TRỐNG ĐỒNG GIAO VIỆT HÒA BÌNH (phần 2 và hết).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài). 

NHÁNH TRỐNG MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG

NÒNG KHÔN THẦN NÔNG.

TRỒNG ĐỒNG GIAO VIỆT HÒA BÌNH.

(phần 2 và hết)

Nguyễn Xuân Quang

 Trống Hòa Bình (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

.Vành cò bay

Kế đến là vành có 4 hình cò bay. Ta đã biết cò có mỏ dài mang dương tính và sống ở bờ nước mang âm tính, tức dương của âm, tức thiếu âm nguyên thể của khí, gió. Vì thế cò là chim biểu tượng cho khí gió (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt  cò bay là chim biểu Cò Lang của Hùng Vương có một khuôn mặt sinh tạo là bầu trời, gió thế gian sinh ra từ bọc trứng thế gian. Cò Lang Gió thuộc đại tộc Cò Gió Bạch Hạc, Phong Châu, Hùng Vương (Chim Lạc Hay Cò Lang?).

Cò bay theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời liên hệ với mặt trời, vua mặt trời (Hùng Vương). Đây là trống mặt trời thế gian có 12 nọc tia sáng nên cò bay có một khuôn mặt biểu tượng cho bầu trời thế gian.

Xin nhắc lại cò là chim Việt biểu tượng cho bầu trời gió thế gian. Tất cả các vật tổ Việt đều có nghĩa là Việt (roi, vọt, nọc, vớt, rìu, búa, mặt trời có gốc nguyên thủy là nõ, cọc, bộ phận sinh dục nam) như chim Việt (chim rìu, mỏ cắt), Hươu Việt (hươu cọc, hươu sừng, mang gạc muntjac), cá sấu Việt [sấu dao gavial, gharial, cá gạc, (Hán Việt ngạc). Cò biến âm với cồ, cu, kì (con cò là con cò kì, cò kèo, cò cọc)]. Cò là chim Việt cõi trời thế gian.

Bốn  con cò bay. Số 4 là số Cấn hôn phối với Đoài như vợ của Hùng Vương Đoài có mnag Cấn (Vụ Tiện là Nàng Nước Khôn vợ Đế Minh, Thần Long là Nàng Gió Khảm vũ trụ vợ Kì Dương Vương, Âu Cơ là Nàng Lửa Tốn vợ Lạc Long Quân và vợ Hùng Vương Nàng Đất Cấn.  Ta cũng thấy Cấn hôn phối với Đoài trong Tiên Thiên Bát Quái.

 Trong Tiên Thiên Bái Quái Cấn hôn phối với Đoài.

Những con cò này có một khuôn mặt gió dương Đoài.

Bây giờ ta hãy mổ xẻ con cò trên trống này.

Cò có mỏ thon dài hơi cong lên mang dương tính của âm tức thiếu âm gió. Trong mỏ có dấu hay chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) > cho biết là cò thuộc ngành nọc mặt trời, thái dương. Mỏ cò mang tính gió dương Đoài.

Bờm gió tạt. Mắt dương chỉ có một vòng tròn. Con mắt vòng tròn có chấm có một nghĩa là thiếu âm (.0 = IO),  nguyên thể của gió.  Cánh chữ nhật có những hình sọc song song ngang trông cánh diều hay thảm thần bay trong gió. Ta cũng thấy ở cổ cò có hình giải gió.  Đây có thể là tên của những con cò này.

Tóm lại 4 con cò bay trên trống này là cò gió dương Đoài

Như thế qua hai vành thú bốn chân Sấu Việt mõm dao nước dương Chấn và Cò Việt gió dương Đoài ta thấy mặt trống diễn tả hai khuôn mặt Chấn Đoài của ngành Khôn thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là ngành mặt trời thái âm ngành nòng Thần Nông thái dương. Ở cõi thế gian là ngành nòng Lạc Long Quân của họ mặt trời  Hồng Bàng đối ứng với ngành nọc Kì Dương Vương

(xin nhắc lại, nhìn dưới diện nòng nọc, âm dương, lưỡng hợp cốt lõi của văn hóa Việt thì theo truyền thuyết là “họ Hồng Bàng thế gian từ Kì Dương Vương trở xuống” ta phải hiểu chỉ có hai ngành nòng nọc, âm dương là ngành dương Kì Dương Vương và ngành âm Lạc Long Quân  còn Hùng Vương coi như là thuộc về lịch sử).

Ở đây nhánh Sấu Việt Dao (Giao) Việt mang tính chủ vì vành thú này nằm sát phía mặt trời và trống này là trống thế gian (có mặt trời có số nọc tia sáng lớn hơn 8).

.Đất âm

.Những vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ở biên trống.

 Ngoài biên trống có 5 vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  gồm hai vành ngoài cùng có chấm nọc dương mang nghĩa dương. Hai vành 2 và 4 là hai vành mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là thái dương. Vành ở chính giữa là vành hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước thái âm.

 Gộp lại những vành ngom ài biên trống nầy có nghĩa là nước-lửa, nước thái dương, mặt trời nước thái dương ngành dương thái dương.

Trống này cũng là trống Chấn/Cấn có mặt trời 12 nọc tia sáng nhưng là trống dương thái dương nên không có tượng loài lưỡng cư cóc/ếch như các trống Chấn/Cấn âm thái dương sấm mưa.

-Vùng nước

Vùng nước là phần phình tang trống (trông như một vật đựng nước).

Trống Hòa Bình nhìn ngang (Nguyễn Văn Huyên).

 Tang trống có những hoa văn chữ viết nòng nọc gần giống như ở biên trống chỉ khác là vành hai vòng tròn đồng tâm có thêm tiếp tuyến tạo thành sóng chuyển động mang tính sinh động.

Chủ điểm của tang trống là những con chim đậu trên mặt đất. Những con chim đứng ở vùng nước này bắt buộc trăm phần trăm phải là loài chim nước. Chim đứng cho thấy chim biểu tượng cho cõi trời của đất thế gian chứ chim không bay nên không biểu tượng cho cõi trên, vũ trụ. Vậy đây là loài chim nước đất thế gian. Mắt chim chỉ có một vòng tròn là mắt dương. Chim có mỏ rất lớn mang dương tính nhưng đầu mỏ tròn không nhọn mang âm tính tức dương của ngành nòng âm, nước.

Chân chim thấp lè tè như vịt, chim đứng bụng thấy sát mặt đất. Hai cánh xoải rộng. Trên cổ và người chim có các hình nọc chấm mang ý nghĩa nọc, lửa, mặt trời nguyên tạo cho biết chim thuộc ngành nọc thái dương.

Vành này có 12 con chim với số 12 là số Cấn thế gian (cùng số với 12 nọc tia sáng). Ta đã biết theo âm thái dương Cấn hôn phối với Chấn thấy trên các trống sấm mưa cóc/ếch và ở đây trên trống dương thái dương này Cấn hôn phối với Đoài (như thấy trong Tiên Thiên Bát Quái ở trên). Vậy 12 con chim mang tính Đoài. Tính gió Đoài này còn thấy qua cặp cánh dương lên như muốn bay. Chim đứng trên mặt đất nên là Đoài thế gian ao đầm (túi nước ấm). Ta biết quẻ Đoài viết theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là IIO ở cõi sinh tạo, vũ trụ có nghĩa là lửa, thái dương (II) của không gian O, không gian dương tức Khôn dương khí gió hay là dương (I) thiếu âm (IO) khí gió tức khi gió dương (trong khi Đoài thế gian là túi nước dương, nước ấm ao đầm). Đoài vũ trụ là khuôn mặt khí gió dương của Tốn (OII). Phân tích quẻ Tốn OII ta có nòng, âm (O), không gian và lửa, thái dương (II) hay gió âm.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Đoài ứng với Lang Hùng sinh ra từ bọc không gian và Tốn OII là Nàng (O) Lửa (II) hay thái dương thần nữ Mẹ Âu Cơ  có một khuôn mặt là không gian O lửa II tức gió âm. Âu Cơ có khuôn mặt bầu không gian lửa này nên mới đẻ ra bọc trứng chim sinh ra trăm Lang Hùng. Hùng Vương Đoài là khuôn mặt nam đại diện cho Âu Cơ  Tốn.

Giải thích dài dòng như thế để cho thấy 12 con chim ở cõi trời, vũ trụ mang tính khí gió (túi trời) Đoài và ở cõi thế gian âm mang tính ao đầm Đoài (túi nước ấm). Qua con số 12 cho thấy chim liên hệ với túi khí gió, túi nước tức liên hệ với nang (túi, trứng) biến âm với nông. Những con chim này là con chim nông. Ở đây trên trống dương thái dương những con chim nông này mang tính lửa, dương tức nông khí gió hay là chim bổ nông (bổ là búa, vật nhọn mang dương tính). Theo duy âm, chim nông đẻ ra Trứng Vũ Trụ là tiền thân của chim Âu Cơ đẻ ra bọc trứng chim ở cõi thế gian.

Xin nhắc lại vật tổ, chim tổ nguyên khởi tối thượng tối cao của Bách Việt là con chim Nông. Chim tổ nông mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng.

Ở tầng Vô Cực chim nông biểu tượng cho cõi hư vô. Theo biến âm n=k (nỏ = khỏ, Pháp ngữ non = Việt ngữ không), ta có nông = không.

Ở tầng Thái Cực, chim nông sinh ra Trứng Vũ Trụ. Nông biến âm với Nang có một nghĩa là Trứng. Mẹ Tổ Âu Cơ có di thể (gene) này hay nói một cách khác đội lốt Mẹ chim Nông Vũ Trụ, Trứng Vũ Trụ nên mới sinh ra bọc Trứng Thế Gian Trăm Lang Hùng.

Ở tầng Lưỡng Nghi chim nông,  chim nang Trứng Vũ Trụ tách ra hai cực: cực dương Nọc, lửa, mặt trời… ứng với tròng đỏ của Trứng Vũ Trụ có chim biểu tượng là chim cắt nọc, dương và cực âm Nòng, nước, không gian… ứng với tròng trắng có chim biểu là chim nông nòng, âm, nước.

Theo duy âm nang là cái bọc cái, biểu tượng bộ phận sinh dục nữ. Nang là nương, nường (cô gái, nường cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ như thấy qua từ đôi “nõ nường”), là nàng. Theo duy dương, nang là lang là chàng

(theo qui luật L là dạng nam hóa của N của Nguyễn Xuân Quang, Tiếng Việt Huyền Diệu).

Ta thấy rõ vì xã hội Bách Việt nói chung và ViệtNamnói riêng theo mẫu hệ trước rồi mới chuyển qua phụ hệ (ngày nay chứng tích mẫu hệ vẫn còn thấy) vì thế chim nông

có trước chim cắt, đẻ ra chim cắt (điều này cũng ăn khớp trăm phần trăm là hư không, không gian, vũ trụ chim nông có trước mặt trời chim cắt). Điều này cũng thấy đúng như trong bài đồng dao nói về vật tổ chim của ViệtNam. Tổng quát ta có bài hát như sau:

Mỏ Nông là Ông Mỏ Cắt.

Mỏ cắt là bác chim di…

Cũng nên biết là có những dị bản là:

Bồ nông là ông bổ cắt..

(bồ nông là nông bọc, nông thái âm, nước, không gian… là ông cắt bổ, cắt búa, lửa, mặt trời, thái dương ở cõi đại vũ trụ…).

hay

Bổ nông là ông bồ cắt…

(chim nông bổ búa thiếu âm là ông bồ cắt thiếu dương ở cõi tiểu vũ trụ).

Ở tầng Tứ Tượng dĩ nhiên cũng có bốn loại chim nông ứng với Bốn Nguyên Sinh Động Lực Nguyên Khởi Chính, về vật thề là Nước, Khí, Lửa, Đất đó là bồ nông thái âm Nước, bổ nông thiếu âm Khí gió, bổ cắt thái dương Lửa và bồ cắt thiếu dương Đất. Bốn loại chim nông ứng với  tứ tượng này còn thấy rõ ở đuôi thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (xem chương Ý Nghĩa Hình Thuyền trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Ở tầng Tạo Hóa, sinh tạo, tái sinh, hằng cửu chim nông mang nghĩa sinh tạo tạo hóa thấy rõ qua tên chim nông là chim Nang có một nghĩa là trứng. Trứng mang nghĩa sinh tạo. Ta thấy rất rõ qua hình ảnh chim nông sinh ra Trứng Vũ Trụ. Trong các huyền thoại Tây phương, chim nông là biểu tượng cho mẹ hiền cao cả thiêng liêng đã xả thân mình để nuôi con. Gặp hoàn cảnh khó khăn chim nông mẹ đã mổ rách ngực mình để lấy máu nuôi con.  Vì thế mà chim nông đã trở thành biểu tượng của đấng Christ trong Thiên Chúa (Jake Page and Eugene S. Morton, Lords of the Air, The Smithsonian Book of Birds tr. 36).

Vì chim nông mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ Sinh dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương nên chim nông được đặt tên ít nhất dưới hai diện nòng nọc, âm dương. Việt Nam theo duy âm, mẫu quyền nên gọi tên con chim này là chim Nông theo cái túi, nang để xúc cá ở dưới mỏ chim mang âm tính nòng. Nông biến âm với nang, nòng. Trong khi đó, ở xã hội Tây phương nhìn theo duy dương, theo xã phụ quyền tức nhìn theo chiếc mỏ rất lớn như chiếc rìu nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang biểu tượng nọc, lửa, dương của nhánh nước. Aristote gọi chim nông là pelican theo chiếc mỏ lớn mang dương tính như chiếc rìu. Pelican có gốc Hy Lạp ngữ pelekus, chiếc rìu  (cùng gốc nghĩa với pelekos, chim gõ kiến).

Hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương của chim nông nhìn theo duy âm tức theo cái túi nang (bồ) và theo duy dương tức theo chiếc mỏ nọc (bổ) còn thấy ghi lại trong sử đồng Đông Sơn. Ở trên mặt trống đồng âm dương Ngọc Lũ I  có hình những con chim nông dưới mỏ có túi nang:

 Chim nông trên mặt trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có túi nang ở dưới mỏ (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 Lưu ý chim nông bay biểu tượng cho cho cõi trên tạo hóa, cõi trời.

Và ở vùng nước trên tang trống đồng Hoàng Hạ:

Chim nông trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ có túi nang ở. Lưu ý con đực đang đạp mái có mỏ túi hình rìu mũi nhọn nọc trong khi con mái mỏ nang hình túi nòng, trong có các chấm nọc mang nghĩa thái dương. Con mắt âm có hai vòng tròn đồng tâm và hai vòng tròn đồng tâm trên người có một nghĩa là thái âm, nước cho biết đây là con chim nước. Con chim nước mỏ có túi nang là con chim nông. Những chấm nọc dương có nghĩa lửa, thái dương cho biết những con chim nông này thuộc ngành nọc mặt trời thái dương.

Mặt khác chim nông được nhìn theo duy dương tức theo chiếc mỏ rìu pelekus (theo tên pelican) thấy trên thạo đồng Hợp Minh.

Vành chim nông ở thạp này mang vóc dáng y hệt các con nông trên trống Hòa Bình  chỉ khác có chiếc mỏ tận cùng bằng hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói), hình mõi rìu. Thấy rõ hơn là hình hai con chim nông có mỏ rìu ở bên trái cùng vành với các con đứng và hai con chim nông có mỏ rìu từ mặt nước bay lên giữa hai chiếc thuyền.

 Lưu Ý

Chim nông được nhìn dưới hại diện nòng nọc, âm dương theo cái túi nang và cái mỏ rìu là một ví dụ điển hình cho thấy tất cả những yếu tố của văn hóa Bách Việt lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng như vật tổ, nhân vật lịch sử, vân vân… phải được nhìn dưới lăng kính trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Việt Dịch nòng nọc, âm dương hay ít nhất cũng phải được nhìn  ở dưới diện lưỡng hợp nòng nọc, âm dương.   

 Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, chim nông ở cõi sinh tạo, tạo hóa Thái Cực, Trứng Vũ Trụ ứng với

Thần Nông-Viêm Đế nhất thể (một nhân vật duy nhất với khuôn mặt lưỡng thể) rồi phân cực ra cực nòng âm Thần Nông không gian có chim biểu là chim nông, nòng âm và cực nọc dương Viêm Đế có chim biểu là chim cắt nọc, dương.

Cũng xin nhắc lại là Thần Nông của chúng ta mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch nòng nọc, âm dương  có khuôn mặt tối thượng tối cao là ông Thần Túi Hư Vô có chim biểu là con chim nông trung tính khác với Thần Nông đầu bò, ông tổ nông nghiệp của Trung Hoa (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Tóm lại 12 con chim nông đứng ở vùng nước tang trống dương thái dương này là những con chim nông  có khuôn mặt chủ là những con chim nông mang dương tính tức những con nông gió bổ nông (vì thế mà có con mắt dương và không vẽ cái túi ở dưới mỏ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt chim bổ nông này là biểu tượng cho Lang Hùng thuộc nhánh lửa lên núi theo mẹ Âu Cơ. Mẹ Tổ Âu Cơ  có một khuôn mặt là loài chim thuộc loài chim nước nông nang đẻ ra túi, bọc nang, bọc trứng, có thể là một loài ngỗng tương đương với con ngỗng Great Crackle của Ai Cập cổ đẻ ra Trứng Thế Gian.

Như thế ở cõi giữa Trung Thế, ở vùng đất dương bốn con Sấu Việt biểu tượng cho nhánh nước Giao Việt Lạc Long Quân và ở vùng nước 12 con chim bổ nông biểu tượng cho nhánh lửa núi Âu Cơ.  Khuôn mặt Giao Việt mang tính chủ (vành thú này ở vùng đất dương gần mặt trời trên trống dương thái dương).

C. HẠ THẾ

Chân trống không có trang trí vì là cõi âm. nên trống này còn giữ được chính thống.

D. THÂN TRỐNG

Thân trống hay eo trống là Trục Thế Giới nối liền ba cõi.

Thân trống có những vành hoa văn thẳng đứng chia thân trống ra 6 ô và ở đáy thân trông có các chữ viết nòng nọc vòng tròn-que giống  như ở tang trống. Trong mỗi  ô chữ nhật có một hình người đứng.

  Hình người trên thân trống Hòa Bình (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 Trang phục đầu của người phía trước có hình hai chiếc sừng cong mang âm tính (thẳng mang dương tính và bằng đầu cũng mang âm tính (nhọn đầu mang dương tính). Như thế hai sừng cong bằng đầu biểu tượng lửa, thái dương ngành nòng âm, nước. Phần phía sau của trang phục đầu là bản cong mang âm tính trong có các sọc song song ngang biểu tượng cho không gian Khôn có những chấm nọc mang nghĩa lửa, thái dương. Như thế phần này diễn tả Khôn ngành thái dương gốm có Khôn dương, thái dương là gió Đoài và Khôn âm thái dương là Chấn. Phần sau gáy có hai chữ que nọc song song mang nghĩa là lửa, thái dương. Chữ này nhấn mạnh cho biết ngành nọc thái dương của những người này.

Như thế trang phục đầu cho biết người này biểu tượng cho ngành nòng Khôn thái dương gồm hai đại tộc Chấn và Đoài.

Taynhững người này cầm phách gồm có hai que ghép lại thành hình tháp nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói)  /\ nhưng để nghiêng mang âm tính trong khi trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I các phách hình tháp nhọn này để đứng, đỉnh chỉ thiên.

Phách cầm ở tay phải nghiêng như đầu mũi tên bắn lên (tay phải mang dương tính) biểu tượng cho gió dương Đoài và tay trái âm cầm phách ngửa hướng ra phía trước hình chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) diễn tản nước chẩu xuôi <<<.

Phách ở hai tay cho thấy người này biểu tượng cho nhánh nòng âm thái âm nước Chấn và nòng dương thiếu âm Đoài.

Như thế trang phục đầu và phách cho biết người này biểu tượng cho ngành nòng Khôn thái dương gồm hai đại tộc Chấn và Đoài. Với các “hoa văn” ở ô bao quanh người này cho thấy họ có khuôn mặt nước dương, biển mang tính chủ.

Lưu Ý

Các nhà khảo cổ học Việt Nam hiện nay cho rằng những người đứng trên thân trống là những ‘dũng sĩ’. Điểm này không đúng. Xin nhắc lại những người và thú ở trên thân trống tức ở trên Trục Thế Giới thường liên hệ với ba cõ Tam Thế. Người có thể là các nhân vật lãnh đạo tinh thần như ông mo, thầy pháp có thể đi lại ba cõi hay các đại biểu của ngành, tộc (như thấy ở đây). Các người này có thể cầm các khí biểu (ceremonial weapons) nhưng không nhất thiết là dũng sĩ. Thú thường là các con vật hiến tế dâng lên ba cõi hay dùng làm phương tiện đi lại ba cõi (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á) .

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là ngành mặt trời thái dương Thần Nông (xin lưu ý khuôn mặt mặt trời

Thần Nông thái dương ở đây là khuôn mặt âm cùng ngành mặt trời thái dương Viêm Đế-Thần Nông khác với Thần Nông thái âm ngành không gian) gồm hai đại tộc Chấn và Đoài với tộc Chấn Giao Việt mang tính chủ.

Tóm lại trang phục đầu và phách cho biết người này biểu tượng cho ngành nòng Khôn thái dương gồm hai đại tộc Chấn và Đoài.

 Kết Luận

Tổng quát thì trống Hòa Bình có mặt trời 12 nọc tia sáng là trống mặt trời Chấn/Cấn thế gian biểu tượng cho nhánh nòng Khôn thái dương của ngành mặt trời thái dương Càn-Khôn. Trống có vành chủ chốt là những con cá sấu mõm dao, sấu gạc, sấu Lạc thái dương nên có một khuôn mặt chủ nước thái dương, biển, mặt trời nước Chấn và khuôn mặt thứ yếu gió dương cò Đoài.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là trống biểu của   nhánh mặt trời thái dương Khôn Thần Nông của ngành mặt trời thái dương Càn-Khôn Viêm Đế-Thần Nông. Ổ cõi thế gian là trống của Chấn  Lạc Long Quân của họ Hồng Bàng thế gian.

Dưới diện lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng họ mặt trời Hồng  Bàng thế gian chỉ gồm có hai nhánh âm và dương là nhánh âm Lạc Long Quân gồm hai đại tộc Chấn Lạc Việt (trong đó có Giao Việt) và đại tộc Đoài Hùng Vương ngành biển và nhánh Kì Dương Vương gồm hai đại tộc Lửa vũ trụ Càn Đế Minh và đại tộc Lửa đất  thế gian Li Hùng Vương ngành núi Âu Cơ (xem trống Phú Xuyên sẽ đăng).

Trống biểu tượng cho Lạc Long Quân-Âu Cơ gồm cả hai nhánh thú bốn chân sống trên mặt đất là con cá sấu Việt Lạc Long Quân và cò gió lang, nông Việt Âu Cơ nhưng có khuôn mặt chủ là trống Giao Việt của tộc người long  nhân, long  hộ, sống trên sóng nước.

Một lần nữa cho thấy trong cùng một nhóm trống Chấn/Cấn mặt trời 12 nọc tia sáng nhưng chia ra nhiều ngành, nhiều tộc, chi tộc  ứng với các khuiôn mặt của Vũ Trụ Tạo Sinh, của Dịch. Trống này  thuộc ngành dương thái dương diễn tả bằng hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ở biên trống ứng với mặt trời rạng  ngời, chói chang phía Viêm Đế dương thái dương trong khi các          trống sấm mưa cóc/ếch thuộc ngành âm thái dương diễn tả bằng hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) ở  biên trống ứng với mặt trời êm dịu phía Thần Nông âm thái dương.

  Lưu Ý

Hai khuôn mặt Viêm Đế dương thái dương và Thần Nông âm thái  dương  ở đây là hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương của cùng    ngành mặt trời thái dương vì trên trống (có  một nghĩa là đực,  dương, mặt trời) biểu tượng cho  đực, dương,mặt trời.

Trống Hòa Bình là một chương sử đồng ghi khắc lại cho biết đây    là trống biểu của nhánh mặt trời thái dương  Khôn Thần Nông của    ngành  mặt trời thái dương Càn-Khôn Viêm Đế-Thần Nông. Ổ cõi thế gian là trống biểu của Chấn Lạc Long Quân của họ Hồng Bàng  thế gian. Trống có khuôn mặt chủ là tộc Dao Việt Cá  Sấu Việt của  nhánh Lạc Việt Lạc Long Quân của Âu-Lạc, của Bách Việt Người Mặt Trời thái dương.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: