NHÓM TRỐNG THÁI DƯƠNG, TRỐNG ĐẠI TỘC CHẤN LƯỠNG HỢP LANG MANG MIẾU MÔN I (phần 4).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

NHÓM TRỐNG THÁI DƯƠNG. 

TRỐNG MIẾU MÔN I, TRỐNG ĐẠI TỘC CHẤN THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP ĐOÀI-CÀN THẾ GIAN LANG-MANG/LẠC VIỆT THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP LANG VIỆT-MANG MAN VIỆT THÁI DƯƠNG CỦA NGÀNH NGƯỜI VIỆT MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG. 

 (phần 4)

Nguyễn Xuân Quang

 Trống Trống Miếu Môn I (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

b. Đất âm

 .Vành cò bay

Kế đến là vành số 9 có 16 hình cò bay. Tổng quát về cò đã nói rõ ở vành 18 con cò bay ở trống Ngọc Lũ I, ở đây chỉ nhắc lại các điểm chính.

Mười sáu con cò bay với số 16 là số Khôn nước thế gian tầng 3 (0,8, 16). Theo duy âm là Khôn âm nước, 16 con cò có một khuôn mặt Chấn Khôn âm có thể là cò cái mang tính chủ hay 8 con ở bán viên âm) và theo duy dương là Khôn dương khí gió Đoài vũ trụ khí gió, 16 con cò có một khuôn mặt là cò Đoài vũ trụ khí gió (ứng với khuôn mặt cò đực mang tính chủ hay 8 con ở bán viên dương). Trong khi ở trống Ngọc Lũ I có 18 con cò. Số 18 là số Khảm tầng 3 (2, 10, 18). Khảm hôn phối với Li. như đã biết trống Ngọc Lũ I là trống nhóm thái dương Càn thế gian có khuôn mặt Càn thế gian tức Li mang tính chủ. Vì thế mới có 18 con cò.

Theo duy âm thì số 16 là Khôn âm Chấn ăn khớp với trống đại tộc Chấn. Ta có Cò Chấn mang tính chủ.

Như thế 16 con cò bay có cả hai khuôn mặt: một biểu tượng cho trống tộc Chấn thái dương và một cho tộc Lang Đoài vũ trụ khí gió của liên tộc Lang Mang  của trống Chấn thái dương.

 Hình cò bay trên trống Miếu Môn I ở cổ và phần trên có tên viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc giải gió,  tua gió, đuôi diều và có bờm phướn gió (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Mấu chốt chính là những con cò này dưới mỏ có cái mà các nhà khảo cổ học hiện nay gọi là “cái mồi” giống như các con Lang trời ở trên.

Như đã nói ở trên những con cò này là Cò Nang có túi hình từ nòng nọc (âm dương) tam giác diễn Khôn mang tính dương thái dương ngành Càn. Mười sáu con cò ở vành số 9 với số 9 là số Chấn tầng 2. Cò có một khuôn mặt Chấn. Mười 16 con với 16 là số Khôn tầng 3 là Khôn 3 nòng OOO là Khôn âm Chấn. Như thế khuôn mặt cò Chấn mang tính chủ. Ta cũng thấy rõ cò Chấn mang tính chủ đi với nai Càn âm Tốn mang tính chủ theo lưỡng hợp Chấn-Tốn Tiên Thiên Bát Quái. 

Đây là 8 con cò Chấn trong bờm hình chữ nhật không gian trong có hình sóng nước thái dương (hai nọc chấm đặc là thái dương) thấy ở hàng cò bên trên (hình vẽ chỉ có 4 con). Trong khi đó 8 con cò có bờm gió trong có từ chấm-vòng tròn có một nghĩa là thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió là những con cò Khôn dương Đoài vũ trụ khí gió thấy ở hàng dưới (hình vẽ chỉ có 4 con). Cò Chấn mang tính chủ vì trống là trống biểu đại tộc Chấn. Lưu ý trong nang của cả hai nhóm có con có từ chấm-vòng tròn có một nghĩa dương, đực có thể là con đực và con không có có thể là con cái.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, cò gió Lang Đoài vũ trụ là chim biểu của Lang Việt của đại tộc Chấn Lạc Long Quân Thần Nông thái dương.

.Các vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ở biên trống.

Ngoài biên trống có ba vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (‘hoa văn’) gồm hai vành ở ngoài hình nọc mũi mũi mác có một nghĩa thái dương.

Đặc biệt ở trống này trong nọc mũi mác còn có đánh dấu hai chấm nọc có mục đích nhấn mạnh đây mang nghĩa thái dương sinh tạo.

Hai vành này kẹp ở giữa vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn.

Như thế ba vành này cho biết trống này thuộc đại tộc nước lửa thái dương, Chấn.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống  Lạc Việt Lạc Long Quân thái dương.

Những vành giới hạn nọc chấm cho biết trống có khuôn mặt lửa, thái dương mang tính chủ.

Tóm tắt lại

Mặt trống từ tâm trống ra ngoài biên ta có: thượng thế là mặt trời 14 nọc tia sáng nhóm trống thái dương Tốn-Càn. Không gian với các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái tứ tượng và các vành tứ hành sinh động. Vùng đất dương có vành chủ yếu gồm hai loài thú bốn chân: Lang Trời Gió Đoài và Mang Trời Lửa âm Nai cái Càn âm thái dương Tốn ở bán viên dương và Lang Lửa Càn, Hươu Li ở bán viên âm. Lang Trời Gió Đoài mang tính chủ phía Lang và Mang cái Càn âm Tốn mang tính chủ. Lang Mang diễn tả một khuôn mặt liên tộc của trống đại tộc Chấn thái dương. Vành 16 cò bay cho biết trống có khuôn mặt cò Đoài ở bán viên dương và cò Chấn ở bán viw6n âm. Tộc cò Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ. Ba vành ngoại biên cho biết trống là trống Chấn nước lửa nhánh nọc dương thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt trống là trống biểu của đại tộc Chấn dòng Lạc Long Quân gồm hai tộc Lang Việt và Kì Việt nhánh Âu Lạc Việt với Lang Việt mang tính chủ.

-Vùng nước

Vùng nước là phần phình tang trống (trông như một vật đựng nước).

Tang trống có những ‘hoa văn’ chữ viết nòng nọc vòng tròn-que giống ở biên trống gồm hai vành  giới hạn nọc chấm và ba vành với hai vành nọc mũi mác mang nghĩa lửa, thái dương kẹp ở giữa vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn.

.Thuyền

 Chủ điểm của tang trống là 6 hình thuyền, trên mỗi thuyền có 4 người ngồi khom lưng.

Ở đây chỉ xin nói tới các điểm biểu tượng chính yếu của thuyền trên Miếu Môn I khác với các thuyền ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Rất tiếc chỉ có hình vẽ chi tiết hình hai con thuyền nên bốn thuyền còn lại không biết như thế nào. Nhìn tổng quát, sự trình bày ít tinh vi và ít phức tạp hơn vì là trống muộn.

Thuyền trên Trống Miếu Môn I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Thuyền không còn là thuyền phán xét linh hồn nữa nhưng vẫn mang ý nghĩa Vũ Trụ giáo được diễn tả bằng một cách đơn giản hóa và nghiêng theo duy dương. Mũi thuyền diễn tả sự kết hợp linh thú rắn nước âm-chim lửa dương. Hàm trên biến thành chim dương mỏ rìu cắt lửa, chim Việt (trong khi ở trống Ngọc Lũ I, cực dương là một con chim rìu riêng rẽ lao vào miệng linh thú rắn nước) (xem dưới).

Đuôi thuyền vẫn là dạng kết hợp thiếu âm bổ nông và thiếu dương bồ cắt (xem dưới).

Hai chiếc thuyền ở đây, một thuyền có hai chim đứng ở đầu mũi và đuôi thuyền cho biết thuyền biểu tượng cho một  nhánh hai tộc và chiếc thuyền kia chỉ có một con chim đứng ở đuôi thuyền tức biểu tượng cho một tộc âm ứng với  tứ tượng.  Tộc âm vì chim nhìn theo hướng âm tức theo chiều kim đồng hồ.

Chiếc thuyền thứ nhất biểu tượng cho tộc hay đại tộc Càn.

Mũi Thuyền

 

Hình thuyền trên Trống Miếu Môn I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Mũi thuyền hình đầu Rắn Nước Chấn đang há miệng tương tự như ở mũi thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Hàm trên biến thành chim dương mỏ rìu rất lớn, hết sức cường điệu, mang dương tính cực đại tức thuần dương, siêu dương ứng với Càn.

Mũi thuyền lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương, thái âm Chim-Rắn, Tiên Rồng ở dạng nhất thể riêng biệt (hòa hợp thành một với hai cá thể thái dương và thái âm còn riêng biệt). Hàm trên chim rìu lửa có mũ sừng Càn cho biết là thuyền đại tộc hay tộc Càn.

Trong hai phần mỏ chim có đánh dấu các chấm nọc có nghĩa là nọc, dương, lửa, thái dương. Đầu có mũ sừng có chấm nọc, dương, lửa và có con mắt dương vòng tròn có chấm. Chim mang hình ảnh chim mỏ cắt lửa lớn (Great Hornbill Buceros bicornis) mang tính siêu dương lửa thái dương Càn vũ trụ. Mũi thuyền diễn tả sự lưỡng hợp ở cõi đại vũ trụ tức thái âm nước Rắn Chấn với thái dương lửa Chim mỏ cắt lớn Càn. Đây là thuyền đại tộc hay tộc Càn.

Ở đây khác với ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Ở trên trống đồng Ngọc Lũ I chim và Rắn còn là hai thực thể riêng rẽ. Chim rìu mỏ cắt lao vào miệng Rắn nước ở đầu thuyền diễn tả lưỡng hợp Chim-Rắn, theo dạng hai cá thể riêng rẽ. Ở trống Trống Miếu Môn I này chim và rắn ở dạng nhất thể hòa hợp lại thành một cá thể là đầu thuyền rắn-chim nhưng vẫn còn giữ nguyên dạng thiên nhiên chim-rắn. Đây là dạng nhất thể riêng biệt (với hai cá thể thái dương và thái âm còn riêng biệt). Trường hợp nhất thể này là dạng tiền thân của dạng đầu thuyền nhất thể tiến xa hơn nữa ở dạng rắn có bờm chim như thấy ở trống Quảng Xương, Hữu Chung. Dạng Chim-Rắn, Tiên Rồng nhất thể rắn bờm chim sau này chính là dạng Rắn Lông Chim Quetzal-Coatl của Mễ và Kukulcan của Maya (nên biết là Mễ và Maya có gốc từ ven biển Đông Nam Á qua Trung Mỹ và Maya có DNA giống như cổ Việt ở Đông Nam Á).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây làn thuyền Càn Viêm Đế ở cõi tạo hóa hay  Càn Đế Minh ở cõi thế gian. Thuyền ở dạng Càn Khôn Chim-Rắn, Tiên Rồng nhất thể.

Ở đầu thuyền này có con chim cuốc họ nhà gà trĩ mang dương tính. Chim đứng quay về chiều dương âm tay phải mang tính dương, thai của dương tức thái dương Càn cho biết thuyền này là thuyền Càn.

Thân thuyền

Phần thân thuyền ở cổ rắn có ba từ chấm-vòng tròn là ba dương sinh tạo có một nghĩa Càn. Ở sát đuôi chỉ có một từ chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu dương Li. Thần thuyền cho thấy thuyền là thuyền càn Li.

Thân thuyền có 6 hình giống chiếc nơ (bow) đặc đen. Số 6 là số Tốn âm thái dương tức Càn âm tương đồng bản thể thái dương với dương thái dương Càn.

Đuôi thuyền

Đuôi thuyền có hình đầu chim có bờm gió và có con mắt dương diễn tả chim bổ nông gió thiếu âm Đoài. Ngay phía sau là đầu chim rìu cắt có con mắt âm từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm. Đây là con cắt thiếu dương  (âm của dương) cắt đất. Ở đây cũng có dạng lưỡng hợp thiếu âm bổ nông với thiếu dương bồ cắt giống như ở trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Người Trên Thuyền

Tất cả các người đều trần truồng cho thấy thuộc Khôn Chấn-Đoài.

Thuyền 1 có 4 người.

-Người thuyền trưởng

Người này ngồi trong miệng rắn-chim có trang phục đầu phía trước sừng cong âm thái dương. Phần tóc sau gáy có ba nọc que Càn. Tay cầm rìu đầu chim Rìu dao có mấu như ngọn lửa Càn.

-Người thứ 2 chèo thuyền.

Sau người thuyền trưởng là người thứ 2 chèo thuyền.

Phần sau cánh của trang phục đầu hình cánh chim gióp Đoài vũ trụ khí gió. Trong có từ chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió.

Người này là người tộc Đoài vũ trụ khí gió.

-Người thứ 3 chèo thuyền.

Phần cánh trang phục đầu có hình cánh chim nọc mũi mác có một nghĩa thái dương Li.  trong có từ vòng tròn-chấm có một nghĩa thiếu dương Li. Người này là tộc Li.

-Người thứ 4 chèo thuyền.

Phần cánh trang phục đầu có hình cánh nhỏ mang âm tính và hình hộp không gian diễn tả cánh Chấn Khôn âm nước. Người này là tộc Chấn.

Như thế người thuyền trưởng Càn có hai khuôn mặt. Một là đại diện cho đại tộc Càn, hai là biểu tượng cho tộc Càn.  Như thế 4 người ứng với tứ tượng của đại tộc Càn. Ta nghiêng về đại tộc hơn. Tuy nhiên phải có đủ hình vẽ chi tiết tất cả 6 con thuyền mới biết chắc được.

Đầu thuyền diễn tả dạng lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương lửa vũ trụ Càn với thái âm nước Chấn dưới dạng nhất thể và đuôi thuyền dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu âm gió Đoài với thiếu dương lửa đất Li.

-Chiếc thuyền thứ hai biểu tượng tộc hay đại tộc Li.

Chiếc thuyền thứ hai chỉ có một con chim đứng dưới nước ở đuôi thuyền.

thuyen Li

Hình thuyền 2 trên Trống Miếu Môn I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Mũi thuyền lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương, thái âm Chim-Rắn, Tiên Rồng ở dạng nhất thể riêng biệt). Hàm trên chim rìu lửa KHÔNG có mũ sừng là con bổ nông đất Li cho biết là thuyền đại tộc hay tộc Li.

Mũi thuyền

Mũi thuyền cũng ở nhật lưỡng hợp nhất thể rắn nước với chim rìu lửa là hàm trên của miệng rắn.

Tuy nhiên chim ở đây có mỏ rìu là chim rìu nhưng không có mũ sừng nghĩa là mang âm tính. Âm của dương là thiếu dương Li. Đây là con chim rìu bồ cắt Li.

Ngược với thuyền số 1 Càn ở trên, ở đuôi thuyền này có con chim cuốc họ nhà gà trĩ mang dương tính. Chim đứng quay về chiều âm tay trái mang tính âm của dương tức thiếu dương Li cho biết thuyền này là thuyền Li.

Thân thuyền.

Ở thân thuyền có ba hình  chiếc “nơ”. Số 3 là số Đoài vũ trụ khí gió. thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió lưỡng hợp với thiếu dương Li.

Đuôi thuyền

Có hình đầu chim có bờm và có con mắt dương bổ nông gió Đoài. Ở đây con mắt chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu âm Đoài nối với từ vòng tròn-chấm có một nghĩa thiếu dương Li. Tiếp tuyến diễn tả lưỡng hợp. Ta có Li lưỡng hợp với Đoài.

Ngay phía sau mũi thuyền là đầu chim rìu cắt có con mắt âm từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm. Đây là con bồ cắt thiếu dương  (âm của dương) cắt đất Li. Ở đây cũng có dạng lưỡng hợp thiếu âm bổ nông với thiếu dương bồ cắt giống như ở trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Người Trên Thuyền

-Người thuyền trưởng

Người này ngồi trong miện rắn-chim có búi tóc sau gáy hình rìu Li. Tay cầm rìu chim mũ sừng có sừng hình sừng hươu Li. Đây là người tộc hay đại tộc Li.

-Người thứ 2 chèo thuyền.

Sau người thuyền trưởng là người thứ 2 chèo thuyền.

Trang phục đầu phía trước sừng cong âm thái dương. Phần sau cánh nhọn nọc mũi mác có một nghĩa dương thái dương Càn. Người này là người tộc Càn.

-Người thứ 3 chèo thuyền.

Phần cánh trang phục đầu có hình cánh chim bằng đầu diễn tả cánh gió Đoài vũ trụ khí gió. Người này là tộc Đoài vũ trụ khí gió.

-Người thứ 4 chèo thuyền.

Phần cánh trang phục đầu có hình cánh nhỏ mang âm tính và hình hộp không gian diễn tả cánh Chấn Khôn âm nước. Người này là tộc Chấn.

Như thế người thuyền trưởng Li có hai khuôn mặt. Một là đại diện cho đại tộc Li hai là biểu tượng cho tộc Li.  Như thế 4 người ứng với tứ tượng của đại tộc Li. Ta nghiêng về đại tộc hơn. Tuy nhiên như đã nói ở trên phải có đủ hình vẽ chi tiết tất cả 6 con thuyền mới biết chắc được.

Tóm lại

Thuyền không còn là thuyền phán xét linh hồn nữa nhưng vẫn mang ý nghĩa Vũ Trụ giáo bằng một cách đơn giản hóa và nghiêng theo duy dương. Mũi thuyền diễn tả lưỡng hợp đại vũ trụ Chim-Rắn, Tiên Rồng ở dưới dạng nhất thể, đuôi thuyền ở dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ bổ nông-bồ cắt.

C. HẠ THẾ

Chân trống còn giữ được chính thống vì không có trang trí,

 (còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: