TRỐNG NHÓM THIẾU DƯƠNG, TỘC CHẤN HÒA BÌNH/GIAO VIỆT (phần 2 và hết).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài). 

HỌ MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG.

NHÓM TRỐNG THIẾU DƯƠNG Li. 

I. NHÁNH NỌC DƯƠNG THÁI DƯƠNG.

1. HÒA BÌNH, TRỐNG MẶT TRỜI THIẾU DƯƠNG ĐẠI TỘC CHẤN NƯỚC THÁI DƯƠNG NHÁNH NỌC THÁI DƯƠNG/GIAO VIỆT NGÀNH NỌC VIỆT, NHÁNH THẦN NÔNG THÁI DƯƠNG, HỌ MẶT TRỜI HỒNG BÀNG.

(phần 2)

 Nguyễn Xuân Quang

 Trống Hòa Bình (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

.Vành cò bay

Kế đến là vành có 4 hình cò bay. Số 4 là số Cấn tầng 1 có một khuôn mặt hôn phối với Đoài vũ trụ khí gió. Cò có mỏ thon dài hơi cong lên mang âm tính của dương có một nghĩa thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Trong mỏ có dấu hay chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc mũi mác > cho biết là cò thuộc ngành nọc mặt trời, thái dương.

Bờm nọc que luồng gió thổi. Mắt dương chỉ có một vòng tròn. Con mắt vòng tròn-chấm có một nghĩa là thiếu âm, gió.  Cánh hình thảm thần bay trong gió. Thân và đuôi hình diều gió.

Tóm lại 4 con cò bay trên trống này có một khuôn mặt là cò thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió dương hôn phối với Cấn, Chấn.

.Đất âm

.Những vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ở biên trống.

 Ngoài biên trống có 5 vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  gồm hai vành giới hạn ngoài cùng có chấm nọc dương mang nghĩa dương. Hai vành 2 và 4 là hai vành mũi mác dương thái dương. Vành ở chính giữa là vành hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước thái âm Chấn.

 Gộp lại những vành ngoài biên trống nầy có nghĩa là nước-lửa, nước thái dương, mặt trời nước thái dương Chấn nhánh dương thái dương.

Trống này cũng là trống Chấn/Cấn có mặt trời 12 nọc tia sáng nhưng là trống dương thái dương nên không có tượng loài lưỡng cư cóc/ếch như các trống Chấn/Cấn âm thái dương sấm mưa.

-Vùng nước

Vùng nước là phần phình tang trống (trông như một vật đựng nước).

Trống Hòa Bình nhìn ngang (Nguyễn Văn Huyên).

 Tang trống có những hoa văn chữ viết nòng nọc gần giống như ở biên trống chỉ khác là vành hai vòng tròn đồng tâm có thêm tiếp tuyến tạo thành sóng chuyển động mang tính sinh động.

Chủ điểm của tang trống là những con chim đậu trên mặt đất. Những con chim đứng ở vùng nước này bắt buộc trăm phần trăm phải là loài chim nước. Chim đứng cho thấy chim biểu tượng cho cõi trời của đất thế gian chứ chim không bay nên không biểu tượng cho cõi trên, vũ trụ. Vậy đây là loài chim nước đất thế gian. Mắt chim chỉ có một vòng tròn là mắt dương. Từ chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu âm, Đoài vũ trụ khí gió. Chim có mỏ rìu rất lớn. Chân chim thấp lè tè như vịt, chim đứng bụng thấy sát mặt đất. Hai cánh xoải rộng. Trên cổ và người chim có các hình nọc chấm mang ý nghĩa nọc, lửa, mặt trời nguyên tạo cho biết chim thuộc ngành nọc thái dương. Đây là con bổ nông Rìu Nước mang tính Đoài vũ trụ khí gió của ngành nòng âm.

Ở chỗ khác chim bổ nông được diễn tả tương tự nhưng rõ hơn như thấy trên thạo đồng Hợp Minh.

Vành chim nông ở thạp này mang vóc dáng y hệt các con nông trên trống Hòa Bình  chỉ khác có chiếc mỏ tận cùng bằng hình nọc mũi mác, hình mỏ rìu. Thấy rõ hơn là hình hai con chim nông có mỏ rìu ở bên trái cùng vành với các con đứng và hai con chim nông có mỏ rìu từ mặt nước bay lên giữa hai chiếc thuyền.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy vành này trên trống Hòa Bình có 12 con chim với số 12 là số Cấn thế gian (cùng số với 12 nọc tia sáng). Ta đã biết Cấn cũng hôn phối với Đoài (như thấy trong Tiên Thiên Bát Quái). Vậy 12 con chim mang tính Đoài bổ nông gió. Tính gió Đoài này còn thấy qua cặp cánh dương lên như muốn bay.

Tóm lại 12 con chim nông đứng ở tang trống là những con nông gió bổ nông biểu tượng vùng trời đất ân Cấn Âu Cơ.

Ta thấy rõ ở trên mặt trống ở vùng đất âm có 4 con cò gió loài chim sống bên bờ nước (lội nước) biểu tượng bầu trời Cấn Đoài vũ trụ khí gió lưỡng hợp với Chấn đất âm có nước ứng với Âu Cơ Non Cò Gió Tốn, Đoài-Lạc Long Quân Lạc Việt và ở vùng nước âm tang trống có 12 con bổ nông là loài chim nước biểu tượng cho Cấn-Đoài vũ trụ khí gió Âu Cơ Tốn gió hôn phối với Lạc Long Quân nước dương biển Chấn.

C. HẠ THẾ

Chân trống không có trang trí vì là cõi âm. nên trống này còn giữ được chính thống.

D. THÂN TRỐNG

Thân trống hay eo trống là Trục Thế Giới nối liền ba cõi.

Thân trống có những vành hoa văn thẳng đứng chia thân trống ra 6 ô và ở đáy thân trông có các chữ viết nòng nọc vòng tròn-que giống  như ở tang trống. Trong mỗi  ô chữ nhật có một hình người đứng.

  Hình người trên thân trống Hòa Bình (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 Trang phục đầu của người phía trước có hình hai chiếc sừng cong mang âm tính (thẳng mang dương tính và bằng đầu cũng mang âm tính trong khi nhọn đầu mang dương tính). Như thế hai sừng cong bằng đầu biểu tượng lửa, thái dương ngành nòng âm, nước. Phần phía sau của trang phục đầu là bản cong mang âm tính trong có các sọc song song ngang biểu tượng cho không gian Khôn có những chấm nọc mang nghĩa lửa, thái dương. Như thế phần này diễn tả Khôn ngành thái dương gốm có Khôn dương, thái dương là gió Đoài và Khôn âm thái dương là Chấn. Phần sau gáy có hai chữ que nọc song song mang nghĩa là lửa, thái dương. Chữ này nhấn mạnh cho biết ngành nọc thái dương của những người này.

Như thế trang phục đầu cho biết người này biểu tượng cho Khôn ngành nòng thái dương gồm hai đại tộc Chấn và Đoài.

Tay những người này cầm phách gồm có hai que ghép lại thành hình tháp nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói)  /\ nhưng để nghiêng mang âm tính trong khi trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I các phách hình tháp nhọn này để đứng, đỉnh chỉ thiên.

Phách cầm ở tay phải nghiêng như đầu mũi tên bắn lên (tay phải mang dương tính) biểu tượng cho gió dương Đoài và tay trái âm cầm phách ngửa hướng ra phía trước hình chữ nọc mũi mác diễn tản nước chẩy xuôi <<<.

Phách ở hai tay cho thấy người này biểu tượng cho nhánh nòng âm thái âm nước Chấn và nòng dương thiếu âm Đoài.

Như thế trang phục đầu và phách cho biết người này biểu tượng cho ngành nòng Khôn thái dương gồm hai đại tộc Chấn và Đoài. Với các “hoa văn” ở ô bao quanh người này cho thấy họ có khuôn mặt nước dương, biển mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là ngành mặt trời thái dương Thần Nông (xin lưu ý khuôn mặt mặt trời

Tóm lại trang phục đầu và phách cho biết người này biểu tượng cho nhánh Khôn ngành nòng thái dương gồm hai đại tộc Chấn và Đoài.

 Kết Luận

Trống Hòa Bình thuộc nhóm mặt trời thiếu dương Cấn có mặt trời 12 nọc tia sáng  nhánh nọc dương thái dương ngành mặt trời nọc tia sáng tức Nọc Việt là trống mặt trời Chấn/Cấn thế gian. Trống có vành chủ chốt là những con cá sấu mõm dao, sấu gạc, sấu Việt, sấu Lạc thái dương nên có một khuôn mặt chủ nước thái dương, biển, mặt trời nước Chấn và khuôn mặt thứ yếu gió dương cò Đoài.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là trống biểu của đại tộc Lạc Long Quân   nhánh mặt trời thái dương Khôn Thần Nông của ngành mặt trời thái dương Càn-Khôn Viêm Đế-Thần Nông. Ổ cõi thế gian là trống của Chấn  Lạc Long Quân của họ Hồng Bàng thế gian.

Một lần nữa cho thấy trong cùng một nhóm trống Chấn/Cấn mặt trời 12 nọc tia sáng nhưng chia ra nhiều ngành, nhiều tộc, chi tộc  ứng với các khuôn mặt của Vũ Trụ Tạo Sinh, của Dịch. Trống này  thuộc ngành dương thái dương diễn tả bằng hai vành nọc mũi  mác, răng cưa, ở biên trống ứng với mặt trời rạng  ngời, chói chang phía Viêm Đế dương thái dương trong khi các  trống sấm mưa cóc/ếch thuộc ngành âm thái dương diễn tả bằng hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) ở biên trống ứng với mặt trời êm dịu phía Thần Nông nọc âm thái dương.

Trống Hòa Bình là một chương sử đồng ghi khắc lại cho biết đây là trống biểu của đại tộc Dao Việt Cá  Sấu Việt của nhánh Lạc Việt Lạc Long Quân  ngành mặt trời thái dương  Khôn Thần Nông của họ mặt trời thái dương Viêm Đế-Thần Nông.

2. Trống Liên Tộc Đoài-Chấn nhóm thiếu dương, nhánh nọc dương thái dương   Vienna, Khai Hóa.

VIENNA 3

                Trống Vienna hay Khai Hóa (nguồn: A. J. Bernet Kempers, The Kettledrums of Southeast Asia).

  Tổng Quát

Hiện nay trống Khai Hóa có tài liệu nói trống để ở Bảo Tàng Dân Tộc Học tại thủ đô Vienna của Áo. Một giả thuyết khác nói trống ở Bảo Tàng Mỹ Thuật Công Nghiệp nước Áo. Việc miêu tả trống hiện nay được dựa vào tài liệu của nhà nghiên cứu người Áo F. Heger. Ông còn gọi trống này là trống Bắc Việt Gilet I (đặt theo tên người chơi đồ cổ là Lelopold Gilet ở Hà Nội trước đây). Trống cũng được gọi là trống Vienna.

Trống này được phát hiện ở phủ Khai Hóa, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc (thuộc địa bàn cũ Bách Việt), nguyên thuộc sở hữu của một viên tù trưởng người Mèo (Hmong), trống được đưa từ tỉnh Quý Châu tới (Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên) .

Trống thuộc loại cây nấm vũ trụ Nguyễn Xuân Quang VI hay Heger I thường gọi là trống Đông Sơn.

Trống Vienna hay Khai Hóa là trống cổ nhất của nhóm này vì cùng họ hàng lân cận với trống Ngọc Lũ I.

Những điểm mấu chốt:

Mặt Trống.

v tt

Thượng Thế.

Mặt trống ‘ấm’ vì có hiện diện của các vành giới hạn có chấm nọc có nghĩa là dương, lửa, thái dương nguyên tạo và các nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc dương thái dương…

Từ trong ra ngoài có tất cả 13 vành trang trí. Con số 13 Li này xác định trống là trống thiếu dương Cấn núi đất âm có khuôn mặt dương Li 13 làm đại diện. Li lưỡng hợp với Đoài ở dạng tiểu vũ trụ. Như thế rõ ràng khuôn mặt Đoài mang tính trội.

 .Trống đồng Khai Hóa thuộc nhóm trống nọc thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng mũi mác.

.Nhánh nọc dương thái dương vì có hai vành nọc mũi mác có một nghĩa thái dương ở ngoài biên trống.

.Vỏ hư vô, không gian có độ dầy vừa phải, hư vô trung tính chuyển qua không gian mang tính thiếu âm Đoài trước. Khuôn mặt trời Đoài vũ trụ khí gió có thể mang tính trội.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng: có hình thái tứ tượng (hiện gọi lầm là họa tiết lông công) cho biết trống mang trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh, là trống biểu của nhánh, liên tộc.

.Vành sinh tạo.

Giữa hai vành giới hạn chấm nọc là 3 vành diễn tả tứ hành.

4 hanh

Tứ hành.

-Vành 1 là vành chấm vòng tròn (.O) tức IO, thiếu âm có tiếp tuyến từ đỉnh xuống tức từ dương I xuống âm O, theo chiều thiếu âm IO, nguyên thể của khí gió. Đây là vành Đoài khí gió vận hành.

-Vành 2 là vành sóng chữ S gẫy do ba nọc que III hợp lại. Ba nọc que là Càn. Các sóng chữ S gẫy Càn ôm hình giọt nước chuyển động hình bình hành đặc là giọt nước chuyển động có hai nọc que ở hai đầu diễn tả lửa, thái dương. Hình giọt nước-lửa thái dương chuyển động diễn tả Chấn vận hành. Vành này diễn ta sự lưỡng hợp đại vũ trụ lửa thái dương Càn với nước thái âm Chấn.

-Vành 3 ngược lại với vành 1 là vành vòng tròn-chấm (O.) tức OI, thiếu dương có tiếp tuyến từ đáy âm vòng tròn trước lên đỉnh dương của vòng tròn sau tức theo chiều âm O lên dương I, tức OI nguyên thể của đất lửa Li.

Như thế 3 vành này diện tả tứ hành.

Những vành này giống hệt như ở trống Sông Đà.

.Vành giới hạn nọc chấm đặc mang dương tính cho biết trống ngả về phía Khôn dương là Đoài vũ trụ khí gió.

. Vành sinh hoạt nhân sinh.

Vành số 6 là cảnh sinh hoạt nhân sinh. Số 6 là số Tốn lưỡng hợp được cả với Đoài và Chấn. Điểm này cho thấy người ở đây thuộc nhánh Đoài Chấn và Đoài mang tính chủ vì số 6 là số âm thái dương và Đoài IIO là thái dương II của âm O.

-Người

Giữa hai nhà nọc và nòng có những nhóm 4 người múa.

 

clip_image004_thumb2

Bốn nhóm người trên trống Vienna (nguồn: Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên).

Khác với trống Sông Đà cũng có 4 nhóm người nhưng hai nhóm 3 người và 2 nhóm 4 người. Bở vì trống Đà là trống thuộc nhóm thái dương Tốn-Càn nên hai nhóm 3 người cộng lại là 6, Tốn, âm thái dương. Ở đây bốn nhóm đều có 4 người vì số 4 là số Cấn ăn khớp với trống này thuộc nhóm thiếu dương Cấn.

Bốn nhóm người này là 4 tộc ứng với tứ tượng của nhóm Đoài Chấn.

Trang phục đầu diễn tả phía nòng Khôn gồm các tua gió Đoài và các hộp không gian có sọc nước Chấn. tay phải cầm phách để ở vị thếchữ V thẳng hay nghiêng diễn tả Đoài Chấn. Tay trái cầm cậy cong Li Càn âm.

Phách hình từ nọc chữ V  để ở vị trí khác nhau cho biết họ thuộc chi, đại tộc  nào của nhánh nọc âm thái dương.

Ví dụ ta có:

-Người chi tộc Nước.

Người cầm phách để ở vị trí đích thực là chữ V có một nghĩa nước nọc âm thái dương là người thuộc tộc Nước ngành thái dương.

clip_image020

Người cầm phách để ở vị trí chữ V là người thuộc tộc Nước ngành thái dương.

Lưu ý

.Phách đích thực có hình chữ V có hai nhánh bằng nhau.

.Phần cao sau đầu của trang phục đầu người này có hình hộp chữ nhật trong có các sọc song song ngang diễn tả không gian. Ở dưới có một hộp nhỏ sau gáy có sọc đứng diễn tả nước rơi từ trên cao xuống. Tay trái cầm gậy hết sức cong mang nhiều âm tính xác thực họ là người chi tộc nước thái âm ngành thái dương [khác với những người có phần này hình tua gió ngang ở những người chi tộc gió (xem Từ Nọc Mũi Mác Trên Trống Đồng)].

-Người chi tộc Gió.

Ở một nhóm bốn người nhẩy múa có một người tộc Gió dương ngành thái dương tay phải cầm phách từ nọc chữ V có mũi nhọn hướng về phía trước, tay phải chiều dương >, biểu tượng cho gió dương.

clip_image049.jpg

Người tộc Gió dương ngành thái dương tay phải cầm phách từ nọc chữ V nghiệng có mũi nhọn hướng về phía trước, tay phải chiều dương > ăn khớp vớigió dương.

Trang phục đầu phía sau đầu hình ba tua phướn gió. Ở dưới, sau gáy có hình như cánh hay đuôi chim. Tay trái cầm gậy cung cong thích hợp với gió. Tất cả xác thực người này là người chi tộc gió ngành thái dương.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy trang phục đầu của người này giống trang phục đầu của người thổi khèn ở một nhóm khác cũng có ba tua phướn gió:

clip_image051.jpg

Người thổi khèn trên trống Vienna.

Khèn là nhạc cụ bộ gió. Người thổi khèn có một khuôn mặt biểu tượng cho gió. Điểm này được xác thực bằng hình thoi sau gáy. Như đã biết hình thoi biểu tượng cho gió như thấy trong văn hóa các tộc thổ dân Bắc Mỹ châu như Apache, Navajo và Hopi và thấy trên trống Sông Đà (xem Từ Nọc Mũi Mác).

Rõ như ban ngày người này thuộc chi tộc gió.

-Người chi tộc Đất.

Trong một đại tộc 4 người ta thấy có một người sau đây:

clip_image038.jpg

Người chi tộc đất âm trên trống Vienna.

Phần sau gáy có dấu biểu hình chữ nhật trống không. Thường khung chữ nhật nếu có các gạch song song bên trong diễn tả nước hay gió không gian. Ở đây hình chữ nhật trống không có một khuôn mặt diễn tả đất âm. Thật vậy hình chữ nhật để đứng ở phía sau gáy người nhẩy múa ở trên mang hình ảnh trụ nọc bằng đầu (không nhọn) mang âm tính và trống rỗng ở trong cũng mang âm tính. Trụ nọc chữ nhật âm này có một khuôn mặt núi trụ âm, trục thế giới âm biểu tượng cho đất âm.

Điều này được xác thực bởi trang phục đầu phía trước có phần sừng cao có hai nọc que trong có dấu nọc chấm đặc chỉ định tính nọc dương có một khuôn mặt là núi trụ thế gian. James Churchward trong The Sacred Symbols of Mu cũng xác thực hình chữ nhật diễn tả đất mẹ (đất âm):

Theo ông hình chữ nhật là chữ M, đọc là Mà và Mu với u phát âm như trong Đức ngữ u. Biểu tượng mẫu tự Mu là Đất Mẹ (xin nhắc lại Mu chính là Việt ngữ Mụ có nghĩa là o, là mẹ). Hình chữ nhật cũng biểu tượng cho mẹđấtxứ sở, đế quốc và bất cứ thứ gì thuộc về đất.

Người này tay phải cầm phách hình chữ V dạng chữ L khác với phách chữ V có hai nhánh bằng nhau hoàn toàn (như đã biết biểu tượng cho tộc Nước như thấy ở trên). Phách chữ L có âm (nhánh ngắn) có dương (nhánh dài) khác nhau ứng với thiếu dương hay thiếu âm. Ở đây nghiêng về thiếu dương nguyên thể của đất vì như đã nói ở trên sau gáy có hình trụ chữ nhật biểu tượng cho đất âm.

Kiểm chứng với Ai Cập cổ ta cũng thấy nữ thần Isis, mẹ tổ của các Pharaohs đất thế gian có một khuôn mặt biểu tượng cho đất âm thế gian ứng với khuôn mặt Cấn núi của Âu Cơ. Ngai của Isis cũng có hình chữ L.

clip_image0021_thumb.jpg

Isis có trang phục đầu hình ngai vua hình chữ L. Chữ L trong tên viết bằng linh tự quay về phía trái, âm vì Isis là phái nữ.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy trống Vienna là trống thuộc nhóm thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng Cấn tầng 2 (4, 12), Cấn là núi âm (non), đất âm, trên trống (đực, nọc) có khuôn mặt đất Li làm đại diện.

Hiển nhiên phách hình từ nọc chữ V dạng L cho biết người này trên trống Khai Hóa thuộc đại tộc Li âm ngành nọc thái dương.

-Người chi tộc Lửa.

clip_image057.jpg

Người chi tộc Lửa trên trống Vienna tay phải cầm phách từ nọc chữ V dạng nọc mũi mác nghiêng có một nghĩa lửa thái dương biểu tượng lửa thái dươngnhánh nọc âm.

Ở một nhóm bốn người nhẩy múa có một người tay phải cầm phách từ nọc chữ V dạng nọc mũi mác nghiêng có một nghĩa là lửa thái dương nhánh nọc âm. Trang phục đầu phần sừng cao phía trước có hai nọc que, ở giữa là những nọc chấm đặc hình nọc que mang dương tính cho biết người này thuộc tộc nọc, dương thái dương. Phần sau gáy có hình nọc que nằm trong khung không gian diễn tả Càn Khôn. Tay trái cầm gậy chỉ hơi cong, gần như thẳng, mang nhiều dương tính ăn khớp với lửa thái dương Càn.

Tất cả xác thực người này là người chi tộc lửa thái dương ngành nọc âm thái dương.

-Nhà

Cũng có hai nhà nọc mặt trời và hai nhà nòng không gian.

Nhà nọc mặt trời.

Trên mỗi nóc nhà mái cong có một con chim trĩ. Trong nhà có hai người xoã tóc sau lưng, quay mặt vào nhau đang làm một giáo vụ cung nghinh mặt trời. Tóc dài mang âm tính cho biết hai người thuộc nhóm nòng Khôn Đoài-Chấn.

Căn nhà Đoài.

 NHA NOC DOAI

Nhà Nọc Đoài (nguồn A. J. B. Kempers).

Ở hai góc dưới nhà để vật gì không rõ. Hình vẽ của Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên cho thấy để trống không như sau:

 NHA NOC NVH

 Nhà nọc mặt trời (nguồn: Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên).

Trống không là không gian, theo khuôn mặt dương của trống này là Khôn dương, thiếu âm khi gió, Đoài vũ trụ khí gió.

Hình vẽ của nhóm Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên cũng cho thấy con chim trĩ có nét nhỏ, trong sáng  mang dương tính và mào là hai nọc que diễn tả thái dương. Đuôi bằng hơi nghiêng mang âm tính. Thái dương II của âm O là IIO, Đoài.

Căn nhà này thuộc đại tộc Đoài.

Ta cũng thấy nhóm 4 người hướng về căn nhà nọc Đoài này có người sau cùng thổi khèn.

nguoi doai

4 người đại tộc Đoài hướng về nhà nọc Đoài.

Khèn là nhạc cụ thuộc bộ gió. Trong bầu khèn có chữ chấm vòng tròn có một nghĩa Đoài, khí gió. Trang phục đầu hình phướn gió, sau gáy có hình thoi biểu tượng cho gió chuyển động Đoài khí gió (giống sóng hình thoi ở biên trống).

Rõ ràng nhóm này thuộc đại tộc Đoài hướng vế căn nhà nọc mặt trời Đoài.

.Căn nhà Chấn.

NHA NOC CHAN

Nhà nọc Chấn (nguồn A. J. B. Kempers)

 NHA NOC CHAN KEMPERS

(Hình vẽ của nhóm Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên).

 Căn nhà nọc Chấn có để 2 vật đựng mang tính âm.

 Căn nhà này ở hai dưới có để hai vật đựng vật nấu nướng hay cái cối. Hai vật đựng, cối là hai âm, thái âm. Hai vật âm ở đây có góc cạnh mang dương tính diễn tả Chấn.

Bán viên có căn nhà này là bán viên Chấn.

Ta cũng thấy 4 người hướng về căn nhà nọc này có trang phục đầu phía trước có 4 sọc cong như thác nước diễn tả nước thái dương và phía giữa hình cánh có các sọc ngang nước Chấn. Phần sau gáy hình hộp có sọc đứng diễn tả nước không gian. Nhóm này là đại tộc Chấn.

NGUOI CHAN

Nhóm người Chấn hướng về nhà nọc Chấn.

-Dàn trống

Bên mỗi nhà nọc mặt trời có dàn trống chỉ có 2 người đánh trống tóc dài mang âm tính.

trong

Dàn trống chỉ có 2 người (nguồn: Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên)

Nhà nòng không gian.

Giống như ở trống Sông Đà, phía trước nhà có những chữ vòng tròn có chấm, có tác giả cho là những cái cồng, ở đây nối kết lại với nhau thành chuỗi đứng.

Nhà Nòng Li.

nha nong 2

Nhà Nòng Li (A.J. B. Kempers).

nha nong Li

Nhà nòng Li (nguồn: Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên).

Trước nhà có 5 chuỗi hình sóng gồm 18 vòng tròn. Số 18 là số Khảm tầng 3 (2, 10, 18). Khảm hôn phối với Li. Như thế nhà này là nhà nòng Li lưỡng hợp với nhà nọc Đoài.

Ta cũng thấy nhóm 4 người hướng về căn nhà nòng Li ở bán viên Đoài này mang tính Li.

NGUOI LI

4 người hướng về nhà nòng không gian Li.

Trang phục đầu người sau cùng cũng có hình tua phướn gió của đại tộc Gió Đoài nhưng tua dưới cùng nằm ngang cho biết là chi đất Li đất bằng. Phần sau gáy của trang phục đầu có hình rìu núi tháp diễn tả lửa đất Li.

Nhóm người hướng về ngôi nòng Li là nhóm ngưới Li. Nhà nòng LI lưỡng hợp với nhà nọc Đoài ở dạng tiểu vũ trụ.

.Nhà nòng không gian Càn.

Căn nhà này đi với nhà nọc Chấn (thuộc bán viên Đoài Chấn).

nha nong Can

Nhà nòng Càn (nguồn: A.J. B. Kempers).

nha nong Can nvh

Nhà nòng Càn (nguồn: Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên).

Trước nhà có 5 chuỗi sóng có 15 vòng tròn Khôn. Số 15 là số Càn tầng 2 (7, 15). Nhà này là nhà nòng Càn-Khôn. Nhà nòng Càn lưỡng hợp với nhà nọc Chấn ở dạng lưỡng hợp đại vũ trụ.

Ta cũng thấy nhóm bốn người hướng về nhà nòng Càn là đại tộc Càn:

 nguoi can nvh

Nhóm Càn hướng về phía nhà nòng Càn.

Trang phục đầu của người cuối cùng có tua ngang nước của đại tộc Chấn. Phần trước trán của trang phục đầu có hai nọc cong, ở giữa có các dấu chấm nọc có nghĩa là lửa thái dương phía âm và sau gáy có hình nọc tam giác nằm trong khung không gian Khôn biểu tượng cho lửa Càn trong không gian Khôn. Đây là tộc Càn.

Ta thấy rõ nhà nọc Chấn lưỡng hợp với nhà nòng Càn theo lưỡng hợp đại vũ trụ.

-Cảnh giã chầy cối.

Không có. Điểm này cho thấy ‘âm suy’, khuôn mặt dương ‘trống’ mang tính trội tức Đoài, Khôn dương mang tính trội.

.Vành sóng

Vành số 9 có hình sóng gồm sóng ba vòng tròn đồng tâm có chấm có tiếp tuyến.

song chan

Vành sóng cuộn (nguồn: A. J. B. Kempers).

Hình này có thể coi là hai vòng tròn thái âm nước trong có dấu là chấm vòng tròn có một nghĩa là dương, mặt trời. Ba vòng tròn có chấm là lửa nước, nước thái dương, mặt trời nước ứng với Chấn. Ở mỗi tiếp tuyến nẩy ra hai nọc hình đầu chim có sừng hay bờm gió cường điệu có con mắt dương.

Nếu coi là chim có sừng ba nọc que là chim lửa thái dương Càn ứng với chim mỏ cắt lớn. Ta có hai chim lửa là thái dương. Vành này là vành Chấn thái dương.

Nếu coi chim có bờm gió thì đây là chim bổ nông gió Đoài. Vành này diễn ta hai khuôn mặt chính Đoài Chấn của trống liên hợp với nhau.

Tất cả có 11 đầu sóng ba vòng tròn đồng tâm. Số 11 là số Đoài tầng 2 (3, 11) cho biết khuôn mặt Đoài mang tính chủ.

.Vành cò bay

Vành số 10 là 18 hình cò bay, mỏ, bờm và đuôi dài.

co

Cò trên trống Vienna.

Số 18 là Khảm tầng 3 (2, 10, 18). Khảm OIO là Nàng O thiếu âm IO có Tốn IIO là Chàng thiếu âm IO tức IIO Đoài làm đại diện. Đây là những còn cò gió. So sánh với 18 con cò bay gió Lang ở trống Ngọc Lũ I ta cũng thấy 18 con cò ở đây là cò gió đúng trăm phần trăm.

.Ba vành ngoài biên trống.

Ngoài biên trống: vành 11 và 13 ở biên trống có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc mũi mác  có nghĩa là nọc dương thái dương sinh động. Trong nọc mũi mác còn bỏ hai dấu chấm có nghĩa là hai dương nguyên tạo xác thực, nhấn mạnh thêm tính thái dương.

Hai vành này kẹp ở giữa vành 12 gồm 4 đoạn sóng chữ S có góc cạnh Chấn xen kẽ với 4 đoạn hình thoi kèm theo hai vòng tròn chấm có một nghĩa Đoài ngành thái dương giống như ở trống Sông Đà.

song hinh thoi

Vành hình thoi Đoài và sóng chữ S có góc cạnh Chấn.

Ba vành này cho biết trống có khuôn mặt Đoài-Chấn nhánh nọc dương thái dương. Sự hiện diện của các vành giới hạn chấm nọc mang dương tính cho biết khuôn mặt Đoài mang tính chủ.

Rất tiếc có chỗ bị mờ không đếm rõ được có bao nhiêu hình thoi và có bao nhiêu sóng góc cạnh.

Đoài Chấn cùng nằm trên một vành như ở trống trống Sông Đà nên đây là trống liên tộc, loe6n hiệp hai tộc Đoài-Chấn.

 Vùng Nước Tang Trống.

Có 6 hình thuyền như trên trống trống Sông Đà, Hoàng Hạ, Ngọc Lũ I. Như vậy tổng quát cũng mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh như các trống này. Rất tiếc không có hình vẽ chi tiết.   

 Chân trống: không có trang trí.

Thân trống.

Có trang trí  hình người như ở thân trống trống Sông Đà nhưng rất tiếc không có hình vẽ chi tiết.   

 Kết Luận

Trống đồng Vienna Khai Hóa là trống liên tộc, liên hiệp Đoài vũ trụ khí gió-Chấn nước thái dương, thuộc nhóm trống mặt trời  thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng nhánh nọc dương thái dương, ngành mặt trời thái dương.

Lưu ý:

Số 12 là số Cấn tầng 2 (4, 12) có những khuôn hôn phối chính với Chấn (Âu Cơ Cần Non hôn phối với Lạc Long Quân Chấn Biển)  và với Đoài [Hoàng Hậu Hùng Vương thái tổ Nàng Đất Cấn (Vụ Tiên Nàng Nước, Long Nữ Nàng Gió, Âu Cơ Nàng Lửa) hôn phối với Hùng Vương Thài Tổ với khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió]. Thường thì khuôn mặt Chấn mang tính chủ như thấy qua các trống biểu tộc người trong vũ trụ giáo như trống Hòa Bình, Bản Thôm, Miếu Môn II,  Làng Vạc I… và các nhóm trống sấm mưa cóc/ếch có mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng đều là trống Cấn-Chấn.

Tuy nhiên ở  đây trống Cấn thiếu dương biểu tượng cho cả hai khuôn mặt trời Chấn Đoài thấy qua vành có những đoạn sóng nước có góc cạnh dương và hình thoi gió ở biên trống, vành sóng chữ S Chấn và vành 18 cò gió. Khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió có lẽ mang tính trội vì mặt trống ‘ầm’, có sự hiện diện của vỏ không gian mỏng mang dương tính, các vành giới hạn nọc chấm đặc mang dương tính, mặt trống có 13 vành Li lưỡng hợp với Đoài vũ trụ khí gió.

3. Trống Tộc Thái Âm Chấn nhóm trống thiếu dương, nhánh nọc dương thái dương  Bản Thôm. 

BAN THOM

Trống Bản Thôm (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt:

.Trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc dương thái dương có vành nọc mũi mác dương thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian rất dầy mang tính thái âm nước Chấn.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng đơn, đồng nhất biểu tượng cho một đại tộc, tộc và có 7 nọc mũi mác chồng lên nhau. Số 7 là số dương thái dương Càn lưỡng hợp với dương thái âm Chấn.

.Vành sinh tạo vận hành: có ba vành gồm hai vành nọc mũi mác có một nghĩa thái dương kẹp giữa vành vành hai vòng tròn đồng tâm thái âm nước. Gộp lại có nghĩa là nước thái dương Chấn.

.Vành giới hạn trống không mang âm tính.

.Vành sinh hoạt nhân sinh.

Có 6 người nhẩy múa. Số 6 Tốn có một khuôn mặt hôn phối với Chấn [Âu Cơ có một khuôn mặt Tốn OII là Nàng (O) Lửa (II) hôn phối với Chàng (I) Nước OO tức IOO, Chấn Lạc Long Quân]. 6 người nhẩy múa là tộc Chấn-Tốn Lạc Long Quân-Âu Cơ.

Có hai nhà nọc và hai nhà nòng. Nhà nọc mái võng hình thuyền tộc Chấn.

.Vành 8 cò bay. Số 8 là số Khôn có một khuôn mặt hôn phối với Càn. Nhóm cò này là cò Càn. Thật vậy cò không có bờm mang tính siêu dương Càn. Cánh thẳng nọc que  mang tính Càn. Phần dưới hai cánh hình hai nọc mũi mác có một nghĩa dương thái dương Càn.

Tóm lại cò Càn cho biết trống có một khuôn mặt dương thái dương Càn lưỡng hợp với dương thái âm Chấn ngành mặt trời thái dương.

.Hai vành ngoài biên gồm một vành nọc mũi mác dương, thái dương và vành hai vòng tròn đồng tâm thái âm nước. Gộp lại là nước dương Chấn.

Như thế trống Bản Thôm là trống biểu của tộc thái âm Chấn, thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc dương thái dương, ngành mặt trời thái dương.

4. Trống Tộc Thái Âm Chấn nhóm trống thiếu dương, nhánh nọc dương thái dương  Làng Vạc I. 

LANG VAC I BIS

Trống Làng Vạc I (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt:

.Trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc dương thái dương có vành nọc mũi mác dương thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian rất mỏng mang tính dương Càn hay Li.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng đơn, đồng nhất biểu tượng cho một đại tộc, tộc và có 5 nọc mũi mác chồng lên nhau. Số 5 là số Li.

.Vành sinh tạo vận hành: có một  vành chấm hai vòng tròn đồng tâm nước dương Chấn.

.Vành giới hạn nọc chấm đặc mang dương tính.

.Vành 4 cò bay. Số 4 là số Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Chấn và có Li là đại diện (Li 5 là đại diện phía dương cho 4). Nhóm cò này là cò Li-Chấn. Cánh và thân hình chữ T trụ chống trời, trục thế giới biểu tượng cho đất dương Li.

Tóm lại cò là cò Li của tộc Chấn.

.Ba vành ngoài biên gồm có hai vành nọc mũi mác dương, thái dương. Trong có ba nọc chấm đặc hình núi tháp Li và vành chấm hai vòng tròn đồng tâm thái âm nước. Gộp lại là nước dương Chấn-Li.

Như thế trống Làng Vạc I là trống biểu của tộc thái âm Chấn tương hợp với tộc Li, thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc dương thái dương, ngành mặt trời thái dương.

5. Trống Thiếu Dương Tộc Nước Chấn Nhánh Nọc Dương Thái Dương Làng Gọp I. 

LANG GOP

Trống Làng Gọp I (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt:

Tương tự như trống Làng Vạc I chi khác vài chi tiết.

.Vỏ vũ trụ/không gian rất dầy mang tính thái âm Chấn rất đúng ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que ở trống này.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất có các sọc nghiêng diễn tả không gian Khôn. Khôn ở đây là Khôn âm vì vỏ không gian rất dầy. Khôn âm là nước.

.vành 4 cò bay. Số 4 là số Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Chấn (Âu Cơ Non hôn phối với khuôn mặt  Lạc Long Quân Biển). Cò có bờm như hình mái che mưa. Trong mỏ có hình Y nằm mang hình ảnh ly có chân chalice có một nghĩa âm thái dương Chấn. Cánh hình vật đựng (chậu hay bát) biểu tượng cho nước Chấn. Trong cổ có nọc que cong hình thuyển biểu tượng cho nước dương Chấn. Tóm lại cò là cò nước Chấn.

Như thế trống Làng Gọp I giống trống Lành Vạc I là trống biểu của tộc Nước dương Chấn, thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc dương thái dương, ngành mặt trời thái dương.

Và còn nhiều trống loại thiếu dương 12 nọc tia sáng tộc Chấn nhánh nọc dương thái dương nữa như trống Miếu Môn II, Đồng cẩu, Đào Thịnh…

II. NHÁNH NỌC ÂM THÁI DƯƠNG.

Như đã biết nhánh nọc âm thái dương là trống có vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống.

Nhánh này chia ra làm hai phụ nhánh:  phụ nhánh trống biểu tượng tộc người hay diễn đạt vũ trụ thuyết không có tượng cóc/ếch và phụ nhánh trống sấm có hay không có tượng cóc/ếch.

  1. Trống Thiếu Dương Biểu Tượng Tộc Người hay Vũ Trụ Tạo Sinh Không Có Tượng Cóc/Ếch.

a. Các Trống Thiếu Dương  Biểu Tượng Tộc Gió Đoài Vũ Trụ Khí Gió 

-Trống Thiếu Dương Tộc Gió Nọc Âm Thái Dương Phú Duy.

PHU DUY

Trống Phú Duy (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt:

.Trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc âm thái dương có hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian rất dầy mang âm tính. Ở đây diễn ta thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió, đúng ra phải dầy vừa phải thôi. Trống này là trống muộn

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái tứ tượng cho thấy trống mang nghĩa vũ trụ tạo sinh.

.Vành sinh tạo vận hành: có ba vành diễn tả tứ hành: vành trong cùng chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Vành ở giữa gồm vành sóng chữ S gẫy ba lửa thái dương Càn ông các chữ S mập nước thái âm Chấn. Ta có lưỡng hợp thái dương thái âm. Vành bên ngoài  vòng tròn-chấm có một nghĩa thiếu dương đất Li. Tứ hành ăn khớp với tứ tượng cũng cho thấy trống có diễn tả vũ trụ thuyết,

.Vành giới hạn nọc chấm đặc mang dương tính thích hợp với khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió.

.Vành 4 cò bay. Số 4 là số Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Đoài vũ trụ khí gió (Hoàng Hậu Hùng Lang Nàng Đất Cấn hôp phối với khuôn mặt  bầu trời Đoài vũ trụ khí gió của Hùng Lang dưới dạng trời và đất). Cò có bờm cong theo chiều gió bay. cánh vòm vung bầu trời có các sọc song song theo chiều gió. Thân và đuôi hình diều gió. Đặc biệt trên người có nhiều nọc chấm đặc mang dương tính cho biết thêm là cò gió.

Tóm lại cò là cò Đoài vũ trụ khí gió.

.Ba vành ngoài biên gồm hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương kẹp giữa vành sóng sinh tạo chấm-vòng tròn có một nghĩa Đoài vũ trụ khí gió. Gộp lại là gió Đoài vũ trụ khí gió nọc âm thái dương.

Như thế trống Phú Duy là trống biểu của tộc hiếu âm Gió, thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

-Trống Thiếu Dương Tộc Gió Nọc Âm Thái Dương Làng Vạc III.

LANG VAC III

Trống Làng Vạc III (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống giống trống Phú Duy ở trên chỉ khác vài chi tiết. Hình thái tứ tượng ở trống này có tượng nước dương Chấn được diễn tả bằng từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là  nước dương Chấn thay vì là hai giọt nước dương Chấn như ở trống Phú Duy. Mỏ cò ở đây có dấu (accent) tam giác có một nghĩa dương, thái dương thay vì các nọc chấm đặc ở thân có ở trống Phú Duy cho biết là cò thái dương II của phía nòng âm O tức IIO, quẻ Đoài vũ trụ khí gió. Cò mang vóc dáng cò gió rõ hơn ở trống Phú Duy.

Như thế trống Làng Vạc III cũng là trống biểu của tộc thiếu âm Gió, thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

-Trống Thiếu Dương Tộc Gió Nọc Âm Thái Dương Lũng Xuyên.

LUNG XUYEN

Trống Lũng Xuyên (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống tương tự như trống Phú Duy, Làng Vạc III ở trên chỉ khác vài chi tiết. Hình thái tứ tượng ở trống này có tượng nước dương Chấn được diễn tả bằng từ chấm-vòng tròn là sai ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que, đúng ra phải là từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn. Trống đã rất muộn. Vùng sinh tạo vận hành có ba vành diễn tả tứ hành không theo qui ước chính thống. Vành 1 là những gạch nhỏ nghiêng xuống về phía phải dương diễn tả thiếu âm gió Đoài vũ trụ khí gió. Vành giữa chữ S gầy tia chớp lửa thái dương Càn ông chữ S mập nước dương thái âm Chấn. Vành  còn lại là những gạch nhỏ nghiêng xuống về phía trái âm diễn tả  thiếu dương Li.

 Cò ở trống này bờm gió bay tẽ hai rất rõ.  Cánh bằng phần dưới lõm hình nọc mũi mác > hai bên có một nghĩa thái dương và các sọc xuôi theo chiều gió bay. Trong cánh cũng có các nọc chấm đặc mang dương tính nghiêng về phía cò gió. Đặc biệt có dấu tam giác đặc cũng có một nghĩa là thái dương, ở đây đặc đen mang âm tính tức thái dương II của âm O là quẻ Đoài vũ trụ khí gió.  Mỏ cò ở đây có dấu (accent) nọc mũi mác thái dương. Tóm lại cò là cò gió.

Lưu Ý. 

Qua ba con cò gió ở đây ta thấy có những điểm mấu chốt có thể dùng làm hệ luận:

-Cả ba đều có yếu tố dương, thái dương là nhiều nọc chấm đặc , tam giác và nọc mũi mác đi cùng với bờm cho biết rõ chúng là cò Gió (nếu không có bờm thì chúng là cò Càn).

-Cả ba phần dưới cánh hai bên đều có chỗ lõm vào hình nọc mũi mác > trông như hai đầu mũi tên bay trong gió và trong cánh có các sọc gió bay. 

-Cả ba nhóm đều có 4 cò bay. Số 4 là số Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Đoài vũ trụ khí gió. 

Như thế trống Lũng Xuyên cũng là trống biểu của tộc thiếu dương Gió, thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

-Trống Thiếu Dương Tộc Gió Lưỡng Hợp với Thiếu Dương Li Nhánh Nọc Âm Thái Dương Yên Tập.

YEN TAP

Trống Yên Tập (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt:

.Trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc âm thái dương có hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian hơi  dầy diễn ta thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng đơn có hình thái tứ tượng viết sai có tượng nước  dương Chấn diễn đạt bằng từ chấm-vòng tròn, đúng ra phải là từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn. Trống này là trống muộn.

.Vành sinh tạo vận hành: có ba vành diễn tả tứ hành: vành trong cùng chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Vành ở giữa gồm vành sóng chữ S gẫy ba lửa thái dương Càn ông các chữ S mập nước thái âm Chấn. Ta có lưỡng hợp thái dương thái âm. Vành bên ngoài  vòng tròn-chấm có một nghĩa thiếu dương đất Li. Tứ hành ăn khớp với tứ tượng cho thấy trống có diễn tả vũ trụ thuyết,

.Vành chim đứng: đặc biệt trống này có thêm vành 8 chim đứng hình con cú có hai mắt mở lớn. Số 8 là số Khôn. Khôn dương là khí gió Đoài vũ trụ khí gió. Chim cú là loài chim hú biểu tượng cho gió (gió hú) Đoài vũ trụ khí gió tương tự như chim tu hú biểu tượng cho gió. Chim cú là loài chim đêm nên biểu tượng cho gió âm. Chim đứng trên đất Li nên là chim biểu tượng gió âm của thiếu dương đất Li.

.Kế đến là vành sóng từ chấm-vòng tròn giống như vành 1 ở vùng sinh tạo vận hành có nghĩa là thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió.

.Vành giới hạn nọc chấm đặc mang dương tính thích hợp với khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió.

.Vành 6 cò bay. Số 6 là số Tốn, âm thái dương có một khuôn mặt gió âm có gió dương Đoài vũ trụ khí gió là đại diện. Cò có bờm gió tẽ hai, cong theo chiều gió bay. Cánh vòm vung bầu trời có các sọc song song theo chiều gió. Thân và đuôi hình diều gió.

Tóm lại cò là cò Đoài vũ trụ khí gió.

.Ba vành ngoài biên gồm hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương kẹp giữa vành sóng sinh tạo hai vòng chấm-vòng tròn có một nghĩa Đoài vũ trụ khí gió và Li đất dương. Gộp lại là thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió lưỡng hợp với thiếu dương Li đất nhánh nọc âm thái dương.

Như thế trống Yến Tập là trống biểu của tộc thiếu âm Gió lưỡng hợp với thiếu dương Đất, thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

Dĩ nhiên còn nhiều trống tộc gió nữa trong nhóm trống thiếu dương mặt trời 12 nọc tia sáng tuy rằng diễn đạt sai lạc chữ nòng nọc vòng tròn-que hay diễn đạt theo ý riêng của người làm trông không còn theo qui ước chính thống như trống Ngọc Lũ II, Cửu Cao, Thiết Dương, Định Công I & IV…

b. Trống Thiếu Dương Tộc Nước Chấn Nhánh Nọc Âm Thái Dương  

. Trống Thiếu Dương Tộc Nước Chấn Nhánh Nọc Âm Thái Dương Cẩm Thủy. 

CAM THUY

Trống Cẩm Thủy (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt:

.Trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc âm thái dương có hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian mỏng mang dương tính, ở đây đúng ra phải rất dầy mang tính thái âm  nước. Đây là trống muộn.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất có 6 nọc mũi mác, đúng ra phải là 7 Càn lưỡng hợp với Chấn cho biết mặt trời có khuôn mặt Chấn.

.Vành sinh tạo vận hành: chỉ có một vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấncho biểu tượng trống chỉ là trống biểu của một tộc Chấn.

.Vành giới hạn nọc chấm đặc mang dương tính cho biết tộc mang tính thái dương.

.Vành 4 cò bay. Số 4 là số Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Chấn (Âu Cơ Non hôn phối với khuôn mặt  Lạc Long Quân Biển). Cò có bờm như hình mái che mưa. Mắt hình ly có chân chalice có một nghĩa âm thái dương Chấn  (bộ phận sinh dục nữ ngành thái dương)

Thân có sọc nghiêng mưa. Tóm lại cò là cò nước Chấn.

.Ba vành ngoài biên gồm hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương kẹp giữa vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn. Gộp lại là Nước dương Chấn .

Như thế trống Cẩm Thủy là trống biểu của tộc thái âm Nước, thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

 Trống Thiếu Dương Tộc Nước Chấn Nhánh Nọc Âm Thái Dương Mèo Vạc III. 

meo vac III

Trống Mèo Vạc III (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống hết sức muộn (nhóm Đ-III-4).

Những điểm mấu chốt:

.Vỏ vũ trụ/không gian rất mỏng mang  dương tính đúng ra phải rất dầy.

.Mặt Trời thiếu dương 12 nọc tia sáng hình đầu bút lông mang âm tính. Khối mặt trời không chói chang còn thấy có hình đĩa tròn mang âm tính. Đây là mặt trời êm dịu nhánh nọc âm thái dương.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất có hai vòng đồng tâm thái âm, nước.

.Vành sinh tạo vận hành: chỉ có một vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược theo duy âm là Khôn nọc âm thái dương Chấn.

.Vành giới hạn trống không mang âm tính.

Còn lại là các vành trống không gian diễn tả không gian giống như ở các  khoảng không gian giữa các nọc tia sáng mang tính nước.

.Không có vành cò bay (trống đã hết sức muộn).

.Ba vành ngoài biên gồm hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương kẹp giữa vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn. Gộp lại là Nước dương Chấn .

Như thế trống Mèo Vạc III mặc dù rất muộn diễn đơn sơ nhưng cũng là trống biểu của tộc thái âm Nước, thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

2. Trống Thiếu Dương Biểu Tượng Sấm hay Trống Sấm Thiếu Dương.

Trống Sấm thiếu dương có hai chi: chi có tượng cóc/ếch và chi không có tượng cóc/ếch.

-a. Trống Sấm Thiếu Dương Chi Không Có Tượng Cóc/Ếch.

Trống Sấm thiếu dương không có tượng cóc/ếch ít và ít cổ hơn so với các trống sấm thiếu dương có tượng cóc/ếch. Trống ít cổ, rất muộn có lẽ vì đúc thêm tượng cóc phiền phức và tốn kém hơn.

a1.Trống Thiếu Dương Sấm Dông Đầu Non Không Có Tượng Cóc/Ếch Đông Hòa I.

DONG HOA I

Trống Đông Hòa I (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt:

.Có các yếu tố đặc trưng của trống sấm: có 2 dóng sấm , có vành sóng sấm gầm, cò sấm.

.Trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc âm thái dương có hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian rất dầy mang tính thái âm Chấn rất đúng ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que ở trống này.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất có các sọc nghiêng diễn tả không gian Khôn. Khôn ở đây là Khôn âm vì vỏ không gian rất dầy. Khôn âm là nước,. nọc que nọc chấm đặc dương, lửa Càn.  khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có nghĩa là nước dương Chấn  hay nhìn theo lưỡng cực là Khôn-Càn. nước- lửa liên tác tạo ra sấm.

.Vành sinh tạo vận hành: có ba vành diễn tả tứ hành: vành 1: sống chữ S gẫy ba gầy tia chớp lửa Càn ôm chữ S mập nước, mưa Chấn. Vành 2: vòng sóng  từ vòng tròn-chấm có nghĩa là thiếu dương  Đất Li. Vành 3: nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược có một nghĩa thiếu âm gió Đoài vũ trụ khí gió. Ở đây có tứ hành mang nghĩa trọn vẹn vũ trụ tạo sinh như thế đi ngược lại ta thấy hình thái ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng ta phải lấy theo nghĩa Khôn-Càn.

.Vành giới hạn trống không mang âm tính thích hợp với khuôn mặt Khôn âm sấm mưa Chấn.

.Vành sóng cuộn nước dương nhọn đầu sấm gầm đan vào nhau như đã nói ở trên là yếu tố đặc trưng của sấm.

.Vành 4 cò bay. Số 4 là số Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Chấn (Âu Cơ Non hôn phối với khuôn mặt  Lạc Long Quân Biển). Cò có bờm như hình ‘áo tơi’ mái che mưa. Cánh có hình gợn sóng ở giửa có hai nọc que nọc chấm đặc có một nghĩa lửa sinh tạo. Nước lửa tạo ra sấm. Cò này là cò sấm.

. Dóng sấm

Xen kẽ với cò có hai dóng sấm chữ thập diễn tả sấm gầm bốn phương trời ứng với nghĩa Bốn Nguyên Sinh Động Lực Chinh của tứ tượng. Như đã nói ở trên dóng sấm là yếu tố đặc trưng của sấm.

.Ba vành ngoài biên gồm hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương kẹp giữa vành gồm có hai vòng: từ chấm- vòng tròn thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió và vòng từ  vòng tròn-chấm thiếu dương Li. Gộp lại là lưỡng hợp thiếu âm và thiếu dương nhánh nọc âm thái dương.

.Không có tượng cóc/ếch.

Như thế trống Đông Hòa I là trống sấm thiếu dương lưỡng hợp thiếu âm gió Đoài vũ trụ khí gió với thiếu dương đất  núi Li, có thể coi như là Sấm Dông Đầu Non  không có tượng loài lưỡng cư thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

a2.Trống Thiếu Dương Sấm Gió Mưa hay Sấm Dông Mưa Đoài vũ trụ khí gió-Chấn Không Có Tượng Cóc/Ếch Hàng Bún.

HANG BUN

Trống Hàng Bún (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt:

.Có các yếu tố đặc trưng của trống sấm: có 2 dóng sấm , có vành sóng sấm gầm, cò sấm.

.Trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc âm thái dương có một vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian rất dầy mang tính âm của phía nòng âm Khôn Chấn Đoài vũ trụ khí gió.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái lưỡng ngành nòng nọc (âm dương) xen kẽ diễn tả tứ tượng. Ngành nòng gồm bờm gió Đoài vũ trụ khí gió và hai giọt nước dương Chấn. Ngành nọc gồm các nọc mũi mác hở đầu lửa thái dương Càn và nọc que có các nọc chấm đặc chung quanh diễn tả núi trụ thế gian Đất Li.

.Vành giới hạn nọc chấm đặc mang dương tính nghiêng về Khôn dương Đoài vũ trụ khí gió mang tính trội.

.Vành sinh tạo vận hành: có hai vành diễn tả tứ hành: vành 1: sống chữ S gẫy ba gầy tia chớp lửa Càn ôm hai tam giác ngược nước âm thái dương, mưa Chấn. Vành 2: vòng sóng  từ chấm-vòng tròn thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió và vòng từ  vòng tròn-chấm thiếu dương Đất Li. Hai vành này diễn tả tứ tượng.

.Vành mang tính chủ của trống.

Vành kế tiếp phải coi là không thuộc vào nhón vành sinh tạo vận hành mà là một vành riêng rẽ. Vành này diễn tả danh tính của trống. Vành này là nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương biểu tượng cho Khôn Đoài vũ trụ khí gió-Chấn ngành thái dương . Theo duy dương như ở đây nằm giữa hai vành giới hạn nọc chấm đặc dương có một nghĩa là dương của âm tức thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Vành này cho biết khuôn mặt chủ của trống là Đoài vũ trụ khí gió. Trống có khuôn mặt sấm dông mang ti1ng trội.

.Vành sóng cuộn dương nhọn đầu sấm gầm đan vào nhau như đã nói ở trên là yếu tố đặc trưng của sấm. Ở đây mang dương tính vì có vành giới hạn nọc chấm đặc dương nên coi như là một thể điệu của sóng hình thoi Gió chuyển động, có nghĩa là sóng gió dông của sấm dông.

.Vành 8 cò bay. Số 8 là số Khôn. Khôn dương là thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió (ở đây Khôn dương vì vành giới hạn là nọc chấm đặc). Cò có mỏ cong lên mang âm tính. Có con mắt dương chấm-vòng tròn. Trong mỏ có dầu nọc mũi mác thái dương. Bờm cong nhọn mang tính gió. Cánh vòm trời hình mái nhà có các sọc song song theo chiều gió. Đầu cánh có hai chùm lông gió. Cánh và thân trông như lọng nấm gió. Cò nghiêng về cò gió, sấm dông.

. Dóng sấm

Xen kẽ với cò có hai dóng sấm chữ thập diễn tả sấm gầm bốn phương trời ứng với nghĩa Bốn Nguyên Sinh Động Lực Chinh của tứ tượng. Như đã nói ở trên dóng sấm là yếu tố đặc trưng của sấm.

.Ngoài biên trống chỉ một vành giống như vành diễn tả tính chủ của trống nằm sát cạnh hai vành tứ hành là vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương có một khuôn mặt Khôn Đoài Chấn. Như đã nói ở trên vành này nằm giữa hai vành nọc chấm đặc mang dương tính xác thực có một nghĩa thiếu âm gió Đoài vũ trụ khí gió.

.Không có tượng cóc/ếch.

Như thế trống Hàng là trống thiếu dương liên tộc Đoài vũ trụ khí gió-Chấn mưa, trống sấm Gió Mưa, Dông Mưa có khuôn mặt sấm dông mang tính chủ, không có tượng loài lưỡng cư thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

a3.Trống Thiếu Dương Sấm Mưa Gió, Mưa Dông Chấn-Đoài vũ trụ khí gió Không Có Tượng Cóc/Ếch Thanh Hóa.

THANH HOA

Trống Thanh Hóa (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống tương tự trống Hàng Bún sấm Gió Mưa phía nòng  Khôn chỉ khác tính nòng nọc (âm dương) ngược lại. Như thế nhìn tổng quát ta suy ra ngay trống Thanh Hóa là trống Mưa Gió (ngược với trống Gió Mưa Hàng Bún).

Để vắn tắt chỉ nói tới các điểm khác biệt:

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng cũng có hình thái tứ tượng chỉ khác hình thái phía nọc dương Li Càn. Ở trống này tượng Li được diễn đạt bằng hình nọc que đi qua đầu chuỗi nọc mũi mác trông giống như ‘đường khâu’ trong khi ở trống Hành Bún là nọc que vbao quanh bởi các nọc chấm  đặc. Nọc chấm đặc mang tính nguyên tạo nọc mũi mác thích ứng hơn với khuôn mặt gió Đoài vũ trụ khí gió.

.Ở vùng sinh tạo vận hành: tứ hành ở trống này diễn tả vành lưỡng hợp thái dương Càn bằng làn sóng tia chớp chữ S tròn đầu mang âm tính nhỏ ôm làn sóng Chấn thái âm nước chuyển động, dương  tròn đầu lớn mang âm tính trong khi ở trống Hành Bún diễn tả bằng làn sóng tia chớp chữ S gẫy Càn ôm hai giọt nước dương Chấn. Hai vòng sóng tròn mang âm tính cho thấy trống có khuôn mặt Khôn âm Chấn nước, mưa mang tính trội. 

 .Điểm quan trọng nhất ở đây là trống này có vành giới hạn trống không mang âm tính cho biết khuôn mặt Chấn mưa mang tính trội (trong khi ở trống Hàng Bún vành giới hạn nọc chấm đặc cho biết khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió ang tính trội).

.Vành sấm gầm ở đây mang tính âm có thể coi như là vành thể điệu hóa của vành sóng nước-lửa dương Chấn sấm mưa.

.Vành cò bay có 6 con. Số 6 là số Tốn có một khuôn mặt hôn phối với Chấn (Âu Cơ là Nàng (O) Lửa (II) tức quẻ Tốn OII hôn phối với Chàng (I) Nước (OO) tức quẻ Chấn IOO Lạc Long Quân) trong khi ở trống Hàng Bún 8 con cò gió. Số 8 là số Khôn. Khôn dương là Đoài vũ trụ khí gió.

Cò ở đây có bờm hình nón che mưa, Cánh hình vật đựng trong có các sọc diễn tả không gian, có hai nọc que nọc chấm đặc dương là thái dương. Cánh diễn tả nước thái dương Chấn. Thân và cánh hình ô dù hình nấm che mưa. Cò là cò mưa, sấm mưa.

.Không có tượng cóc/ếch.

Như thế rõ như ban ngày trống Thanh Hóa ngược với trống sấm Gió Mưa Hàng Bún là trống thiếu dương liên tộc Chấn mưa-Đoài vũ trụ khí gió, trống sấm Mưa-Gió, Mưa Dông có khuôn mặt sấm Mưa mang tính chủ, không có tượng loài lưỡng cư thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

Lưu Ý Quan Trọng.

Qua các trống không có tượng cóc/ếch này, như đã nói ở trên có thể vì là trống đã hết sức muộn nên không làm tượng lưỡng cư vì phiền phức và tốn kém, ta còn nhận thấy là cac trống này đều có khuôn mặt là Sấm Dông Gió tức là sấm dương, có thể vì thế mà không làm tược cóc ếch. Vì vậy ta có hệ luận: Khi nhìn thấy một trống sấm không có tượng lưỡng cư trước hết ta phải nghĩ tới, phải tìm khuôn mặt sấm gió dông của trống.

-b. Trống Sấm Thiếu Dương Chi Có Tượng Cóc/Ếch.

Loại trống này rất nhiều, như đã biết, các trống muộn về sau vào thời nông nghiệp làm lúa nước thường làm theo duy thực ‘vị bao tử’, vì bụng đói đều có tượng loài lưỡng cư, biểu tượng cho mưa, sấm mưa, không còn mang ý nghĩa biểu tượng vũ trụ giáo, tộc người như các trống cổ. Các trống cóc/ếch thường gọi là trống ếch, trống cầu mưa…

Ở đây chỉ nói vắn gọn tới một vài trống tiêu biểu của nhóm trống thiếu dương 12 nọc tia sáng có tượng loài lưỡng cư (xem chi tiết ở Chương Giải Đọc Các Trống Cóc/Ếch).

b1Trống Thiếu Dương Sấm Mưa Chấn Có Tượng Cóc/Ếch Nhánh Nọc Âm Thái Dương Hữu Chung.

Trống Hữu Chung (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống mặc dù là trống rất muộn (C-I-1) nhưng có thể coi là trống tiêu biểu của chi này vì có đầy đủ chi tiết diễn tả rất thể điệu hóa. Xem chi tiết trống này ở Chương Giải Đọc Các Trống Cóc/Ếch (phần 4). Ở đây chỉ nói vắn gọn qua:

Những điểm mấu chốt.

.Trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc âm thái dương có hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian rất dầy mang âm tính. Ở đây diễn ta thái âm Chấn nước dương, mưa, sấm mưa.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái lưỡng ngành nòng nọc (âm dương) xen kẽ diễn tả tứ tượng cho thấy trống mang nghĩa vũ trụ tạo sinh.

.Vành sinh tạo vận hành: có ba vành diễn tả tứ hành: vành 1 trong cùng ở giữa gồm vòng sóng chữ S gẫy ba lửa thái dương Càn ôm các tam giác đặc theo thông lệ diện tả hai giọt nước dương thể điệu hóa Chấn để có lưỡng hợp thái dương thái âm nhưng ở đây lại có nghĩa khác. Vành 2 ở giữa là vành sóng tiếp tuyến kép (thường chỉ c1o một) từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dươn Chấn, như thế các hình tam giác giác ở vành 1 phải có nghĩa là núi tháp Đất Li. Điểm này sai vì thiếu dương Li không thể lưỡng hợp với thái dương Càn. Rõ ràng đây là trống rất muộn.Vành 3 là vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược ở đây có nghĩa là thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Ta có tứ hành nhưng diễn đạt sai vì trống là trống rất muộn. Dù gì thì tứ hành ăn khớp với tứ tượng cũng cho thấy trống có diễn tả vũ trụ thuyết trọn vẹn.

.Vành giới hạn trống không mang âm tính cho biết trống nghiên về khuôn mặt Khôn âm Chấn.

.Vành sấm gầm ở đây mang tính âm là vành sóng nước dương, sấm mưa.

.Vành người nhẩy múa có phần trước trán của trang phục đầu có hình sóng chữ S cho biết là tộc người nước, Chấn nhưng có con mắt dương chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời, Càn. Như thế những người này là người Chấn-Càn hany Chấn ngành mặt trời thái dương Càn.

.Vành 10 cò bay. Cò có bờm nón che mưa. Cánh có hình gợn sống nước dương. Hai đầu cánh hình nọc mũi mác có một nghĩa lửa, thái dương. Như thế nhìn chung là cò lửa-nước, cò sấm mưa.

.Ba vành ngoài biên gồm hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương kẹp giữa vành sóng có tiếp tuyến kép từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn. Gộp lại là nước dương Chấn nhánh nọc âm thái dương.

.Bốn tượng loài lưỡng cư có eo ếch trên người có chữ nòng nọc vòng tròn-que diễn tả vũ trụ tạo sinh, nghiêng về phía tượng ếch, sấm mưa.

Như thế trống Hữu Chung là trống ếch sấm mưa của tộc Chấn mang nghĩa biểu tượng vũ trụ tạo sinh, thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống ếch sấm mưa tộc Chấn Lạc Việt Lạc Long Quân, nhóm trống thiếu dương Non Âu Cơ, nhánh Thần Nông Thái Dương, ngành mặt trời thái dương Viêm Đế-Thần Nông, Họ Mặt Trời Hồng Bàng Nọc Việt.

b2. Trống Thiếu Dương Sấm Mưa Chấn Có Tượng Cóc/Ếch Nhánh Nọc Âm Thái Dương Đông Hiếu.

DONG HIEU

Trống Đông Hiếu (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Tương tự như trống Hữu Chung chỉ khác:

-Vành 10 cò bay sấm mưa diển đạt khác đi, trên cánh có các sọc ngang nước thay vì hình gợn sóng như ở trống Hữu Chung.

-Ba vành ngoài biên, vành ở giữa có hai vòng sóng tiếp tuyến kép từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dươngChấn thay vì một vòng ở trống Hữu Chung.

b3. Trống Thiếu Dương Sấm Mưa Chấn Có Tượng Cóc/Ếch Nhánh Nọc Âm Thái Dương Khác.

Cùng nhóm trống thiếu dương ếch sấm mưa Chấn có mang ý nghĩa biểu tượng vũ trụ tạo sinh của trống Hữu Chung, Đông Hiếu này còn rất nhiều trống khác với ít nhiều sai lệch vì đều là trống rất muộn như trống Thôn Bùi, Phú Phương I, Yên Bồng I & II, Đa Bút, Quế Tân…

b4. Trống Thiếu Dương Sấm Đầu Non Li Có Tượng Cóc/Ếch Nhánh Nọc Âm Thái Dương Chợ Bờ.

CHO BO

Trống Chợ Bờ (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt.

.Trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc âm thái dương có hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian dầy vừa phải vừa mang tính nòng âm O vừa mang tính nọc dương I. Ở đây có thể là OI thiếu dương đất Li.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái lưỡng ngành nòng nọc (âm dương) xen kẽ diễn tả tứ tượng cho thấy trống mang nghĩa vũ trụ tạo sinh. Có một điểm sai ở hình thái Càn Li khong có nọc que Li (trống rất muộn).

.Vành sinh tạo vận hành: có ba vành diễn tả tứ hành: vành 1 trong cùng ở giữa gồm vòng sóng chữ S gẫy ba lửa thái dương Càn ôm các tam giác đặc theo thông lệ diện tả hai giọt nước dương thể điệu hóa Chấn. Vành 2 ở giữa là vành từ  vòng tròn-chấm có một nghĩa là thiếu dương LiVành 3 là vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược ở đây có nghĩa là thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Ta có tứ hành ăn khớp với tứ tượng cho thấy trống có diễn tả vũ trụ thuyết trọn vẹn.

.Vành giới hạn trống không mang âm tính thường đi với Khôn Chấn-Đoài vũ trụ khí gió. Tuy nhiên cũng thích hợp với thiếu dương Li là âm của dương.

.Vành sấm gầm ở đây mang tính âm cũng có thể mang tinh thiếu dương Li sấm ở đầu Non.

.Vành người nhẩy múa có con mắt dương chấm-vòng tròn có một nghĩa là thiếu dương Li. Phía sau trang phục đầu có hai sừng trong có nọc chấm đặc dương như hai sừng hươu thiếu dương  Li.

Như thế những người này là người thiếu dương Li.

.Vành 10 cò bay. Số 10 là số Khảm tầng 2 (2, 10) hôn phối với Li. cánh va 2tha6n giống hình chữ T biểu tượng cho đất Li.

Ba vành ngoài biên gồm hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương kẹp giữa vành từ  vòng tròn-chấm có nghĩa là thiếu dương Li hay đọc ngược lại là chấm-vòng tròn thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Ở đây ta lấy theo nghĩa thiếu dương của vành từ  vòng tròn-chấm Li ở vùng tứ hành.

.Bốn tượng loài lưỡng cư có phần đầu lớn hơn thân dưới, eo to nghiêng về cóc trên người có chữ nòng nọc vòng tròn-que diễn tả vũ trụ tạo sinh.

Như thế dựa vào những người nhẩy múa trang phục đầu có hai sừng hươu và vành từ  vòng tròn-chấm ngoài biên lấy theo nghĩa thiếu dương Li của vành này ở vùng tứ hành trống nghiêng về trống thiếu dương Li hôn là trống thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió.

Nếu chấp nhận như vậy, trống Chợ Bờ trống sấm đầu non của tộc Li có mang nghĩa biểu tượng vũ trụ tạo sinh, thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

b5. Trống Thiếu Dương Sấm Mưa Có Tượng Cóc/Ếch Của Một Tộc Duy Nhất Nhánh Nọc Âm Thái Dương

Các trông sấm mưa cóc/ếch thuộc nhóm trống Hữu Chung có khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái tứ tượng và có tứ hành mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh. Trống thuộc nhóm  trống biểu của MỘT TỘC DUY NHẤT khoảng không gian giữa các nọc tia sáng chỉ có hình thái đơn đồng nhất không mang ý nghĩa trọn vẹn của vũ trụ tạo sin. ví dụ:

-Trống Thiếu Dương Sấm Mưa Cóc/Ếch Tộc Chấn Nước Dương Làng Vặc.

Trống này chỉ là trống sấm mưa của một tộc duy nhất Chấn Nước dương.

LANG VAAC

Trống Làng Vặc (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt.

.Trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc âm thái dương có hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian rất dầy diễn tả thái âm, nước.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái  đơn, đồng nhất biểu tượng cho MỘT TỘC DUY NHẤT hình hai giọt nước dương chuyển động hình hạnh nhân Chấn

Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng này cho biết trống là trống biểu của Tộc Nước Dương Chấn. 

.Vành sinh tạo vận hành: có 4 vành: vành 1  và 4 là hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương . Vành 2 và 3 ở giữa là hai vành từ  từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn . Gộp lại ta nước dương  nọc âm thái dương.

.Vành giới hạn trống không rất lớn mang âm tính ở đây có nghĩa Khôn âm Chấn nước.

.Vành sấm gầm ở đây mang tính âm có nghĩa là sấm mưa chuyển động.

.Vành người nhẩy múa có con mắt âm, từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn . Phía sau trang phục đầu có hình phướn có sọc song song ngang nước

Như thế những người này là người tộc Nước Chấn

.Vành 8 cò bay. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8). Khôn âm là nước thái âm. Cánh có hình gợn sóng nước ở giữa có cột sống nọc chấm đặc to có một nghĩa dương, thái dương . Cánh diễn tả nước dương, thái dương Chấn hay lửa nước Sấm mưa. Đuôi cò hình đuôi cá ruột thịt với nước. Tóm lại cò là cò nước, cò sấm mưa.

. Dóng Sấm

Xen kẽ với hình cò bay có 8 dóng sấm, búa thiên lôi. Số 8 là số Khô. Khôn âm là nước thái âm cho thấy 8 dóng sấm là búa thiên lôi sấm mưa Chấn.

Bốn vành ngoài biên trống giống 4 vành ở vùng sinh tạo vận hành có nghĩa la 2to65c Chấn nọc âm thái dương.

Bốn tượng loài lưỡng cư đã mất.

Như thế trống Làng Vặc là trống sấm mưa cóc/ếch của riêng một tộc Chấn Nước Dương không mang trọn vẹn nghĩa biểu tượng vũ trụ tạo sinh, thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

-Trống Sấm Mưa Cóc/Ếch Tộc Chấn Nước Dương Mông Sơn.

MONG SON

Trống Mông Sơn (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống giống y hệt trống Làng Vặc nhưng muộn hơn vì có nhiều điểm diễn dạt sai lệch. Có vài điểm khác biệt:

.Vỏ không gian ít dầy hơn ở trống Làng Vặc.

.Ở vùng sinh tạo vận hành: hai vành giữ là hai vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn có tiếp tuyển mang nghĩa chuyển động nhưng hai tiếp tuyến viết sai không dính vào vòng tròn. Trong khi ở trống Làng Vặc không có tiếp tuyến.

.Bốn vành ngoài biên giống bốn vành ở vùng sinh tạo vận hành nhưng tiếp tuyến ở đây dính vào vòng tròn như thường lệ.

Hiển nhiên trống Mộng Sơn ruột thịt với trống Làng Vặc.

b6. Trống Thiếu Dương Sấm Mưa Cóc/Ếch Ngoại Lệ Tộc Chấn Nước Dương Na Dương.

NA DUONG

Trống Na Dương (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống Na Dương thiếu dương mặt trời 13 nọc tia sáng mụi mác. Theo đúng nguyên tắc trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc (âm dương) thì mặt trời dương phải có số nọc tia sáng âm. Ở đây có số tia sáng lẻ như thể mặt trời là dương và dương mang tính dương cực đoan. Đây có thể là lỗi kỹ thuật. Trống coi như là trống rởm. Còn nếu là chũ ý của người làm trống thì người này theo xã hội phụ quyền cực đoan. Trống coi như là một trống ngoại lệ.

Trống cùng nhó, với trống Làng Vặc, Mông Sơn ở trên chỉ các vài chi tiết:

-Mặt Trời thiếu dương có số nọc tia sáng là số lẻ, số dương  13 như đã nói ở trên.

-Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng lưỡng tộc nhánh nòng Khôn Chấn hai giọt nước dương hạnh nhân-Đoài vũ trụ khí gió đồng nhất bờm chim.

Như thế trống Na Dương là trống sấm mưa cóc/ếch của riêng một tộc Chấn Nước Dương không mang trọn vẹn nghĩa biểu tượng vũ trụ tạo sinh, thuộc nhóm trống mặt trời thiếu dương có 13 nọc tia sáng  ngoại lệ, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

…….

Tổng Kết Nhóm Trổng Thiếu Dương Mặt Trời  12 Nọc Tia Sáng Mũi Mác.

Nhóm trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng mũi mác có hai khuôn mặt chình là Chấn-Đoài vũ trụ khí gió, gồm có hai nhánh: nhánh nọc dương thái dương  và nọc âm thái dương.

Nhánh nọc dương thái dương phần lớn là các trống biểu tượng của các tộc người và/hay trống biểu tượng các giai kỳ của vũ trụ tạo sinh trong vũ trụ giáo như trống biểu tượng liên tộc Đoài Chấn Khai Hóa. Trống này là trống cổ nhất họ hàng với trống trống Sông Đà, trống Hoàng Hạ, trống Ngọc Lũ I. Còn lại phần lớn là trống biểu của Tộc Chấn  như trống Hòa Bình, Bản Thôm, Miếu Môn II, Làng Vạc I, Đồng Cẩu…

Nhánh nọc âm thái dương  gồm:

-Các trống biểu tượng của các tộc người và/hay trống biểu tượng các giai kỳ của vũ trụ tạo sinh trong vũ trụ giáo. Phần lớn là các trống Gió Đoài vũ trụ khí gió như trống Phú Duy, Làng Vạc III, Yên Tập, Cửu Cao, Ngọc Lũ II, Thiết Cương, Định Công I & II, Lũng Xuyên và ít hơn là trống biểu tộc nước như trống Cẩm Thủy, Làng Gọp…

-Nhóm trống sấm thiếu dương.

Gồm các trống sấm:

.Không có tượng loài lưỡng cư như trống Đông Hóa I, Hàng Bún…

Các trống sấm không có tượng cóc ếch thường là trống sấm dông.

.Có tượng loài lưỡng cư  như trống Hữu Chung, Đông Hiếu, Thôn Bùi, Chợ Bờ, Phú PHương I, Yên Bồng, Đa Bút, Quế tân, Làng Vặc, Mông Sơn…

Các trống Sấm có tượng cóc/ếch phần lớn là trống sấm mưa.

Như thế trống thiếu dương mặt trời  có số nọc tia sáng mũi mác là số Cấn tầng 2 có hai khuôn mặt chính là Chấn Đoài đúng theo dịch học là Cấn hôn phối với Chấn (Cần Âu Cơ Non hôn phối với Chấn Lạc Long Quân, ông Thần Sấm có nhà ở đầu Non Cấn Âu Cơ)  và Cấn hôn phối với Đoài vũ trụ khí gió (Hoàng Hậu Thái Tổ Hùng Vương Cấn Non hôn phối với Hùng Vương Thái Tổ Bầu Trời Đoài vũ trụ khí gió).

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: