnh diện nhất là Trống Đại Lôi (Great Thunder Drum). Thờ trống sấm mưa nên họ thờ thần sấm mưa:

 Thờ Thần Sấm qua biểu tượng ‘đĩa sấm’ Lửa-Nước Càn-Khôn vũ trụ (ảnh của tác giả chụp tại Làng Tráng Zhuang ở Làng Văn Hóa Sắc Tộc Quảng Tây tại Nam Ninh).

Họ cũng có ngôi nhà thờ phượng ngày nay gọi là nhà cộng đồng nhà hội dùng làm nơi hội họp, gặp gỡ của giới trẻ giống như nhà Lang Mường, nhà đình Việt Nam.

Nhà cộng đồng kiểu nhà sàn Tam Thế (ảnh của tác giả chụp tại Làng Tráng Zhuang ở Làng Văn Hóa Sắc Tộc Quảng Tây tại Nam Ninh).

Lưu ý mái cũng có đầu đao nhưng ở giữa nóc nhà có một kiến trúc hình thuyền cho thấy rõ họ thuộc đại tộc nước Rồng Lạc Long Quân. Họ còn giữ được truyền thống cổ không như các đình làng dòng Lạc Long Quân của chúng ta hiện nay trên nóc bây giờ toàn thấy hình rồng kiểu rồng long Trung Hoa.

 Ngoại cảnh ở khu làng này có cầu Phong Vũ, guồng nước, vườn cây có trồng cây rồng… Tất cả phong cảnh đều theo chủ điểm của ngành rồng, nước, làm ruộng nước Lạc Việt.

 Nhà thường dân làm theo kiểu nhà sàn ruột thịt với các kiến trúc nhà sàn thờ tự theo Tam Thế trong Vũ Trụ giáo.

 Một ngôi nhà sàn thường dân ngày nay (ảnh của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Sắc Tộc Thiểu Số Quảng Tây, Nam Ning).

 Ngày xưa tầng trên chỗ gia đình ở là Trung Thế có gác lửng dùng thờ phượng thần tổ, tổ tiên ứng với Thượng Thế và tầng dưới sàn là Hạ Thế nơi nuôi thú vật…

Trang Phục

 Hình nộm một cặp nam nữ Tráng Zhuang mặc trang phục cổ truyền

(ảnh của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Sắc Tộc Thiểu Số Quảng Tây, Nam Ning).

Đa số các chi tộc Tráng Zhuang mặc trang phục mầu đen (rõ nhất là chi tộc Napo). Mầu đen là mầu của nước thái âm của tộc Nước, mặt trời Nước ứng với Rắn (Rồng) Lạc Long Quân.

Lưu ý khăn đội đầu của người nam mang hình ảnh khăn đóng của Việt  Nam và khăn trùm đầu của người nữ mang hình ảnh chiếc khăn vuông đen cổ truyền của phụ nữ Việt  Nam.

Trang phục của người Tráng Zhuang thay đổi theo từng chi tộc như về mầu sắc chẳng hạn ví dụ tộc Napo mặc trang phục đen.

 Một tộc Tráng Zhuang mặc trang phục mầu đen.

 Mầu đen là mầu nước thái âm. Tộc Lạc Việt dòng mặt trời Nước Lạc Long Quân có tục nhuộm răng đen là vậy. như đã nói ở trên chúng ta có nhóm từ ‘răng đen mã tấu’. Mã tấu là khí biểu của tộc mặt trời Nước Lạc Việt. “Răng đen mã tấu” là hai nét đặc thù của Lạc Việt.

Phụ nữ Tráng Zhuang thích đồ thêu thùa và nữ trang bằng bạc như phụ nữ Việt Nam cổ (như đeo kiềng, dây xà tích bạc).

.Ẩm thực

Có tộc Tráng Zhuang cũng ăn trầu và nhuộm răng đen như người Việt Nam.

Họ cũng dùng xôi làm tế thực. Họ có món xôi đặc thù là xôi ngũ sắc dùng để dâng cúng trong khi chúng ta dùng xôi gấc tế mặt trời, các vị thần tổ mặt trời.

Đối với các tộc Việt cổ ngũ sắc có liên hệ với ánh sáng mặt trời (đúng ra theo quang học áng sáng trắng có 7 mầu cầu vồng) nên dùng trừ tà, sâu bọ (ngày lễ Đoan Ngọ 5-5  đeo chỉ ngũ sắc để giết sâu bọ), Phật giáo Tây Tạng dùng các bùa ngũ sắc để xua đuổi tà mà.

 Chõ đồ xôi của người Tráng Zhuang, Bảo Tàng Viện Sắc Tộc (ảnh của tác giả).

Các nhà khảo cổ Việt Nam cũng cho biết chõ nấu xôi của chúng  đã tìm thấy từ đời Hùng Vương.

Kho lúa của người Tráng Zhuang giống hệt kho lúa của Mường Việt là làm theo kiến trúc Tam Thế (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Kho lúa Tam Thế của người Tráng Zhuang giống hệt kho lúa của người Mường (ảnh của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Sắc Tộc Thiểu Số Quảng Tây, Nam Ning).

.

 

 Kho lúa Tam Thế của người Mường (J. Cuisinier, Les Mường).

.Giải trí Múa hát, Giỏi về đàn ca múa hát.

 Người Tráng Zhuang đàn ca múa hát rất điệu nghệ. Người Tráng Zhuang đen Napo có nhiều điệu hát giao duyên. Người hướng dẫn viên của chúng tôi là một người Tráng Zhuang đã hát cho chúng tôi vài làn điệu nghe rất có âm hưởng của những bài hát giao duyên ViệtNam.

Đặc biệt nhất là họ có trò chơi tung còn giống như người Mường và các sắc tộc khác ở miền Bắc ViệtNam.

 Tục ném trái cầu cho lọt vào vòng tròn trên đầu trụ.

Ném còn, tung còn là trò chơi nòng nọc, âm dương. Quả cầu tròn và đĩa tròn mang hình ảnh chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ chấm nọc nguyên tạo (.) và chữ nòng vòng tròn (O). Chữ chấm nọc dương biểu tượng cho nọc, dương sinh tạo, bộ phận sinh dục nam nguyên tạo. Vòng tròn có lỗ là chữ nòng O có một nghĩa là bột phận sinh dục nữ nguyên tạo. Ném trái còn lọt vào vòng tròn để cho nòng nọc, âm dương giao hòa. Trong lễ cưới một vài sắc tộc ở miền Bắc Việt Nam (trong đó có người Mường?), chú rể cầm quả cầu, cô dâu cầm một cái vòng tròn có dán giấy kín biểu tượng cho màng trinh, họ đứng cách nhau một khoảng xa về phía hai họ. Chú rể phải ném cho tới khi quả cầu lọt vào được vòng tròn chọc thủng tờ giấy màng trinh mới chính thức trở thành người chồng. Tục ném còn nòng nọc, âm dương giao hòa này là một nét của cốt lỗi văn hóa lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng.

 Thờ mặt trời.

Lạc Việt Tráng Zhuang nằm trong Bách Việt Người Mặt Trời, có thần tổ là thần Mặt Trời Viêm Đế tức Tồ Hùng Viêm Đế của các Hùng Vương Mặt Trời thế gian.

Như chúng ta, Tráng Việt  Zhuang là một thứ Lạc Việt trong Bách Việt, Người Mặt Trời, như đã thấy họ thờ Mặt Trời còn vẽ lại trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây cách đây trên dưới 2.700 năm (Đạo Mặt Trời Của Bách Việt, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

Cảnh Tế Lễ mặt trời, thờ mặt thời của Lạc Việt Tráng Zhuang vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây (ảnh của tác giả).

Thờ mặt trời cũng thấy qua sự thờ phượng trống đồng nòng nọc, âm dương.  Trống đồng Tráng Zhuang thuộc loại trống đồng tượng Nước Nguyễn Xuân Quang IV tức trống chệt Heger IV hình cái âu hay nồi úp thuộc đại tộc mặt trời Nước Lạc Long Quân.

Và còn nhiều nữa.

Kết Luận

Tóm lại người Choang, Tráng Zhuang là một nhánh Lạc Việt ruột thịt với Lạc Việt Việt Nam. Họ đã từng là một thành phần của nước Âu-Lạc, Tây Âu, Đông Âu (Đông Việt)… Nhánh đi xuống đất Lào, Thái trở thành các tộc Lào, Thái…

Ta có thể dựa vào những nét văn hóa thuần Việt của họ để điều chỉnh, sửa đổi lại những sai lệch của văn hóa Việt hiện nay, loại trừ hay gạt qua bên những gì đã bị Hán hóa hay những gì trùng hợp với văn hóa Hán tộc (dù cho họ có lấy của chúng ta và Hoa hóa đi) để tránh cho những thế hệ Việt trẻ và người ngoại quốc nhầm lẫn và ngộ nhận. Ví dụ ta có thể tìm lại vật tổ Lang Trời qua văn hóa Tráng Zhuang. Như đã nói ở trên, tên Zhuang (Rao) thường được viết là 獞 có một nghĩa là chó hoang tức loài sói lang. Tên này viết với bộ khuyển (chó) cho thấy vững chắc là họ có vật tổ Lang Trời, Thiên Cẩu, vật tổ bốn chân sống trên đất của Lang Việt, khuôn mặt thiếu âm của Lạc Việt. Họ vẫn còn giữ tục Múa Chó Lúc Trẻ Em Chào Đời. Vật tổ Lang Trời này còn thấy trên trống thú biểu Mang Lang của liên bang Văn Lang là Trống Miếu Môn I. Chúng ta còn múa Lang Trời ở một vài vùng quê. Như vậy chúng ta phải làm sống lại tục múa Lang Trời Thiên Cẩu này. Vào dịp giỗ tết, nhất là giỗ Tổ Hùng Vương (từ TỔ bao gồm cả Hùng Vương truyền thuyết cõi tạo hóa và Hùng Vương lịch sử thế gian) ta phải múa cả ba linh thú biểu tượng cho ba cõi Đất, Nước, Trời. Ta phải múa Lì Hươu Sủa Mang Gạc có hai sừng hai mấu nhọn biểu tượng cho đại độc Đất dương Kì Dương Vương và múa Lân-Nai cái không có sừng biểu tượng cho Lửa đất âm (Âu Cơ nhánh Kì Dương Vương), múa Rồng giảo long (thật ra là giao long) biểu tượng cho đại tộc Nước Lạc Long Quân và múa Lang Trời Thiên Cẩu biểu tượng cho đại tộc Gió bầu trời Hùng Vương.

Khác với người Trung Hoa cổ cho rằng Bách Việt là những kẻ man di, mọi rợ, các khảo cổ học và các chứng cứ về cổ sử thời ban sơ cho thấy người cổ Việt đã văn minh đầy đủ như người trung nguyên. Các học giả Trung Quốc hiện nay cho rằng người Bách Việt  phía nam, tiền nhân, tổ tiên người Tráng Zhuang phải được xem là có nguồn gốc từ một nền văn hóa bản địa thời Tân Thạch ở vùng đông nam Trung Hoa.

Địa khai hay vật hóa thạch sọ Homo sapiens Liujiang cho thấy người Rao (Zhuang, Tai) đã sống ở Quảng Tây lâu hơn bất cứ nền văn minh nào.

Như thế xác thực là Bách Việt có một nền văn minh cổ đại bản  địa huy hoàng không thua kém gì nền văn minh trung nguyên. Nền văn minh Bách Việt đã đóng góp và ảnh hưởng rất nhiều lên nền văn hóa Hoa Hạ (Đạo Thời Mặt Trời Của Bách Việt).

 

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: