TRỐNG PHÚ XUYÊN: TỘC LI NHÓM TRỐNG THÁI DƯƠNG/KÌ VIỆT KÌ DƯƠNG VƯƠNG (phần 3 và hết).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

TRỒNG ĐỒNG PHÚ XUYÊN: TRỐNG TỘC  LI NHÓM THÁI DƯƠNG/KÌ VIỆT KÌ DƯƠNG VƯƠNG.  

(phần 2, hết)

Nguyễn Xuân Quang

Mấu chốt:

Trống Phú Xuyên là trống đại tộc, tộc đơn thuần Lửa đất dương thiếu dương Li/Kì Dương Vương nhánh mặt trời thái dương/ngành Người  Mặt Trời Thái Dương/Người Việt Mặt Trời Thái Dương, Hồng Việt.

*

                                                                                    

Trống Phú Xuyên ((nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

.Vành cò bay

Kế đến là vành có 6 hình cò bay.

Ta đã biết cò có mỏ dài mang dương tính và sống ở bờ nước mang âm tính, tức dương của âm, tức thiếu âm nguyên thể của khí, gió. Vì thế cò là chim biểu tượng cho khí gió (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt  cò bay là chim biểu Cò Lang của Hùng Vương có một khuôn mặt sinh tạo là bầu trời, gió thế gian sinh ra từ bọc trứng thế gian. Cò Lang Gió thuộc đại tộc Cò Gió Bạch Hạc, Phong Châu, Hùng Vương, chim biểu của Liên Bang Văn Lang (Chim Lạc Hay Cò Lang?). Trong liên bang này có nhiều loại cò biểu cho các đại tộc, tộc ứng với các khuôn mặt nòng nọc (âm dương) trong các qui trình vũ trụ tạo sinh,

Cò bay theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời liên hệ với mặt trời, vua mặt trời (Hùng Vương). Đây là trống mặt trời thái dương thế gian có 14 nọc tia sáng nên cò bay có một khuôn mặt biểu tượng cho lửa thái dương vũ trụ.

Sáu con cò bay với số 6 là số lão âm, âm thái dương, vành cò có 6 con cũng cho thấy trống có một khuôn mặt thái dương.

Bây giờ ta hãy mổ xẻ, giải đọc bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que những con cò trên trống này.

Trước hết có một sự “cọc cạch” “đối ngược” ở đây là trong 6 con cò, có 4 con bay theo chiều âm tức cùng chiều  với kim đồng hồ và hai con bay theo chiều dương tức theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời. Có lẽ đây là một lỗi kỹ thuật. Lỗi này cho thấy trống Phú Xuyên  là một trống hơi muộn. Nhưng cũng có thể người làm trống cố ý làm như vậy để diễn tả một ý nghĩa biểu tượng nào đó. Bốn con với số 4 là số Cấn, đất âm. Vì vậy người làm trống cho 4 con cò này bay theo chiều kim đồng hồ, chiều âm. Còn hai con với số 2 là số Khảm có một khuôn mặt lưỡng hợp với Li, đất dương. Sau con cò này mang ý biểu tượng cho đất dương và âm Li-Cấn.

Cò có mỏ dài rất thẳng mang dương tính nghiêng về cò lửa.

 

Hình cò bay trên trống Phú Xuyên ở giữa cánh có tên viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình tam giác, nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói).

Trong mỏ có đánh dấu hay viết chữ nọc que cho biết cò có một khuôn mặt nọc, dương lửa. Bờm hình tam giác, nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có một nghĩa nghĩa là nọc, lửa thái dương, Càn, núi tháp nhọn, đất dương Li. Con cò mang tính lửa ngành thái dương Càn Li. Với sự hiện diện của bốn con hươu sủa biểu tượng cho đấ`t thế gian thì bờm cò hình núi tháp nhọn đỉnh diễn tả đất thế gian Li mang tính chủ.

Con mắt cò ở đây có hình thoi <> có cạnh góc mang dương tính nhiều hơn con mắt dương một vòng tròn. Đây là con mắt mang tính dương.

Cò có cánh và thân tạo thành hình chữ T. Từ nọc chữ T cò có khuôn mặt chủ là trụ chống trời, trục thế giới, đất thế gian, nói chung là cò Đất dương thế gian tức Li, Lửa Đất thế gian.

Nhưng mấu chốt chính là tên con cò này viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình delta, hình núi tháp nhọn ở giữa cánh cò có một nghĩa là lửa đất thiếu dương Li (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ Tam Giác).

Như thế  tên cò viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình tam giác ở trống này có vành hươu sủa mang tính chủ nên mang hình ảnh núi tháp nhọn có nghĩa là lửa núi thế gian Li. 

Xin nhắc lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn tên các loài vật, người và vật thường viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que. Đọc được chữ, được tên là biết được danh tính. Ví dụ cò sấm mưa trên trống Hữu Chung có tên là chữ sấm gầm ở cổ; con sói lang khí gió trên trống Miếu Môn I có tên là chiếc túi âm thanh dương có góc cạnh nhọn ở dưới mỏ (túi dương là không gian dương khí gió, con thú hú,tru là con sói lang); cò lửa Càn trên trống Đông Sơn IV có chữ que nọc ở mỏ [ở trống này Càn viết với chữ nọc tam giác núi tháp nhọn…

Như thế rõ như ban ngày con cò ở trống trống Phú Xuyên  này có tên viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình tam giác là là cò núi, cò Kì, cò Li. 

Như thế  vùng đất dương có hai vành thú chim. Vành thú bốn chân mang gạc, hươu sửa mang tính chủ vì nằm sát mặt trời là thú biểu của cõi đất dương, trần gian, Lửa thế gian Li Trung Thế. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là thú biểu của Kì Dương Vương. Vành cò bay là có núi, cò lửa đất thiếu dương Li.

Trống Phú Xuyên là trống biểu của tộc Li nhánh thái dương.

 Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống biểu của tộc Kí Việt Kì Dương Vương ngành nọc mặt trời thái dương Viêm Đế.

 Đất âm

.Các vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ở biên trống.

Ngoài biên trống có bốn vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (‘hoa văn’) gồm hai vành ở ngoài hình nọc mũi mác có một nghĩa thái dương.

Đặc biệt ở trống này trong nọc mũi mác còn có dấu chấm nọc có mục đích nhấn mạnh đây mang nghĩa lửa, dương sinh tạo.

Hai vành này kẹp ở giữa hai vành chấm nọc có một nghĩa là hai nọc chấm bụi đất  dương,  lửa đất thiếu dương Li ngành thái dương.

Như thế bốn vành này mang nghĩa nọc lửa thái dương cho biết trống này là trống lửa đất thiếu dương Li  ngành dương thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống tộc Kì Việt đại tộc Kì Dương Vương  ngành nọc mặt trời thái dương Hồng Việt Viêm Đế.

-Vùng nước

Vùng nước là phần phình tang trống (trông như một vật đựng nước).

Trống trống Phú Xuyên nhìn ngang (Nguyễn Văn Huyên).

Tang trống có những ‘hoa văn’ chữ viết nòng nọc vòng tròn-que gồm 2 vành nọc mũi mác thái dương kẹp ở giữa hai vành trống không. Hai vành trống không là hai nòng OO, thái âm, nước. Như thế bốn vành ở tang trống mang nghĩa nước thái dương.

Chủ điểm của tang trống là hai hình thuyền và hình chim.

.Thuyền

Thuyền ở đây đã cách điệu và vẽ thô sơ, giản dị cho biết trống này là trống hơi muộn. Thuyền đầu rắn nước và đuôi chim mỏ cắt giống thuyền trên trống Sông Đà, Đồi Ro, LàngVạc I. Đây là dạng lưỡng hợp đơn giản của Chim Lửa- Rắn Nước, Tiên-Rồng.

Ờ đây là vùng nước, tộc nước. Trên mặt trống có một khuôn mặt chủ là Li vậy thuyền phải có khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ để có lưỡng hợp thiếu dương Li với thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. 

 Một thuyền có 3 người và một thuyền có 4 người.

-Chiếc thuyền thứ nhất có 3 người.

Nhìn tổng quát thoáng qua ta thấy thuyền có 3 người và một con chim đứng ở đuôi thuyền (số 3 và số 1 là những số lẻ số dương) cho thấy thuyền mang dương tính của ngành nòng Khôn tức có một khuôn mặt  Khôn dương thiếu âm khí gió Đoài.

Thuyền có 3 người với số 3 là số Đoài IIO (nọc, dương I thiếu âm IO, Khôn dương khí gió). Trang phục đầu có phần nọc phía trước dựng đứng hơi nghiêng có phần đầu gió tạt mang nghĩa thái dương của đại tộc gió Đoài và phần sau hình bờm gió tạt. Những người này thuộc tộc Khôn dương Đoài.

Tóm lại thuyền này diễn tả khuôn mặt Nọc (I) thiếu âm (IO) tức Đoài IIO, khuôn mặt dương của phía Nòng O.

-Chiếc thuyền thứ hai có 4 người.

Nhìn tổng quát thoáng qua ta thấy thuyền có 4 người và hai con chim đứng ở mũi và đuôi thuyền (số 4 và số 2 là những số chẵn số âm) cho thấy thuyền mang âm tính của ngành nòng Khôn tức có một khuôn mặt Khôn âm Chấn.

Hình thuyền có 4 người.

Thuyền có 4 người. Số 4 là số Cấn hôn phối với Chấn IOO (nọc I thái âm OO, nước dương). Trang phục đầu có phần trước dựng đứng hơi nghiêng giống dòng thác đổ mang tính thái dương đại tộc nước Chấn và phần sau có những sọc ngang biểu tượng cho nước. Những người này thuộc tộc Khôn âm Chấn thái dương.

Tóm lại thuyền này diễn tả khuôn mặt Nọc (I) thái âm (OO) tức Chấn IOO, khuôn mặt âm thái dương của phía Nòng O.

Như thế hai con thuyền này thuộc hai đại tộc Khôn dương Nọc thiếu âm Đoài và Khôn âm Nọc thái âm Chấn thuộc ngành Nọc âm của ngành Nọc, mặt trời thái dương. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với các ‘hoa văn’ hai vành nọc mũi mác kẹp hai vành trống không ở giữa mang nghĩa âm Khôn ngành lửa thái dương.

Trong khi ở vùng đất diễn tả khuôn mặt nọc dương thái dương của ngành Nọc, mặt trời thái dương.

Chim.

Sau thuyền có 3 người có một hình chim đứng. Chim đứng sau thuyền phải là loài chim nước. Chim nước có mỏ dài nhọn mang dương tính nọc (có một nghĩa là vật nhọn như bổ, búa). Đuôi ngắn, thân to, chân thấp. Chim mang vóc dáng của chim rìu nước bổ nông.

Xin nhắc lại chim nông chúng ta nhìn theo duy âm nên gọi tên theo cái túi ở dưới mỏ là chim nông (nông biến âm với nang), chim bồ nông (bồ là bao là túi). Chim nông dạng bồ nông có túi dưới mỏ này thấy trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Người Tây phương theo duy dương gọi theo chiếc mỏ mang dương tính trông như một vật nhọn, như cái bổ, cái rìu nên gọi là pelican có gốc Hy Lạp ngữ pelekus là chiếc rìu, chim rìu nước tức con bổ nông. Chim rìu nước bổ nông này thấy trên trống Hoàng Hạ, thạp đồng Hợp Minh…

Chim ở đây không thấy cái túi dưới mỏ chỉ có mỏ mang dương tính cường điệu là con bổ nông đứng dưới nước.

Chim đứng sau đuôi thuyền mang âm tính (đuôi thuyền là âm, đầu thuyền là dương, thuyền trên trống đồng thường chuyển động theo chiều dương, chiều mặt trời) cũng cho biết chim thuộc đại tộc nọc thiếu âm (thái dương của nòng âm) giống như đuôi thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có hình chim bổ nông.

Một hai yếu tố nữa hỗ trợ cho thấy chim này là chim bổ nông thiếu âm là thuyền này có 3 người là thuyền của tộc thiếu âm gió Đoài. Số 1 con chim là số lẻ số dương cũng cho biết chim và thuyền mang khuôn mặt dương của ngành nòng tức thiếu âm.

Ở thuyền 4 người có hai hình chim đứng. Số 2 là số chẵn, số âm cho biết chim và thuyền mang khuôn âm của ngành nòng tức thái âm (đúng như đã nói ở trên thuyền mang khuôn mặt Chấn).

Lưu ý 4 người với số 4 là số chẵn, số âm và 2 chim với số 2 cũng là số chẵn, số âm ta thấy ngay thuyền mang âm tính tức thuộc về nòng Khôn âm Chấn.

Chim đứng ở đầu mũi thuyền là loài chim nước có mỏ dài nhọn mang dương tính cường điệu, cổ ngắn, chân ngắn, đuôi ngắn có các sọc nước. Đây có thể là con bồ nông thái âm (đứng phía dương đầu mũi thuyền và thuyền mang tính thái âm).

Trên người có những chấm nọc cho biết chim là con đực, ngành lửa, thái dương.

Chim đứng ở đuôi thuyền chỉ khác chim đứng ở mũi thuyền là có đuôi dài hình lông chim biểu tượng cho khí gió. Đây có thể là dạng thể điệu hóa để diễn tả tính chất gió thiếu âm.

Hai con chim này diễn tả hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương của ngành nòng Khôn. Ở thuyền Chấn này có hai khuôn nòng nọc, âm dương của đại tộc nước mang tính đại diện cho phía nọc âm thái dương.

Nhìn tổng quát thuyền và chim cho thấy chúng mang biểu tượng cho khuôn mặt nọc, lửa thiếu âm Đoài và nọc, lửa thái âm Chấn của ngành nọc âm. Trong khi trên mặt trống hươu sủa mang gạc biểu tượng cho nọc, lửa thiếu dương Li  lưỡng hợp với Tio và cò 6 cò bay với số 6 là số Tốn, âm thái dương, Càn âm  lưỡng hợp với Chấn.

 C. HẠ THẾ

Chân trống còn giữ được chính thống vì không có trang trí,

 D. THÂN TRỐNG

Thân trống hay eo trống là Trục Thế Giới nối liền ba cõi.

Thân trống có những vành ‘hoa văn’ thẳng đứng và nằm ngang giống như ở tang trống chia trụ trống ra 8 ô chữ nhật.

Trong 6 ô có hình chim đứng còn hai ô bỏ trống. .

Ở đây chỉ có hình vẽ hai con chim cũng mang dáng dấp hình chim đứng trước và sau thuyền. Một con xòe cánh, xòe đuôi như muốn bay diễn tả tính động mang dương tính có thể là con bổ nông thiếu âm còn con kia đứng yên tĩnh  mang âm tính là con bồ nông thái âm. Hai con chim này cũng diễn tả hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương của Khôn.

Kết Luận

Đây là trống mặt trời nhóm Càn/Tốn thái dương thế gian 14 nọc tia sáng.

Đối chiếu với dịch sách, Càn hôn phối với Tốn thấy trong Dịch Hậu Thiên Bát Quái.

.Mặt trống mang tính dương cực độ. Từ trong tâm trống ra ngoài: mặt trời thái dương có 14 nọc tia sáng, không gian có vỏ khá mỏng với khoảng không gian giữa tia sáng nọc mũi mác lửa thái dương và núi tháp thiếu dương; hai vành nọc mũi tên ngoài biên trống có đánh dấu nọc chấm  và các vành giới hạn có nọc chấm mang dương tính diễn tả ngành mặt trời thái dương rạng ngời, cực sáng. Vành hươu sủa diễn tả mặt trời thái dương đất thế gian, mặt trời chính ngọ thượng đỉnh trên trục thế giới. Vành cò bay Li ngành thái dương. Các vành nọc mũi mác ngoài biên trống được nhấn mạnh thêm bằng các dấu nọc chấm diễn tả nhánh nọc lửa dương, mặt trời thái dương cực sáng. Nên trống này  biểu tượng mặt trời thế gian cực sáng, cực nóng ở thiên đỉnh, trên đỉnh Trục Thế Giới Li.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống biểu của tộc Kì Việt Kì Dương Vương  Người Việt Mặt Trời Xích Quỉ, Hống Việt thuộc đại tộc Đế Minh (diễn tả bằng cò Càn) ngành  lửa thái đương thần mặt trời Viêm Đế thái dương của họ Hồng Bàng Mặt Trời thế gian.

Trống đã hơi muộn (các nhà khào cổ học Việt Nam xếp trống này vào nhóm trống cuối của loại A (A-IV-2) vì có vài lỗi kỹ thuật hay diễn đạt không theo chính thống.

Trống này là tộc lửa thiếu dương Li Kì Dương Vương  đội lốt Càn Đế Minh đối ứng với tộc  nọc nước thái âm Lạc Long Quân  có trống biểu là trống Giao Việt Hòa Bình  của họ Hồng Bàng.

Trang sử đồng này giúp ta nhận diện đích thực và xác thực những  khuôn mặt của Kì Dương Vương thấy trong truyền thuyết và cổ Việt.

1. Kì Dương là Kẻ Dương, Cọc Dương, Cọc Lửa, Nọc Đực, Bộ Phận Sinh Dục Nam

 Trống Phú Xuyên có trống là đực là Nọc, Trụ và mang tính dương cực độ, không có một yếu tố âm nào trên mặt trống nên diễn tả Nọc, Cọc, Dương. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với khuôn mặt lửa thái dương cùa Viêm Đế và Kì Dương Vương. Kì Dương Vương đội lốt tổ Hùng tối cao tối thượng thần mặt trời Viêm Đế có nghĩa là Trụ Nóng (Viêm là Nóng, Đế là nọc, trụ đỡ, chống), Que Diêm. Với nghĩa có gốc nguyên thủy là nọc bộ phận sinh dục nam đội lốt nọc dương Trụ Nóng Viêm Đế thần mặt trời tạo hóa  mang hình ảnh đấng sinh tạo thế gian là con người đầu tiên trên thế gian, vua đầu tiên cùa nước Xích Quỉ của Bách Việt.

 2. Nọc, Cọc Dương cũng có nghĩa là Cây Dương. Với nghĩa sinh tạo là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống)  của ngành dương. Theo c=k=s, ta có Kì = Si. Kì Dương là Cây Si Dương. Cây Đa và Cây Si là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) của Việt Mường. Theo truyền thuyết Việt Mường cổ Cây Si sinh ra con người thế gian đầu tiên là Dạ Dần, Mẹ Tổ của Mường Việt.

Như thế theo duy dương, Kì Dương là Cây Si Dương tức là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) của ngành dương mặt trời sinh ra Kì Dương Vương là con người đầu tiên và là vị vua của nước Xích Quỉ đầu tiên của chúng ta ăn khớp trăm phần trăm.

Vì có khuôn mặt Cây Dương này nên  Kì Dương Vương  đã diệt được Mộc Tinh, con quỉ  Xương Cuồng sống trong cây chiên đàn ở đất Bạch Hạc, Phong Châu (Lĩnh Nam Chích Quái).

 3.  Trống cũng có nghĩa là Chống (nọc, trụ). Ta đã biết trống có một khuôn mặt là Trụ Chống Trới Trục Thế Giới. Ta thấy rõ Việt Điền ở Vân Nam coi trống là Trục Thế Giới dùng để dâng vật hiến tế lên Tam Thế vì thế họ chế tạo rất nhiều các vật đựng vỏ sò ốc hình trống đồng hay dùng trống đống làm đế Trục Thế Giới (xem Cổ Vật Đồng Điền).

Trống Phú Xuyên  có mặt trời 14 nọc tia sáng. Con số 14 nằm giữa số 15 (Càn tầng 2)  vì thế có khuôn mặt Trụ Lửa (khuôn mặt Pillar of Fire của Shiva) và số 13 (Li tầng 2). Li 13 mang nghĩa núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới  thấy rõ qua vũ trụ quan của Ấn giáo và Phật giáo. Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới Kailash ở Hy Mã Lạp Sơn được cho là nơi sinh ra thần Shiva (tương đương với Kì Dương Vương). Tại Rishiket có một ngôi đền Kailash 13 tầng mang hình ảnh núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới. Trên chóp các tháp hình chuông úp chedi mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống)  của Phật giáo thường có 13 vòng diễn tả 13 bậc lên Nát Bàn mang hình ảnh Trục Thế Giới.  Trống Phú Xuyên có mặt trời 14 nọc tia sáng có khuôn mặt chủ là Li 13 Kì Dương Vương  hươu sủa nên rõ như ban ngày Kì Dương Vương có một khuôn mặt là Núi Trụ Thế Gian (núi Kì), Trục Thế Giới.

 4. Kì Dương là Kẻ Dương, Người Dương, Người Nam, Người Mặt Trời.

 Trống Phú Xuyên có hình bươu sửa mang gạc, mang Keh nên có một khuôn mặt là trống biểu của Người Mặt Trời. Khuôn mặt này của trống ăn khớp trăm phần trăm với khuôn mặt của Kì Dương Vương là con của thần mặt trời Viêm Đế, vua đầu tiên của nước Xích Quì, Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời.    

5. Kì Dương là Mặt Trời Thiên Đỉnh trên đỉnh Trục Thế Giới.

Trống Phú Xuyên là Trụ Dương mang tính dương cực độ, có mặt trời ở tâm trống tức trên trục trống, tức Trục Thế Giới nên có một khuôn mặt  Mặt Trời Thiên Đỉnh. Điểm này xác thực thêm bắng hai yếu tố: một là trống Phú Xuyên là trống thái dương Càn/Tốn mặt trời có 14 nọc tia sáng; hai là các khoảng không gian giữa tia sáng có hình thái nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang nghĩa nọc dương.

Khuôn mặt này của trống  ăn khớp với khuôn mặt Kì Dương Vương là vua mặt trời trên Trục Thế Giới, giữa trưa, chính ngọ (trong khi Hùng Vương là mặt trời hừng rạng, Lạc Long Quân là mặt trời chiều, hoàng hôn).

6. Kì Dương là con Cọc, con Hươu Cọc, Con Mang Gạc, Hươu Gạc, Hươu Sừng, Hươu Đực.

Trống Phú Xuyên có hình hươu sủa, mang gạc, Hươu Việt, Kì Dương (kijang) ăn khớp trăm phần trăm với khuôn mặt Hưu Cọc, mang gạc, Hươu Đục Lộc Tục, Hươu Mặt Trời của Kì Dương Vương.

Vân vân…

 Tổng tóm lược:

Trống Phú Xuyên là trống biểu của tộc lửa đất thiếu dương Li thuộc nhóm trống thái dương diễn tả bằng vành mang sủa mang gạc và vành có núi Li. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống tộc Kì Việt Kì Dương Vương của ngành nọc dương mặt trời thái dương Viêm Đế

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: