NHÓM TRỐNG THÁI DƯƠNG: TRỐNG TỘC CHẤN LANG MANG MIẾU MÔN I (phần 1).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

*Đang nhuận sắc lại.

NHÓM TRỐNG THÁI DƯƠNG. 

TRỐNG MIẾU MÔN I, TRỐNG ĐẠI TỘC CHẤN THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP ĐOÀI-CÀN THẾ GIAN LANG-MANG/LẠC VIỆT THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP LANG VIỆT-MANG VIỆT THÁI DƯƠNG CỦA NGÀNH NGƯỜI VIỆT MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG.  

 (phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

NHÓM TRỐNG MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG CÀN NGỌC LŨ I. 

 

Xin nhắc lại:

.Phân loại trống theo vũ trụ tạo sinh.

Như đã biết Trống Đồng Nòng Nọc (Âm Dương) của đại tộc Đông Sơn là trống biểu mặt trời thái dương, của người mặt trời ứng với Người Việt Mặt Trời Thái Dương đại tộc mặt trời, là trống biểu của Vua Mặt Trời Hùng Vương dòng mặt trời Viêm Đế-Thần Nông thái dương. 

Phân loại theo vũ trụ tạo sinh dựa theo tính nòng nọc (âm dương) của mặt trời. Như đã biết trống đồng là trống nòng nọc (âm dương) nên theo chính thống mặt trời có khối sáng (solar mass) là  dương diễn tả bằng số dương và nọc tia diễn tả bằng là số âm. Gộp lại theo nòng nọc (âm dương) là khối sáng mặt trời dương là số 1 cộng với số tia sáng âm cho ra tính nòng nọc (âm dương) của cả mặt trời, của trống. Ví dụ trống Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng mũi mác có khối sáng mặt trời là 1 + 14 nọc tia sáng = 15. Số 15 là số Càn tầng 2 thế gian. Trống Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống Càn thế gian.

Như thế có ít nhất bốn nhóm trống ứng với tứ tượng: 

1- Nhóm trống mặt trời thái dương Càn là nhóm trống có mặt trời có số nọc tia sáng là số Tốn (gồm số 6, 14, số 22). Quẻ Tốn OII là âm O thái dương II, tương đồng bản thể với  Càn III (dương  I thái dương I)I.  Tốn hôn phối với Càn thấy rõ trong Hậu Thiên bát quái.

Như thế  trống  có mặt trời  có nọc tia sáng số Tốn là trống thuộc nhóm trống Mặt Trời Thái Dương Càn-Tốn. Càn có hai khuôn mặt: Càn vũ trụ, Càn Trời là lửa thái dương cõi trên ứng với cực dương hôn phối Khôn là Càn Khôn thấy trong Tiên Thiên bát quái và Càn thế gian, Càn Đất ứng với cõi tứ tượng có thêm một khuôn mặt là tượng lửa hôn phối với Tốn là Càn Tốn như vừa  nói ở trên thấy trong Hậu Thiên bát quái. Hai khuôn mặt Càn này thấy rõ qua Đế Minh. Tước hiệu có từ  Đế cho biết có một khuôn mặt là Càn vũ trụ cùng vai vế với các thần tổ Đế ở cõi tạo hóa. Càn tạo hóa Đế Minh đội lốt Càn tạo hóa Viêm Đế. Nhưng từ Đế lại để trước Minh (Đế Minh) thay vì để sau như Viêm Đế nói cho biết Đế Minh còn có một khuôn mặt Càn thế gian ứng với tượng Lửa thái dương ở tầng tứ tượng thế gian cùng vai vế với các vua (vương, quân) như Kì Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Lang Vương ứng với tứ tượng. Vì thế ở cõi thế gian Càn Đế Minh có một khuôn mặt của một vị ‘thần làm vì’ (Idle god), một vị thần đả qui ẩn (hidden), được thay thế bằng một vị thần con trẻ trung, năng hoạt hơn gọi là Deus otiosus. ví dụ điển hình là Li Kì Dương Vương với khuôn mặt trục thế giới, trụ lửa (như Shiva) có một khuôn mặt đội lốt, thừa hành Càn tạo hóa Đế Minh. Như thế Càn thế gian, Càn Đất có một khuôn mặt là Li trụ trời,  là Càn Đất thế gian.

Tóm lại nhóm  trống  thái dương Càn có hai khuôn mặt: Càn dương hay dương thái dương (Càn đi với số dương, lẻ, dương thái dương như 7, 15, 23) là Càn Khôn và Càn âm hay âm thái dương (Càn đi với số chẵn âm thái dương Tốn như 6, 14, 22) là Càn Tốn.

Trống Càn-Tốn thấy nhiều nhất là trống Tốn tầng 2 thế gian 14 nọc tia sáng mũi mác. Còn trống Càn tốn vũ trụ 6 nọc tia sáng mũi mác và trống Càn Tốn hạ thế mặt trời 22 nọc tia sáng mũi mác rất hiếm thấy.

Trống tiêu biểu của nhóm trống thái dương này là trống Ngọc Lũ I, trống biểu tộc Càn Tốn thế gian. 

2- Nhóm trống mặt trời thái âm có mặt trời có số nọc tia sáng Khôn (0, 8, 16). Trống đồng biểu tượng cho phía nọc, dương, trống (đực) ngành thái dương nên theo chính thống không có mặt trời đĩa tròn âm có số nọc là số Khôn 0 mà chỉ có mặt trời có số nọc thường thấy là 8 và 16. Do đó, như đã biết số 8 Khôn thế gian trên trống đồng nòng nọc (âm dương) có một khuôn mặt đội lốt hay tương đương với số 0 cõi tạo hóa. Trong trường hợp này trống có mặt trời 8 nọc tia sáng mũi mác có một khuôn mặt là 1 + 0 = 1,  là trống nhất thể , vũ trụ, tạo hóa như trống Quảng Xương. Còn trống có mặt trời có 16 nọc tia sáng mũi mác là mặt trời 16 + 1 = 17, Chấn thế gian như trống Hoàng Hạ.   

3- Nhóm trống mặt trời thiếu dương Li có số nọc tia sáng mũi mác là số Cấn (4, 12, 20) nhiều nhất là loại 12 nọc tia sáng tức 1 + 12 = 13. Số 13 là số Li thiếu dương  như trống Khai Hóa, Hòa Bình…

4- Nhóm trống mặt trời thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió có mặt trời có số nọc tia sáng mũi mác Khảm (2, 10, 18) nhiếu nhất là loại 10 nọc tia sáng tức 1 + 10 = 11. Số 11 là số Đoài vũ trụ khí gió tầng 2.

Mỗi nhóm trống này có riêng đủ các loại trống biểu tượng cho ngành, nhánh, đại tộc, tộc người ứng với các giai kỳ trong vũ trụ tạo sinh của họ mặt trời nọc thái dương gồm có hai  ngành: ngành mặt trời nọc thái dương có tia sáng nọc mũi mác ứng với Nọc Việt và ngành mặt trời nòng thái dương có mặt trời ánh sáng là nòng vòng sáng (như trống Đào Xá) ứng với Nòng Việt. Ngành mặt trời nọc thái dương Nọc Việt lại chia ra: 1. nhánh mặt trời dương thái dương (nọc dương thái dương ) diễn tả bằng hai vành nọc mũi mác có một nghĩa là dương  thái dương, nọc thái dương ở ngoài biên trống 2. mặt trời nọc âm thái diễn tả bằng hai vành nọc bằng đầu mang âm tính hình thanh thang hay thanh ngang đường rầy hiện gọi là răng lược có một nghĩa là nọc âm thái dương ở ngoài biên trống.

.Trống nhóm thái dương diễn tả trọn vẹn tất cả các khuôn mặt ứng với các giai kỳ của vũ trụ tạo sinh gồm trống biểu của ngành, nhánh, đại tộc, tộc của tượng thái dương dưới dạng liên tộc (kết hợi, liên minh hai hay nhiều tộc), lưỡng hợp (nòng nọc (âm dương). Loại trống này có khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái tứ tượng, lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) hay đơn thuần chỉ là trống biểu của một tộc duy nhất mà thôi. Loại trống này có khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất.

Nhóm Trống Mặt Trời  Thế Thái Dương gồm có:

. Nhóm trống Càn vũ trụ có mặt trời có số nọc tia sáng mũi mác bằng hay dưới 7 (Số 7 là số Càn).

. Nhóm trống Càn thế gian có mặt trời có số nọc tia sáng mũi mác bằng hay lớn hơn 14.

. Nhánh nọc dương thái dương.

Nhóm trống Mặt Trời Thế Gian thái dương 14 nọc tia sáng có hai vành nọc mũi mác nọc dương thái dương ở biên trống.

Ví dụ trống Ngọc Lũ I, Sông Đà, Miếu Môn I, Sơn Tây, Phú Xuyên…

. Nhánh nọc âm thái dương

Nhóm trống Mặt Trời Thế Gian thái dương 14 nọc tia sáng có hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống. Nhánh này có hai nhóm phụ:

. Phụ nhóm trống biểu Tộc người hay Vũ Trụ Thuyết (không có tượng cóc/ếch).

Ví dụ  trống Cổ Loai I.

.Phụ nhóm trống Sấm có tượng cóc/ếch.

ví dụ trống Nông Cống.

……

*

TRỐNG MIẾU MÔN I.

 Trống Miếu Môn I (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những Mấu Chốt (Clues).

.Như đã nói ở trên trống Miếu Môn I là trống thuộc nhóm trống thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng mũi mác cùng nhóm với trống Ngọc Lũ I. Tuy nhiên hai trống khác nhau ở chỗ trống Miếu Môn I là trống biểu của một đại tộc Chấn duy nhất thấy qua vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương, Chấn ở ngoài biên trống. Trong khi trống Ngọc Lũ I là trống biểu ngành Càn gồm hai ngành phụ:  ngành phụ dương là Càn dương, Càn Khôn có hai đại tộc Càn và Li và ngành phụ âm là Càn âm, Càn Tốn, có hai đại tộc Chấn và Đoài. Về phía Càn Li thì Li mang tính chủ và về phía Chấn Đoài thì Đoài mang tính chủ vì là trống thế gian. Vì thế ở ngoài biên trống Ngọc Lũ I có hai vành: vành vòng tròn-chấm thiếu dương Li, đại tộc Li lưỡng hợp với vành chấm-vòng tròn thiếu âm Đoài, đại tộc Đoài ở dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ thế gian. Trống Miếu Môn I là trống biểu đại tốc Chấn tương ứng với đại tộc Chấn của ngành phụ Chấn Đoài đối ngược tính nòng nọc (âm dương) với đại tộc Càn của trống Ngọc Lũ I.   

Ta có:

Trống Miếu Môn I trống biểu đại tộc Chấn thái dương nhóm trống thái dương có tính nòng nọc (âm dương) đối ngược với đại tộc Càn của trống Ngọc Lũ I.  Đây là dạng đối tượng (tượng Chấn và tượng Càn ở tầng tứ tượng) khác với dạng đối cực (cực dương Càn với cực âm Khôn ở tầng lưỡng nghi ngành thái dương) như thấy ở trống Ngọc Lũ I là trống biểu ngành Càn với trống Hoàng Hạ là trống biểu ngành Khôn thái dương.

.Điểm đặc biệt cần chú ý NHẤT là trống này có vành chủ yếu nằm gần sát mặt trời là vành thú bốn chân có hai loại thú khác nhau, trong khi ở trống Phú Xuyên vành chủ yếu chỉ có một loài thú là Hươu Việt. Sự hiện diện của hai loài thú bốn chân cho thấy trống có hai khuôn mặt khác nhau của hai tộc, tức liên tộc thế gian. Vì nằm cùng một vành trên trống đống nòng nọc, âm dương thì hai loài thú này phải có một khuôn mặt lưỡng hợp nòng nọc, âm dương với nhau. Trống này là trống thế gian (mặt trời có số nọc tia sáng lơn hơn 7) và hai con thú có bốn chân sống trên mặt đất thế gian nên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương của hai loài thú này là dạng lưỡng hợp thế gian tức ở cõi tiểu vũ trụ, nói một cách khác là dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu dương Li lửa thế gian Hươu Li với thiếu âm Đoài bầu trời thế gian Lang Trời Đoài.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là trống liên tộc Lang Mang. 

.Hươu đực nai cái.

Trống Miếu Môn I có hình hươu nai giống hệt như hình hươu nai trên trống Ngọc Lũ I.  Trong các trống tìm thấy ở Việt Nam đây là hai trống duy nhất có hình hươu nai loại này giống nhau. Tại sao? Bởi vì hai trống cùng nhóm trống thái dương như nhau và trống đại tộc Chấn Miếu Môn I tương ứng với đại tộc Chấn của trống Ngọc Lũ I. Như đã biết ở trống Ngọc Lũ I hươu đực biểu tượng Li mang tính chủ và nai cái biểu tượng Càn âm, Càn Tốn (thú biểu của Nàng Lửa, Nữ Thần Mặt Trời Âu Cơ). Như thế ở đây cũng vậy.

.Cò Nang

Trống này có vành cò có túi thái dương tam giác dưới mỏ hiện thường cho là tha mồi hay “chim đói” (“insatiable birds”). Túi, bọc nòng O biểu tượng Khôn, không gian. Khôn dương là thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió và Khôn âm thái âm nước Chấn ngành thái dương. Từ nòng nọc vòng tròn-que tam giác do ba nọc que, Càn ghép lại nên túi tam giác có một khuôn mặt là túi mang tính thái dương, Khôn Càn, Khôn thái dương, Khôn dương ngành thái dương. 

Như đã biết ở trống Ngọc Lũ I hình vẽ 5 con chim ở vòng 18 chim đứng có hai con chim nang:

Chim nang nước thái âm Chấn: 

sao den

Chim nang nước.

Con chim này lưng hình sóng nước nên túi mang âm tính Khôn âm, nước. Trong túi có dấu chấm-vòng tròn có một nghĩa là  dương. Chim mang ý nghĩa nước dương, Chấn. Hình cò đi kèm với con chim này có bờm hình sóng nước dương xác thực chim này là chim bồ nông nước thái dương, chim biểu của tộc Chấn, Lạc Việt dòng Mặt Trời Nước Lạc Long Quân.

Chim  nang Gió thiếu âm Đoài.

tu hu 2

Chim nang thiếu âm Gió.

Lưng chim hình sóng dạng sin (sinusoid wave) diễn tả gió. Đuôi hình quạt biểu tượng cho gió. Đây là con nang Khôn dương thiếu âm gió, chim biểu của Đoài vũ trụ khí gió, Lang Việt dòng Hùng Lang.

Như thế ở đây ta suy ra ngay 16 con cò bay là cò Nang. Con đực trong túi nang có dấu chấm-vòng tròn có một nghĩa dương là con nang dương, Khôn dương Đoài vũ trụ khí gió và con cái trong túi nang không có dấu chấm-vòng tròn nhưng trong bờm có hình sóng nước là con nang Khôn âm, Chấn thái dương (xem dưới).

Vành này cho biết trống có một khuôn mặt nòng âm Khôn Đoài Chấn.

Sự hiện diện của hươu đực, nai cái và chim nang, cò nang trên hai trống cho thấy hai trống này là ‘cha con’ với nhau và trống đại tộc Chấn Miếu Môn I là hình ảnh đại tộc Chấn ở trống Ngọc Lũ I.

.Thú Nang Lang Sói.

Đi với hươu nái có con thú mà hiện nay gọi là ‘con thú lạ’. Đây là con thú dưới cổ cũng có túi nang tam giác như cò. Đây là thú nang. Ta suy ra ngay con đực trong túi có dấu chấm-vòng tròn dương là con nang Khôn dương khí gió Đoài vũ trụ khí gió và con cái là con nang Khôn âm Chấn. Đây chính là con Lang sói, Lang Trời, Thiên Cẩu (L là dang dương của N, Tiếng Việt Huyền Diệu).   

Như thế cò Nang là cò Đoài Chấn và thú nang cũng là Lang Trời Đoài Chấn 

 Miếu Môn I là trống lưỡng hợp Lang Mang với khuôn mặt Lang Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ (vì là trống đại tộc Chấn phía nòng Khôn Chấn Đoài).

Tóm lại: 

Miếu Môn I là trống biểu tượng đại tộc Chấn/Lạc Long Quân gồm hai tộc: tộc Đoài/Lang Việt và tộc Li/Kì Việt thế gian nhánh mặt trời thái dương/ngành Người Việt Mặt Trời Thái Dương, Viêm Việt với khuôn mặt Lang Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ.

*

 Tổng quát

 Trống Trống Miếu Môn I tìm thấy ở Miếu Môn, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Sơn Bình năm 1961.

.Trống nọc, dương thái dương.

Trên mặt trống có vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) và các vành giới hạn có chấm nọc dương xác thự trống mang tính dương, thái dương.

Đại tộc nước thái dương

Vòng tròn  vỏ không gian hay vỏ Trứng Vũ Trụ rất dầy, đậm nét mang âm tính nghiêng về phía thái âm nước, Chấn.

Ở vùng đất thế gian và ngoài biên trống có sự hiện diện của các vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn.

Như thế trống này là trống đại tộc nước thái dương Chấn nhóm trống thái dương.

Chấn có một khuôn mặt lưỡng hợp với Càn dưới dạng lưỡng hợp  thái âm thái dương ngành thái dương thấy rõ qua  truyền thuyết và cổ sử Việt: Chấn Lạc Long Quân hôn phối với Âu Cơ Tốn (âm thái dương, Càn âm). Chấn mặt trời hoàng hôn phối Âu Cơ mặt trời nữ tinh mơ.

Trống thuộc họ, ngành, nhánh, hình dạng nấm vũ trụ giống trống Ngọc Lũ I. 

1.  Mặt trống.

Nhìn tổng thể, trống “mát dịu” vì có nhiều các yếu tố âm trên mặt trống như đã nói ở trên là vỏ không gian hay vỏ Trứng Vũ Trụ rất dầy, đậm nét mang âm tính nghiêng về phía thái âm nước. Ở vùng đất thế gian và ngoài biên trống có sự hiện diện của các vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn.

Tính mát dịu này cho biết trống thuộc ngành mặt trời thái dương phía nòng âm, mặt trời chiều, hoàng hôn, mặt trời Nước ngành Lạc Long Quân mang tính chủ.

 Cõi Trên, Thượng Thế.

 Thượng Thế, theo nguyên tắc, là phần ở tâm trống biểu tượng cho cõi trên chiếu xuống tâm trống hay là phần cõi trên đập dẹp xuống để làm mặt trống. Trống này có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống thế gian nên tâm trống cũng mang một khuôn mặt cõi trên tức bầu trời của thế gian. Như thế phần tâm trống có thể coi như là mang hai khuôn mặt: một là cõi trên càn khôn, vũ trụ (đại vũ trụ, tạo hóa) chiếu xuống, hai là khuôn mặt cõi trên bầu trời thế gian (tiểu vũ trụ, cõi nhân sinh). Tâm trống ở đây có vỏ hư vô là vòng tròn bao quanh đầu tia nọc ánh sáng mặt trời. Vỏ không gian rất to nét, đậm nét mang tính thái âm, nước của ngành nọc âm thái dương Chấn, ứng với Chấn Lạc Long Quân thuộc ngành Thần Nông thái dương.

Cõi trên Thượng Thế lại chia ra bốn tầng: hư vô, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng/tứ hành.

a. Hư vô.

 

Như đã nói ở trên vòng tròn bao quanh đầu tia sáng là vỏ không gian diễn tả bằng vòng tròn rất to, đậm nét mang tính thái âm ngả về Khôn âm biểu tượng cho hư vô, vô cực tiến hóa về thái âm, Biển Vũ Trụ trước.

b. Thái Cực: bọc Trứng Vũ Trụ.

Gồm mặt trời 14 nọc tia sáng và không gian. Không gian ở đây được  diễn tả bằng các khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có hình thái Tứ Tượng (hiện nay gọi lầm là ‘họa tiết lông công’) giống như ở trống Ngọc Lũ I. Hình thái tứ tượng này cho biết trống có một khuôn mặt sinh tạo tức có khuôn mặt lưỡng hợp của hai nhánh nòng nọc, âm dương sinh ra bốn tộc ứng với tứ tượng.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, bọc trứng thế gian Lang Hùng đội lốt bọc Trứng Vũ Trụ  Viêm Đế-Thần Nông có khuôn mặt sinh tạo mang tính lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng sinh ra bốn tộc ứng với Càn Đế Minh, Li Kì Dương Vương, Chấn Lạc Long Quân và Đoài Hùng Lang của ngành mặt trời thái dương Viêm Đế-Thần Nông thái dương.

b. Lưỡng nghi:

-Cực dương:

Mặt trời thuộc họ mặt trời rạng ngời, ngành nọc chói chang, đại tộc thái dương có  14 nọc tia sáng Tốn Càn giống trống Ngọc Lũ I thấy trong Hậu Thiên bát quái.

-Cực âm:

.Không gian

 Cực âm là không gian chứa mặt trời. Như đã nói vỏ không gian (cùng chung với vỏ Trứng Vũ Trụ) ở đây là một vòng tròn to, dầy, đậm nét mang tính thái âm. Vỏ này cho biết bọc hư không, không gian, Trứng Vũ Trụ có một khuôn mặt mang tính thái âm.

Bản chất không gian thường được diễn tả bởi các hình thái ở các khoảng không gian giữa các tia sáng. Ở đây khoảng không gian có hình thái tứ tượng giống như ở trống đồng nòng nọc (âm dương) Ngọc Lũ I.

c- Những Vành Sinh Tạo

Trống có những vành sinh tạo ứng với tứ hành giống hệt như ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

 Những vành sinh động tứ hành trên trống Trống Miếu Môn I.

 B. Cõi Giữa, Trung Thế.

Trung Thế là cõi giữa nhân thế gồm có vùng đất và vùng nước. Vùng đất là phần mặt trống còn lại và vùng nước là tang trống.

-Vùng Đất.

a. Đất dương

.Vành thú bốn chân

Trống này có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống thế gian nên có vành chủ chốt nằm gần phía mặt trời là vành diễn tả hai loài thú bốn chân sống được trên mặt đất. Một loài thấy rất rõ là mang gạc hươu sừng và một loài “thú lạ”.

Hai loài thú bốn chân trên Trống Miếu Môn I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 Với hai loài thú bốn chân ở cùng một vành cho biết là trống có một khuôn mặt liên tộc của đại tộc, một nhánh, một ngành. 

Hai loài thú này ở cùng trên vành số 6 tức số Tốn tầng 1 vũ trụ âm thái dương cũng cho biết hai loài thú này mang tính thái dương chủ tức có một khuôn mặt là mang trời và ‘thú lạ’ lang trời (xem dưới) mặc dù là trống thế gian. Ta cũng thấy rõ qua số 16 con. Số 16 là số Khôn tầng 2 có một khuôn mặt hôn phối với Càn thế gian và qua dấu (accent) nọc mũi mác > thái dương ở mõm các con vật. Rõ như ban ngày hai loài thú có một khuôn mặt thái dương mặc dù là thú bốn chân sống trên mặt đất (vì các loài thú này mang tính biểu tượng tín ngưỡng. Con Lang trời đã ở dạng bắt đầu thần thoại hóa).

Lưu Ý.

Xin nhắc lại theo đúng nguyên tắc hươu là thú bốn chân có một khuôn mặt chủ biểu tượng cho đất thế gian, lửa đất thế gian Li. Nhưng trong truyền thuyết, thần thoại, tín ngưỡng hươu cũng là thú biểu tượng cho lửa thái dương Càn. Như đã biết trong thực tế con cái gọi là nai không có sừng (ngoại trừ loài tuần lộc, reindeer, những con nai cái ở đây không phải là loài tuần lộc vì sừng chỉ có ba mấu nhọn, trong khi tuần lộc sừng có nhiều mấu nhọn). Nhưng trong truyền thuyết, thần thoại tín ngưỡng vẫn diễn tả nai cái có sừng như thấy ở trống Ngọc Lũ I và ở trống Miếu Môn I này.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử việt, ta thấy rõ qua lá cờ hình nai sao cái  có sừng biểu tượng cho bà Ngu Cơ (Âu Cơ) của người Mường dùng trong tế lễ:

  Nai Sao cái có sừng biểu tượng cho Ngu Cơ của người Mường (nguồn, J. Cuisinier, Les Mường).

 Lưu ý nai  sao Ngu Cơ Mường sừng có 4 mấu nhọn. Số 4 là số chẵn, số âm và cũng là số Cấn, Non (núi âm), bản thể thế gian của Ngu Cơ, Âu Cơ dẫn năm mươi con lên non. Âu Cơ, Ngu Cơ cũng có bàn thể là Nàng O Lửa II tức quẻ Tốn OII có một khuôn mặt là âm (O), Thái dương (II) tức thái dương thần nữ của Việt Mường nên có biểu tượng là con nai sao có sừng mang tính thái dương.

a. Hươu Nai.

Nhắc lại mấu chốt:

Trống Miếu Môn I có hình hươu nai giống hệt như hình hươu nai trên trống Ngọc Lũ I.  Trong các trống tìm thấy ở Việt Nam đây là hai trống duy nhất có hình hươu nai loại này giống nhau. Tại sao? Bởi vì hai trống cùng nhóm trống thái dương như nhau và trống đại tộc Chấn Miếu Môn I tương ứng với đại tộc Chấn của trống Ngọc Lũ I. Như đã biết ở trống Ngọc Lũ I hươu đực biểu tượng Li mang tính chủ và nai cái biểu tượng Càn âm, Càn Tốn (thú biểu của Nàng Lửa, Nữ Thần Mặt Trời Âu Cơ). Như thế ở đây cũng vậy ngược lại.

Trong 8 con ở hình vẽ của Nguyễn Văn Huyên có nhiều nai cái hơn.

Những con hươu nai trên Trống Miếu Môn I có nhiều nai cái hơn (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Ở Phạm Huy Thông và các  hươu đực và nai cái đi xen kẽ với nhau ở cả hai nhóm.

MIEU MON I THUONG THE

Những hươu nai trên Miếu Môn I hươu đực đi xen kẽ với nai cái (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Đối chiếu với hươu nai ở trống Ngọc Lũ I các con đực cái cũng xen kẽ với nhau. Như thế đực cái xen kẽ có lẽ hợp lý hơn.

-Bán viên Nai cái dẫn dầu.

Ở hình vẽ mặt trống của Phạm Huy Thông một nhóm 4 con có con đực dẫn đầu và một nhóm 4 con có con cái dẫn đầu.

Tổng cộng có 8 con. Số 8 là số Khôn. Nhìn theo bán viên 4 con, số 4 là số Cấn có một khuôn mặt lưỡng hợp với Khôn theo Hậu Thiên Bát Quái. Khôn âm là Chấn lưỡng hợp với CànỞ trống đại tộc Chấn nòng âm Khôn này là Càn âm tức con nai Cái thái dương (Nai Sao Âu Cơ) mang tính chủ. Như vậy bán viên có nai cái dẫn đầu nhóm có khuôn mặt Càn âm mang tính chủ.

-Bá viên Hươu đực dẫn đầu.

Một nhóm có hươu đực dẫn đầu.

Ta thấy ngay nhóm 4 con có con đực dẫn đầu có một khuôn mặt Li ngược với nhóm trên.

(còn nữa).

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: