TRỐNG KÌ VIỆT KÌ DƯƠNG VƯƠNG (phần 3 và hết).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

NHÁNH TRỐNG MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG

NỌC DƯƠNG VIÊM ĐẾ.

Người chim mỏ cắt, chim Việt ngành mặt trời thái dương Nọc Viêm Đế trên trống Quảng Xương.

 

TRỒNG ĐỒNG KÌ VIỆT KÌ DƯƠNG VƯƠNG  PHÚ XUYÊN.

(phần 3 và hết)

Nguyễn Xuân Quang

                                                                                      

Trống Phú Xuyên ((nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

.Vành cò bay

Kế đến là vành có 6 hình cò bay.

Ta đã biết cò có mỏ dài mang dương tính và sống ở bờ nước mang âm tính, tức dương của âm, tức thiếu âm nguyên thể của khí, gió. Vì thế cò là chim biểu tượng cho khí gió (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt  cò bay là chim biểu Cò Lang của Hùng Vương có một khuôn mặt sinh tạo là bầu trời, gió thế gian sinh ra từ bọc trứng thế gian. Cò Lang Gió thuộc đại tộc Cò Gió Bạch Hạc, Phong Châu, Hùng Vương (Chim Lạc Hay Cò Lang?).

Cò bay theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời liên hệ với mặt trời, vua mặt trời (Hùng Vương). Đây là trống mặt trời thái dương thế gian có 14 nọc tia sáng nên cò bay có một khuôn mặt biểu tượng cho lửa thái dương vũ trụ.

Sáu con cò bay với số 6 là số lão âm, âm thái dương, vành cò có 6 con cũng cho thấy trống có một khuôn mặt thái dương.

Bây giờ ta hãy mổ xẻ, giải đọc bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que những con cò trên trống này.

Trước hết có một sự “cọc cạch” “đối ngược” ở đây là trong 6 con cò, có 4 con bay theo chiều âm tức cùng chiều  với kim đồng hồ và hai con bay theo chiều dương tức theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời. Có lẽ đây là một lỗi kỹ thuật. Lỗi này cho thấy trống Phú Xuyên  là một trống hơi muộn.

Cò có mỏ dài rất thẳng mang dương tính nghiêng về cò lửa.

 

Hình cò bay trên trống Phú Xuyên ở giữa cánh có tên viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình tam giác, nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói).

Trong mỏ có đánh dấu hay viết chữ nọc que cho biết cò có một khuôn mặt nọc, dương lửa.

Bờm hình tam giác, nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có một nghĩa nghĩa là nọc, lửa thái dương, Càn, núi tháp nhọn, đất dương Li. Con cò mang tính lửa ngành thái dương Càn Li.Với sự hiện diện của bốn con hươu sủa biểu tượng cho đấ`t thế gian thì bờm cò hình núi tháp nhọn đỉnh diễn tả đất thế gian Li mang tính chủ.

Con mắt cò ở đây có hình thoi <> có cạnh góc mang dương tính nhiều hơn con mắt dương một vòng tròn. Đây là con mắt mang tính dương.

Cò có cánh và thân tạo thành hình chữ T. Từ nọc chữ T cò có khuôn mặt chủ là trụ chống trời, trục thế giới, đất thế gian, nói chung là cò Đất dương thế gian tức Li, Lửa Đất thế gian.

Nhưng mấu chốt chính là tên con cò này viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình đầu mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói), hình tam giác, hình delta, hình núi tháp nhọn ở giữa cánh cò có nghĩa là nọc, dương, phái nam, lửa, thái dương, lửa đất thiếu dương.

Xin nhắc lại chữ tam giác, nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) này đã có từ hàng ngàn năm nay mà ngày nay vẫn còn thấy hàng ngày trước mắt là tấm bảng hiệu hình tam giác chỉ phòng vệ sinh phái nam (nọc, dương, đực…) thường thấy ở Hoa Kỳ và một số quốc gia khác (Hai Chữ Nòng Nọc Còn Thấy Trước Mắt Hàng Ngày).

Bảnh hiệu phòng vệ sinh hình tam giác, nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chỉ phái nam.

Cũng nên biết là tại sao bảng hiệu phòng vệ sinh ở Hoa Kỳ thường dùng hai chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là hình Nònqg vòng tròn chỉ phái nữ và hình Nọc tam giác (nọc mũi tên, mũi mác, răng cưa, răng sói) chỉ nọc phái nam trong khi nhiều quốc gia khác không dùng?

Bảng hiệu phòng vệ sinh hình nọc tam giác để trên hình nòng vòng tròn chỉ phòng vệ sinh nam nữ dùng chung.

Lưu ý ở bảng hiệu bên phải không có chữ và hình người mà chỉ có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình tam giác trên vòng tròn.

Xin thưa các vị lập quốc Hoa Kỳ gồm các bậc trí thức, thức giả, đại tư bản Hoa Kỳ… nằm trong một hiệp hội gọi là FreeMasonry. Hội này dùng nhiều biểu tượng liên hệ với văn hóa Ai Cập cổ như trên tờ giấy một đồng dollar có hình kim tự tháp có con mắt, Đài Tưởng Niệm Washington có hình trụ nọc tia sáng obelik, Điện Capitol hình chuông có cán úp, một biến dạng của hình trái bầu nậm mang nghĩa nòng nọc, âm dương… Trong văn hóa và linh tự Ai Cập cổ còn rất nhiều dấu tích của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  (xem Sự Tương Đồng Giữa Cổ Việt và Ai Cập Cổ).

Trong phong thủy của Trung Hoa liên hệ với Dịch tức liên hệ với chữ viết nòng nọc vòng tròn-que nguyên thủy (Dịch Trung Hoa là Dịch muộn, con cháu của Dịch nòng nọc nguyên thủy), hình tam giác biểu tượng cho lửa Càn.

Trong phong thủy Trung Hoa vòng tròn biểu tượng cho Kim, tam giác cho lửa và hình sóng cho Thủy. Lửa ở đây phải hiểu là lửa thái dương tức lửa Càn vũ trụ.

Phân tích hình tam giác ra ta cũng thấy tam giác do ba nọc que ghép lại (I,I,I) tức quẻ Càn (III), lửa (I), thái dương (II), lửa vũ trụ.

Như thế  tên cò viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình tam giác cho biết con cò có một khuôn mặt là Cò Lửa Vũ Trụ, Cò Lửa Thái Dương, Cò Càn. Tuy nhiên hình tam giác cũng có thể mang hình ảnh núi tháp nhọn mang nghĩa lửa núi thế gian ly. Ở trống này có vành hươu sủa mang tính chủ, nên cò cũng có thể là cò núi, cò Li. Hình tam giác cũng có thể mang nghĩa lửa núi thiếu dương Li.

Xin nhắc lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn tên các loài vật, người và vật thường viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que. Đọc được chữ, được tên là biết được danh tính. Ví dụ cò sấm mưa trên trống Hữu Chung có tên là chữ sấm gầm ở cổ; con sói lang khí gió trên trống Miếu Môn I có tên là chiếc túi âm thanh dương có góc cạnh nhọn ở dưới mỏ (túi dương là không gian dương khí gió, con thú hú,tru là con sói lang); cò lửa Càn trên trống Đông Sơn IV có chữ que nọc ở mỏ [ở trống này Càn viết với chữ nọc tam giác nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) vì ở trống nàydiễn tả tính siêu dương, dương cực độ ăn khớp với khuôn mặt dương cực độ của trống. Ở đây viết đúng ngữ pháp, đúng văn phạm của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que…

Như thế rõ như ban ngày con cò ở trống trống Phú Xuyên  này có tên viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình tam giác là cò Lửa vũ trụ, cò Lửa thái dương, cò Càn hay là cò núi, cò Kì, cò Li. Nếu nhìn theo vành hươu sủa mang tính chủ, bờm núi tháp nhọn Li, thân và cánh hình chữ T có một khuôn mặt biểu tượng co đất dương Li,  ta có thể nghiêng về phía cò núi, cò kì, cò Li.

Xin nhắc lại cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương có nhiều loại cò. Cò trên trống  trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là Cò Lang, không phải là Cò Lạc. Các nhà làm văn hóa Việt Nam hiện nay lấy hình Cò Lang trên trống Ngọc Lũ I  dùng làm logo gọi là Chim Lạc là sai trăm phần trăm.

Như thế  vùng đất dương có hai vành thú chim. Vành thú bốn chân mang gạc, hươu sửa mang tính chủ vì nằm sát mặt trời là thú biểu của cõi đất dương, trần gian, Lửa thế gian Li Trung Thế. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là thú biểu của Kì Dương Vương. Vành cò bay là cò Lửa. Nhìn theo diện Lửa vũ trụ là Càn biểu tượng cho cõi trời, cõi vũ trụ tạo hóa ngành nọc dương. Nhìn theo diện lửa đất thiếu dương là Li.

Trống Phú Xuyên là trống biểu của ngành nọc lửa Càn Li với khuôn mặt Lửa thế gian Li, mặt trời thiên đỉnh trên Trục Thế Giới mang tính chủ.

 Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống biểu của ngành nọc mặt trời thái dương Viêm Đế có khuôn mặt chủ là Kì Dương Vương.

 Đất âm

.Các vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ở biên trống.

Ngoài biên trống có bốn vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (‘hoa văn’) gồm hai vành ở ngoài hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là nọc lửa, thái dương.

Đặc biệt ở trống này trong nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) còn có dấu chấm nọc có mục đích nhấn mạnh đây mang nghĩa lửa, thái dương mang tính nọc sinh tạo cực dương tức liên hệ với Lửa vũ trụ Càn.

Hai vành này kẹp ở giữa hai vành chấm nọc có nghĩa là hai nọc chấm dương, lửa dương, lửa thái dương sinh tạo liên hệ với Càn.

Như thế bốn vành này mang nghĩa nọc lửa thái dương cho biết trống này là trống ngành nọc lửa thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống ngành nọc Việt Viêm Đế.

-Vùng nước

Vùng nước là phần phình tang trống (trông như một vật đựng nước).

Trống trống Phú Xuyên nhìn ngang (Nguyễn Văn Huyên).

Tang trống có những ‘hoa văn’ chữ viết nòng nọc vòng tròn-que gồm 2 vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang nghĩa lửa, thái dương kẹp ở giữa hai vành trống không. Hai vành trống không là hai nòng OO, thái âm, nước. Như thế bốn vành ở tang trống mang nghĩa nước  thái dương.

Chủ điểm của tang trống là hai hình thuyền và hình chim.

.Thuyền

Thuyền ở đây đã cách điệu và vẽ thô sơ, giản dị cho biết trống này là trống hơi muộn.

 Một thuyền có 3 người và một thuyền có 4 người.

-Chiếc thuyền thứ nhất có 3 người.

Nhìn tổng quát thoáng qua ta thấy thuyền có 3 người và một con chim đứng ở đuôi thuyền (số 3 và số 1 là những số lẻ số dương) cho thấy thuyền mang dương tính của ngành nòng Khôn tức có một khuôn mặt  Khôn dương thiếu âm khí gió Đoài.

Thuyền có 3 người với số 3 là số Đoài IIO (nọc, dương I thiếu âm IO, Khôn dương khí gió). Trang phục đầu có phần nọc phía trước dựng đứng hơi nghiêng có phần đầu gió tạt mang nghĩa thái dương của đại tộc gió Đoài và phần sau hình bờm gió tạt. Những người này thuộc tộc Khôn dương Đoài thái dương. Thuyền đầu rắn nước và đuôi chim mỏ cắt giống thuyền trên trống Sông Đà, Đồi Ro,LàngVạcI. Đây là dạng lưỡng hợp đơn giản của Chim Lửa- Rắn Nước, Tiên-Rồng.

Tóm lại thuyền này diễn tả khuôn mặt Nọc (I) thiếu âm (IO) tức Đoài IIO, khuôn mặt dương của phía Nòng O.

-Chiếc thuyền thứ hai có 4 người.

Nhìn tổng quát thoáng qua ta thấy thuyền có 4 người và hai con chim đứng ở mũi và đuôi thuyền (số 4 và số 2 là những số chẵn số âm) cho thấy thuyền mang âm tính của ngành nòng Khôn tức có một khuôn mặt Khôn âm Chấn.

Thuyền cũng diễn tả lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng có đầu thuyền rắn nuớc-đuôi thuyền chim mỏ cắt như thuyền 3 người.

Hình thuyền có 4 người.

Thuyền có 4 người. Số 4 là số Cấn hôn phối với Chấn IOO (nọc I thái âm OO, nước dương). Trang phục đầu có phần trước dựng đứng hơi nghiêng giống dòng thác đổ mang tính thái dương đại tộc nước Chấn và phần sau có những sọc ngang biểu tượng cho nước. Những người này thuộc tộc Khôn âm Chấn thái dương.

Tóm lại thuyền này diễn tả khuôn mặt Nọc (I) thái âm (OO) tức Chấn IOO, khuôn mặt âm thái dương của phía Nòng O.

Như thế hai con thuyền này thuộc hai đại tộc Khôn dương Nọc thiếu âm Đoài và Khôn âm Nọc thái âm Chấn thuộc ngành Nọc âm của ngành Nọc, mặt trời thái dương. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với các ‘hoa văn’ hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) kẹp hai vành trống không ở giữa mang nghĩa nọc âm ngành lửa thái dương.

Trong khi ở vùng đất diễn tả khuôn mặt nọc dương của ngành Nọc, mặt trời thái dương.

Ở vùng nước này nọc thiếu âm Đoài hôn phối với nọc thiếu dương Lửa thế gian Li diễn tả bằng bốn con hươu sủa trên mặt trống và  nọc thái âm Chấn ở vùng nước hôn phối với nọc thái dương Càn diễn tả bằng 6 con cò bay trên mặt trống.

Chim.

Sau thuyền có 3 người có một hình chim đứng. Chim đứng sau thuyền phải là loài chim nước. Chim nước có mỏ dài nhọn mang dương tính nọc (có một nghĩa là vật nhọn như bổ, búa). Đuôi ngắn, thân to, chân thấp. Chim mang vóc dáng của chim bổ nông.

Xin nhắc lại chim nông chúng ta nhìn theo duy âm nên gọi tên theo cái túi ở dưới mỏ là chim nông (nông biến âm với nang), chim bồ nông (bồ là bao là túi). Chim nông dạng bồ nông có túi dưới mỏ này thấy trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Người Tây phương theo duy dương gọi theo chiếc mỏ mang dương tính trông như một vật nhọn, như cái bổ, cái rìu nên gọi là pelican có gốc Hy Lạp ngữ pelekus là chiếc rìu, chim nước rìu tức con bổ nông. Chim nông dạng bổ nông có mỏ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói), tam giác này thấy trên trống thạp đồng Hợp Minh (Trống Giao Việt).

Chim ở đây không thấy cái túi dưới mỏ chỉ có mỏ mang dương tính cường điệu là con bổ nông bởi vì trống này là trống nọc, lửa mang dương tính cực đại.

Chim đứng sau đuôi thuyền mang âm tính (đuôi thuyền là âm, đầu thuyền là dương, thuyền trên trống đồng thường chuyển động theo chiều dương, chiều mặt trời) cũng cho biết chim thuộc đại tộc nọc thiếu âm (thái dương của nòng âm) giống như đuôi thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có hình chim bổ nông (xem chương Ý Nghĩa Hình Thuyền trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Một hai yếu tố nữa hỗ trợ cho thấy chim này là chim bổ nông thiếu âm là thuyền này có 3 người là thuyền của tộc thiếu âm gió Đoài. Số 1 con chim là số lẻ số dương cũng cho biết chim và thuyền mang khuôn mặt dương của ngành nòng tức thiếu âm.

Ở thuyền 4 người có hai hình chim đứng. Số 2 là số chẵn, số âm cho biết chim và thuyền mang khuôn âm của ngành nòng tức thái âm (đúng như đã nói ở trên thuyền mang khuôn mặt Chấn).

Lưu ý 4 người với số 4 là số chẵn, số âm và 2 chim với số 2 cũng là số chẵn, số âm ta thấy ngay thuyền mang âm tính tức thuộc về nòng Khôn âm Chấn.

Chim đứng ở đầu mũi thuyền là loài chim nước có mỏ dài nhọn mang dương tính cường điệu, cổ ngắn, chân ngắn, đuôi ngắn có các sọc nước. Đây có thể là con bồ nông thái âm (đứng phía dương đầu mũi thuyền và thuyền mang tính thái âm).

Trên người có những chấm nọc cho biết chim là con đực, ngành lửa, thái dương.

Chim đứng ở đuôi thuyền chỉ khác chim đứng ở mũi thuyền là có đuôi dài hình lông chim biểu tượng cho khí gió. Đây có thể là dạng thể điệu hóa để diễn tả tính chất gió thiếu âm.

Hai con chim này diễn tả hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương của ngành nòng Khôn. Ở thuyền Chấn này có hai khuôn nòng nọc, âm dương của đại tộc nước mang tính đại diện cho phía nọc âm thái dương.

Nhìn tổng quát thuyền và chim cho thấy chúng mang biểu tượng cho khuôn mặt nọc, lửa thiếu âm Đoài và nọc, lửa thái âm Chấn của ngành nọc âm. Trong khi trên mặt trống hươu sủa mang gạc biểu tượng cho nọc, lửa thiếu dương Li và cò bay biểu tượng cho nọc, lửa thái dương Càn.

Ta thấy rất rõ ở vùng đất, trống này biểu tượng cho nọc thái dương Càn, nọc thiếu dương Li ngành nọc dương ứng với nọc mặt trời Viêm Đế  và vùng nước biểu tượng nọc thái âm Chấn, nọc thiếu âm Đoài  ngành nọc âm ứng với nọc mặt trời Thần Nông.

Lưu ý

Cần phải phân biệt Thần Nông ở đây thuộc ngành nọc mặt trời thái dương khác với khuôn mặt Thần Nông thuộc ngành không gian thái âm ở cực âm.

 C. HẠ THẾ

Chân trống  còn giữ được chính thống vì không có trang trí,

 D. THÂN TRỐNG

Thân trống hay eo trống là Trục Thế Giới nối liền ba cõi.

Thân trống có những vành ‘hoa văn’ thẳng đứng và nằm ngang giống như ở tang trống chia trụ trống ra 8 ô chữ nhật.

Trong 6 ô có hình chim đứng còn hai ô bỏ trống. Đây cũng là một lỗi kỹ thuật.

Ở đây chỉ có hình vẽ hai con chim cũng mang dáng dấp hình chim đứng trước và sau thuyền. Một con xòe cánh, xòe đuôi như muốn bay diễn tả tính động mang dương tính có thể là con bổ nông thiếu âm còn con kia đứng yên tĩnh  mang âm tính là con bồ nông thái âm. Hai con chim này cũng diễn tả hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương của Khôn.

Kết Luận

Đây là trống mặt trời Càn/Tốn thái dương thế gian 14 nọc tia sáng.

Tính chất thái dương, cực dương này thấy rất rõ qua số học và Dịch.

Số 14 là số Tốn OII tức Nòng O thái dương II tầng 2 (trong 64 quẻ ta có các số Tốn là 6, 14, 22, 30, 38, 46, 54, 62). Theo số học, ta cũng thấy 14 nằm giữa hai số dương là 13 và 15 (13-14-15…). Số 13 là số Li, lửa đất thái dương (các số Li là 5, 13, 21…) và số 15 là số Càn, lửa vũ trụ thái dương (các số Càn là 7, 15, 23, 31…).           Ta cũng thấy số 14 đi cặp chung với số Li 5 và Càn 23 qua câu ca dao :

Mồng năm (5) mười bốn (14), hăm ba (23),

Đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn.

 Ngày xưa con người đi chơi và đi buôn bằng đường thủy, sông ngòi  tức thủy vì thế kiêng không đi chơi hay buôn bán vào các ngày lửa Li 5 và Càn 23 tức hỏa vì thủy có một khuôn mặt khắc  hỏa (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

 Đối chiếu với Dịch sách, Càn hôn phối với Tốn thấy trong Dịch Hậu Thiên Bát Quái.

Điểm này cho thấy rõ trống đồng nòng nọc, âm dương của đại  tộc Đông Sơn là một bộ Dịch đồng bằng hình diễn tả bằng chữ viết và hình dấu nòng nọc vòng tròn-que.

.Mặt trống mang tính dương cực độ. Từ trong tâm trống ra ngoài: mặt trời thái dương có 14 nọc tia sáng, không gian có cỏ mỏng, nhỏ nét, sáng với khoảng không gian giữa tia sáng g nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) thái dương; hai vành nọc mũi tên ngoài biên trống có đánh dấu nọc chấm  và các vành giới hạn có nọc chấm mang dương tính diễn tả ngành mặt trời thái dương rạng ngời, cực sáng. Vành hươu sủa diễn tả mặt trời thái dương thế gian. vành cò bay Càn diễn tả đại tộc mặt trời lửa vũ trụ Càn. Các vành nọc mũi tên ngoài biên trống được nhấn mạnh thêm bằng các dấu nọc chấmdiễn tả nhành nọc lửa dương, mặt trời thái dương cực sáng. Nên trống này  biểu tượng cho ngành nọc lửa, mặt trời thái dương với khuôn mặt lửa, mặt trời thế gian thái dương cực sáng, cực nóng ở thiên đỉnh, trên đỉnh Trục Thế Giới mang tính chủ của họ mặt trời thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống biểu của mặt trời Kì Dương Vương (diễn tả bằng hươu sủa mang gạc) thuộc đại tộc Đế Minh (diễn tả bằng cò Càn) ngành  lửa thái đương thần mặt trời Viêm Đế thái dương (diễn tả bằng các vành lửa thái dương ở biên trốn)  của họ Hồng Bàng Mặt Trời thế gian.

.Trống diễn tả bốn khuôn mặt ứng với tứ tượng.  Ỡ vùng mặt trống cò bay biểu tượng cho nọc thái dương Càn, mang gạc biểu tượng cho nọc thiếu dương Li ngành nọc dương ứng với nọc mặt trời Viêm Đế và vùng nước, thuyền 3 người và một chim biểu tượng nọc thiếu âm Đoài và thuyền 4 người với 2 con chim biểu tượng cho nọc thái âm Chấn, ngành nọc âm ứng với nọc mặt trời Thần Nông.

Ở vùng đất khuôn mặt Li nọc thiếu dương mang gạc mang tính chủ và vùng nước thuyền và chim bổ nông nọc thiếu âm mang tính chủ.  Nọc thiếu dương Li và nọc thiếu âm Đoài này hôn phối theo dạng tiểu vũ trụ vì trống này là trống thế gian.

Trống đã hơi muộn vì có vài lỗi kỹ thuật như cỡ các nọc tia sáng không đồng đều, cò bay không theo một chiều và đã bắt đầu thể điệu hóa nhưng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que vẫn còn giữ được ngữ pháp chính chuyên và diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh còn rất chính xác. Các nhà khào cổ học ViệtNam xếp trống này vào nhóm trống cuối của loại A (A-IV-2) rất đúng.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Nam đây là trống ngành nọc thái dương Viêm Đế-Đế Minh có khuôn mặt Kì Dương Vương mang tính chủ.  Nhìn dưới diện họ mặt trời Hồng Bàng thế gian thì đây là trống Kì Việt mặt trời, thiên đỉnh thái dương chói  chang, rạng ngời của phía nọc, đương, lửa, núi dương. Trống mang  tính dương cực độ, tuyệt nhiên không có một yếu tố nào mang âm  tính.

Trống này là nhánh nọc lửa thái dương Kì Dương Vương đối ứng với nhánh nọc nước thái dương Lạc Long Quân của họ Hồng Bàng mặt trời thế gian có trống trống Hòa Bình với khuôn mặt Giao Việt mang tính chủ.

Trang sử đồng này giúp ta nhận diện đích thực và xác thực những  khuôn mặt của Kì Dương Vương thấy trong truyền thuyết và cổ Việt.

1. Kì Dương là Kẻ Dương, Cọc Dương, Cọc Lửa, Nọc Đực, Bộ Phận Sinh Dục Nam

 Trống Phú Xuyên có trống là đực là Nọc, Trụ và mang tính dương cực độ, không có một yếu tố âm nào trên mặt trống nên diễn tả Nọc, Cọc, Dương. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với khuôn mặt lửa thái dương cùa Viêm Đế và Kì Dương Vương. Kì Dương Vương đội lốt tổ Hùng tối cao tối thượng thần mặt trời Viêm Đế có nghĩa là Trụ Nóng (Viêm là Nóng, Đế là nọc, trụ đỡ, chống), Que Diêm. Với nghĩa có gốc nguyên thủy là nọc bộ phận sinh dục nam đội lốt nọc dương Trụ Nóng Viêm Đế thần mặt trời tạo hóa  mang hình ảnh đấng sinh tạo thế gian là con người đầu tiên trên thế gian, vua đầu tiên cùa nước Xích Quỉ của Bách Việt.

 2. Nọc, Cọc Dương cũng có nghĩa là Cây Dương. Với nghĩa sinh tạo là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống)  của ngành dương. Theo c=k=s, ta có Kì = Si. Kì Dương là Cây Si Dương. Cây Đa và Cây Si là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) của Việt Mường. Theo truyền thuyết Việt Mường cổ Cây Si sinh ra con người thế gian đầu tiên là Dạ Dần, Mẹ Tổ của Mường Việt.

Như thế theo duy dương, Kì Dương là Cây Si Dương tức là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) của ngành dương mặt trời sinh ra Kì Dương Vương là con người đầu tiên và là vị vua của nước Xích Quỉ đầu tiên của chúng ta ăn khớp trăm phần trăm.

Vì có khuôn mặt Cây Dương này nên  Kì Dương Vương  đã diệt được Mộc Tinh, con quỉ  Xương Cuồng sống trong cây chiên đàn ở đất Bạch Hạc, Phong Châu (Lĩnh Nam Chích Quái).

 3.  Trống cũng có nghĩa là Chống (nọc, trụ). Ta đã biết trống có một khuôn mặt là Trụ Chống Trới Trục Thế Giới. Ta thấy rõ Việt Điền ở Vân Nam coi trống là Trục Thế Giới dùng để dâng vật hiến tế lên Tam Thế vì thế họ chế tạo rất nhiều các vật đựng vỏ sò ốc hình trống đồng hay dùng trống đống làm đế Trục Thế Giới (xem Cổ Vật Đồng Điền).

Trống Phú Xuyên  có mặt trời 14 nọc tia sáng. Con số 14 nằm giữa số 15 (Càn tầng 2)  vì thế có khuôn mặt Trụ Lửa (khuôn mặt Pillar of Fire của Shiva) và số 13 (Li tầng 2). Li 13 mang nghĩa núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới  thấy rõ qua vũ trụ quan của Ấn giáo và Phật giáo. Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới Kailash ở Hy Mã Lạp Sơn được cho là nơi sinh ra thần Shiva (tương đương với Kì Dương Vương). Tại Rishiket có một ngôi đền Kailash 13 tầng mang hình ảnh núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới. Trên chóp các tháp hình chuông úp chedi mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống)  của Phật giáo thường có 13 vòng diễn tả 13 bậc lên Nát Bàn mang hình ảnh Trục Thế Giới.  Trống Phú Xuyên có mặt trời 14 nọc tia sáng có khuôn mặt chủ là Li 13 Kì Dương Vương  hươu sủa nên rõ như ban ngày Kì Dương Vương có một khuôn mặt là Núi Trụ Thế Gian (núi Kì), Trục Thế Giới.

 4. Kì Dương là Kẻ Dương, Người Dương, Người Nam, Người Mặt Trời.

 Trống Phú Xuyên có hình bươu sửa mang gạc, mang Keh nên có một khuôn mặt là trống biểu của Người Mặt Trời. Khuôn mặt này của trống ăn khớp trăm phần trăm với khuôn mặt của Kì Dương Vương là con của thần mặt trời Viêm Đế, vua đầu tiên của nước Xích Quì, Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời.    

5. Kì Dương là Mặt Trời Thiên Đỉnh trên đỉnh Trục Thế Giới.

Trống Phú Xuyên là Trụ Dương mang tính dương cực độ, có mặt trời ở tâm trống tức trên trục trống, tức Trục Thế Giới nên có một khuôn mặt  Mặt Trời Thiên Đỉnh. Điểm này xác thực thêm bắng hai yếu tố: một là trống Phú Xuyên là trống thái dương Càn/Tốn mặt trời có 14 nọc tia sáng; hai là các khoảng không gian giữa tia sáng có hình thái nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang nghĩa nọc dương.

Khuôn mặt này của trống  ăn khớp với khuôn mặt Kì Dương Vương là vua mặt trời trên Trục Thế Giới, giữa trưa, chính ngọ (trong khi Hùng Vương là mặt trời hừng rạng, Lạc Long Quân là mặt trời chiều, hoàng hôn).

6. Kì Dương là con Cọc, con Hươu Cọc, Con Mang Gạc, Hươu Gạc, Hươu Sừng, Hươu Đực.

Trống Phú Xuyên có hình hươu sủa, mang gạc, Hươu Việt, Kì Dương (kijang) ăn khớp trăm phần trăm với khuôn mặt Hưu Cọc, mang gạc, Hươu Đục Lộc Tục, Hươu Mặt Trời của Kì Dương Vương.

Vân vân…

 Tổng tóm lược

Trống Phú Xuyên là trống biểu của nhánh nọc dương mặt trời lửa Càn Li với Càn diễn tả bằng vành cò Càn tên viết bằng hình tam giác và Li diễn tả bằng con mang sủa mang gạc. Li mang tính chủ vì vành mang sủa nằm gần sát mặt trời. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống Kì Việt Kì Dương Vương của ngành nọc dương mặt trời thái dương Viêm Đế.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: