NHÓM TRỐNG THIẾU DƯƠNG HÒA BÌNH GIAO VIỆT (1).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

HỌ MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG.

NHÓM TRỐNG MẶT TRỜI THIẾU DƯƠNG Li. 

 Nguyễn Xuân Quang

Xin nhắc lại:

.Phân loại trống theo vũ trụ tạo sinh.

Như đã biết Trống Đồng Nòng Nọc (Âm Dương) của đại tộc Đông Sơn là trống biểu mặt trời thái dương, của người mặt trời ứng với Người Việt Mặt Trời Thái Dương đại tộc mặt trời, là trống biểu của Vua Mặt Trời Hùng Vương dòng mặt trời Viêm Đế-Thần Nông thái dương. 

Phân loại theo vũ trụ tạo sinh dựa theo tính nòng nọc (âm dương) của mặt trời. Như đã biết trống đồng là trống nòng nọc (âm dương) nên mặt trời có khối sáng (solar mass) là số dương và nọc tia là số âm. Gộp lại theo nòng nọc (âm dương) là khối sáng mặt trời dương là số 1 cộng với số tia sáng âm cho ra tính nòng nọc (âm dương) của cả mặt trời, của trống. Ví dụ trống Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng mũi mác có khối sáng mặt trời là 1 + 14 nọc tia sáng = 15. Số 15 là số Càn tầng 2 thế gian. Trống Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống Càn thế gian.

Như thế có ít nhất bốn nhóm trống ứng với tứ tượng: 

1- Nhóm trống mặt trời thái dương Càn là nhóm trống có mặt trời có số nọc tia sáng là số Tốn OII (gồm số 6, 14, số 22), là âm O thái dương II, tương đồng bản thể với dương I thái dươngII tức Càn III. Trống Càn-Tốn thấy nhiều nhất là trống Tốn tầng 2 thế gian 14 nọc tia sáng mũi mác. Còn trống Càn Tốn vũ trụ 6 nọc tia sáng mũi mác và trống hạ thế mặt trời 22 nọc tia sáng mũi mác rất hiếm thấy. Trống tiêu biểu của nhóm này là trống trống Ngọc Lũ I. 

2- Nhóm trống mặt trời thái âm ngành thái dương Chấn có mặt trời có số nọc tia sáng Khôn (8, 16). Như đã biết số 8 trên trống đồng nòng nọc (âm dương) có một khuôn mặt đội lốt hay tương đương với số 0 cõi tạo hóa. Như thế trống có mặt trời 8 nọc tia sáng mũi mác có một khuôn mặt là 1 + 0 = 1,  là trống nhất thể , vũ trụ, tạo hóa như trống Quảng Xương. Còn trống có mặt trời có 16 nọc tia sáng mũi mác là mặt trời 16 + 1 = 17, Chấn thế gian như trống Hoàng Hạ.   

3- Nhóm trống mặt trời thiếu dương Li có số nọc tia sáng mũi mác là số Cấn (4, 12, 20) nhiều nhất là loại 12 nọc tia sáng tức 1 + 12 = 13. Số 13 là số Li thiếu dương  như trống Khai Hóa, Hòa Bình…

4- Nhóm trống mặt trời thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió có mặt trời có số nọc tia sáng mũi mác Khảm (2, 10, 18) nhiếu nhất là loại 10 nọc tia sáng tức 1 + 10 = 11. Số 11 là số Đoài vũ trụ khí gió tầng 2.

Mỗi nhóm trống này có riêng đủ các loại trống biểu tượng cho ngành, nhánh, đại tộc, tộc người ứng với các giai kỳ trong vũ trụ tạo sinh của họ mặt trời nọc thái dương gồm có hai  ngành: ngành mặt trời nọc thái dương có tia sáng nọc mũi mác ứng với Nọc Việt và ngành mặt trời nòng thái dương có mặt trời ánh sáng là nòng vòng sáng (như trống Đào Xá) ứng với Nòng Việt. Ngành mặt trời nọc thái dương Nọc Việt lại chia ra: 1. nhánh mặt trời dương thái dương (nọc dương thái dương ) diễn tả bằng hai vành nọc mũi mác có một nghĩa là dương  thái dương, nọc thái dương ở ngoài biên trống 2. mặt trời nọc âm thái diễn tả bằng hai vành nọc bằng đầu mang âm tính hình thanh thang hay thanh ngang đường rầy hiện gọi là răng lược có một nghĩa là nọc âm thái dương ở ngoài biên trống.

.Trống nhóm thái dương diễn tả trọn vẹn tất cả các khuôn mặt ứng với các giai kỳ của vũ trụ tạo sinh gồm trống biểu của ngành, nhánh, đại tộc, tộc của tượng thái dương dưới dạng liên tộc (kết hợi, liên minh hai hay nhiều tộc), lưỡng hợp (nòng nọc (âm dương). Loại trống này có khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái tứ tượng, lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) hay đơn thuần chỉ là trống biểu của một tộc duy nhất mà thôi. Loại trống này có khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất.

Nhóm Trống Mặt Trời  Thế Gian Thiếu Dương 4, 12, 20 Nọc Tia Sáng Ngành Thái Dương gồm có:

.Nhánh nọc dương thái dương.

Trống có hai vành nọc mũi mác dương thái dương.

-Trống mặt trời thiếu dương 12 nọc tia sáng: , Khai Hóa, Hòa Bình, Bản Thôm, Miếu Môn II, Làng Vạc I, Đồng Cẩu…

-Trống mặt trời thiếu dương 4,  20 nọc tia sáng: hiếm thấy.

 Nhánh nọc âm thái dương

Nhóm trống Mặt Trời Thế Gian thiếu dương 12 nọc tia sáng có hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống. Nhánh này có hai nhóm phụ:

  1. Nhóm phụ trống biểu Tộc người hay Vũ Trụ Thuyết (không có tượng cóc/ếch).

Trống Yên Tập, Phú Duy, Làng Gọp, Cẩm Thủy, Mèo Vạc II & III, Ngọc Lũ II, Làng Vạc III, Cửu Cao, Thiết Cương, Định Công I & IV, Lũng Xuyên, An Lão, Thọ Vực, Vũng Tầu, Vĩnh Ninh.

2. Nhóm phụ trống Sấm.

lại chia ra:

-Tiểu nhóm Sấm có tượng cóc/ếch.

Hữu Chung, Nam Ngãi II, Đông Hiếu, Thôn Bùi, Chợ Bờ, Phú Phương I & II, Yên Bồng I & II, Đa Bút, Quế Tân, Thôn Mống, Làng Vặc, Mông Sơn, Quan Hóa, Hà Giang I, Đá Đỏ II, Mèo Vạc I…

-Tiểu nhóm Sấm không có tượng Cóc/ếch.

Đông Hòa I, Hàng Bún, Thanh Hóa…

……

I. NHÁNH NỌC DƯƠNG THÁI DƯƠNG.

TRỐNG HÒA BÌNH, TRỐNG MẶT TRỜI THIẾU DƯƠNG ĐẠI TỘC CHẤN NƯỚC THÁI DƯƠNG NHÁNH NỌC THÁI DƯƠNG/GIAO VIỆT.

(phần 1)

Lưu Ý

Trống tiêu biểu của nhóm trống thiếu dương này là trống Khai Hóa tìm thấy ở phủ Khai Hóa tỉnh Vân Nam. Trống Khai Hóa gần cận với nhóm trống Sông Đà, Hoàng Hạ, trống Ngọc Lũ I. Mặc dù tìm thấy ở Vân Nam thuộc địa bàn Bách Việt cũ nhưng hiện nay là phần đất của Trung Quốc. Vì tìm thấy tài liệu hình sau trống Hòa Bình  nên tôi viết sau trống Hòa Bình.  Khi in thành sách sẽ tu chỉnh lại. 

MẤU CHỐT CHÍNH:

-Phân loại về hình dạng thuộc nhóm trống Nguyễn Xuân Quang Cây Nấm Vũ Trụ (Nấm Tam Thế, Nấm Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I), đích thực là loại trống Đông Sơn. 

-Phân loại theo vũ trụ tạo sinh là trống có mặt trời 12 nọc tia sáng là trống thuộc nhóm trống Mặt Trời tượng Nước Dương Chấn-Cấn. 

-Phân loại theo truyền thuyết và cổ sử Việt là trống biểu của tộc Giao Việt thuộc đại tộc  Lạc Long Quân ngành mặt trời Thần Nông thái dương.   

.Họ mặt trời nọc tia sáng: vì có ánh sáng hình nọc tia sáng mũi mác. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là họ Nọc Việt.

. Nhánh nọc dương thái dương:   vì có các vành ở biên trống gồm hai vành nọc mũi mác thái dương kẹp giữa một hay hai vành mang nghĩa của ngành, đại tộc hay tộc ứng với khuôn mặt theo nòng nọc, âm dương của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

.Nhóm trống thiếu dương Li vì có mặt trời 12 nọc tia sáng mũi mác.

Nhóm trống này có số lượng trống nhiều nhất trong các nhóm trống ứng với tứ tượng. Sở dĩ như vậy vì Việt Nam sau này theo Lạc Việt (An Dương Vương thuộc Lạc Việt  chiếm ngôi Hùng Vương  Kì Dương Vương) và lý do chính là muộn về sau này trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn chỉ được dùng theo nghĩa duy thực (theo cái ăn của bao tử) được coi là trống cầu mưa, trống ếch, khuôn mặt sấm mưa Chấn của Lạc Long Quân trong thời xã hội chuyển qua nông nghiệp trồng lúa nước.  Ý nghĩa vũ trụ tạo sinh của trống đồng nòng nọc (âm dương) bị lu mờ đi. Nhìn vào một trống có tượng cóc/ếch ta đoán ngay hơn 90% là trống sấm mưa có mặt trời 12 nọc tia sáng.

.Trống mặt trời nước Chấn/Giao Việt vì có vành cá sấu thái dương, Sấu Việt.

Chỉ xin nói tới các điểm chính đặc biệt của trống (các phần có tính cách chung xem trống Ngọc Lũ I).

Tổng quát

 Trống Hòa Bình tìm thấy ở tỉnh Hà Sơn Bình năm 1958.

Trống Hòa Bình (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

.Trống Hòa Bình có mặt trời 12 nọc tia sáng thuộc nhóm mặt trời thiếu dương có số nọc tia sáng là số Cấn (4, 12, 20…). Cấn non (núi âm) thiếu dương Li âm. Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Chấn là nhóm trống sấm Chấn ở đầu non Cấn ứng với khuôn mặt thần sấm Chấn Lạc Long Quân có nhà ở đầu non Cấn Âu Cơ, đúng trăm phần trăm theo một truyền thuyết là thần sấm có nhà ở đầu non và đúng theo loại dịch trong đó Chấn hôn phối với Cấn thấy trên lá bùa trừ tà của dân dã Việt Nam:

DICH BUA

.Nhánh nọc dương thái dương.

Hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ở biên trống cho biết trống thuộc ngành nọc thái dương, dương thái dương mặt trời chói sáng khác với trống đồng âm thái dương [ví dụ như trống Hữu Chung thuộc nhóm trống cóc/ếch cũng có mặt trời 12 nọc tia sáng Chấn/Cấn nhưng có hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) ở biên trống cho biết trống thuộc ngành âm thái dương, mặt trời êm dịu].

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là ngành mặt trời dương thái dương phía Viêm Đế của khuôn mặt mặt trời Nước Lạc Long Quân.

1.    Mặt trống

Nhìn tổng thể, mặt trống mang dương tính của ngành nọc dương thái dương. Các vành giới hạn là các vành có những chấm nọc dương sinh tạo và hai vành nọc mũi mác ở biên trống có một khuôn mặt nọc dương thái dương mang tính chủ.

A.    Cõi Trên, Thượng Thế

Thượng Thế, theo nguyên tắc, là phần ở tâm trống biểu tượng cho cõi trên chiếu xuống tâm trống hay là phần cõi trên đập dẹp xuống để làm mặt trống. Trống này có mặt trời 12 nọc tia sáng là trống thế gian (xin nhắc lại trống có mặt trời có số tia sáng bằng hay nhỏ hơn 7 là trống vũ trụ) nên tâm trống cũng mang một khuôn mặt cõi trên tức bầu trời của thế gian. Như thế phần tâm trống có thể coi như là mang hai khuôn mặt: một là cõi trên càn khôn, vũ trụ (đại vũ trụ, tạo hóa) chiếu xuống, hai là khuôn mặt cõi trên bầu trời thế gian (tiểu vũ trụ, cõi nhân sinh). Tâm trống ở đây có vỏ hư vô là vòng tròn bao quanh đầu tia nọc ánh sáng mặt trời. Vỏ không gian hơi to nét nghiêng về nọc thái dương của thái âm nước ứng với Chấn nước dương Lạc Long Quân.

Cõi trên Thượng Thế lại chia ra bốn tầng: vô cực, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng/tứ hành.

a. Hư vô.

Như đã nói ở trên vỏ hư vô hơi to nét cho biết hư vô chuyển qua âm thái dương, biển vũ trụ nước dương trước.

Trống này nghiêng về thái dương Chấn, mặt trời Nước.

b.  Thái Cực: bọc Trứng Vũ Trụ.

mặt trời và không gian nhìn dưới dạng nhất thể có một khuôn mặt thái cực.

c. Lưỡng nghi:

-Cực dương:

Mặt trời thuộc họ mặt trời rạng ngời, ngành nọc chói chang, đại tộc thái dương. Mặt trời có khối lửa cầu gai chói chang và nọc tia sáng thuộc nhóm nọc mũi mác là mặt trời nọc thái dương.

Như đã nói ở trên mặt trời có 12 nọc tia sáng là mặt trời thiếu dương Cấn/Li âm. Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Chấn. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt ứng với Âu Cơ Cấn Non (núi âm) hôn phối với Lạc Long Quân mặt trời Nước có khuôn mặt thế gian là nước dương Biển.

Ở đây ta thấy rõ khuôn mặt Biển của Lạc Long Quân hôn phối với khuôn mặt non Cấn Âu Cơ ngành Viêm Đế thái dương.

-Cực âm:

Không gian, như đã nói vỏ không gian (cùng chung với vỏ Trứng Vũ Trụ) ở đây là một vòng tròn nhỏ nét mang dương tính nghiêng về Chấn

Bản chất không gian thường được diễn tả bởi các hình thái ở các khoảng không gian giữa các tia sáng. Ở đây khoảng không gian có hình thái tứ tượng (hiện nay gọi lầm là ‘họa tiết lông công’) mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh.

d- Những Vành Sinh Tạo.

Chỉ có một vành diễn tả hai hành thay vì là ba vành “hoa văn” chữ viết nòng nọc vòng tròn-que bao quanh vành mặt trời-không gian diễn tả tứ hành. Ở đây có sự cọc cạch giữ tứ tượng và lưỡng hành, theo đúng nguyên tắc phải là tứ hành. Điểm này cho thấy trống diễn đạt không còn giữ theo truyền thống. Cũng có thể là chủ ý của người làm trống diễn tả trống này chỉ là trống biểu của một đại tộc hay tộc Chấn mà thôi.

Vành này ở dạng chuyển động theo vòng tròn mang tính vận hành, sinh động tức sinh tạo. Vành sinh tạo này diễn tả hình sóng Lửa thái dương chữ S gẫy ba nét nhỏ hình tia chớp, Càn ‘ôm’ các hình sóng Nước chữ S gẫy to, đậm nét, Chấn. Đây là dạng lưỡng hợp thái dương thái âm ngành nọc dương thái dương. Nếu nhìn theo diện đại tộc, tộc thì là biểu tượng Chấn thái dương.

d. Vành giới hạn.

Như đã nói ở trên những vành giới hạn có nọc chấm nguyên tạo mang tính dương cho biết trống có khuôn mặt dương tính chủ. Chúng cho biết trống Hòa Bình có một khuôn mặt là trống dương thái dương (sự hiện diện của hai vành nọc mũi tên ở biên trống cũng xác thực như vậy).

Tổng quát ở cõi trên, trống Hòa Bình Chấn/Cấn thế gian có mặt trời nhóm thiếu dương 12 nọc tia sáng, có không gian tứ tượng  và lưỡng hành cho thấy trống có một nghĩa sinh tạo, tạo hóa còn mang tính chủ (trong khi khuôn mặt trống sấm mưa, nếu có thì sấm mưa cũng chỉ mang nghĩa sinh tạo,tạo hóa chưa có nghĩa chính duy thực là cầu mưa cho vụ mùa lúa nước).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là trống Lạc Long Quân/Âu Cơ thế gian biển-non có một khôn mặt sinh tạo dòng Thần Nông thái dương.

 B. Cõi Giữa, Trung Thế.

Trung Thế là cõi giữa nhân thế gồm có vùng đất và vùng nước. Vùng đất là phần mặt trống còn lại và vùng nước là tang trống.

-Vùng Đất.

a. Đất dương

.Vành thú bốn chân

Trống này có mặt trời 12 nọc tia sáng là trống thế gian nên có vành chủ chốt nằm gần phía mặt trời là vành diễn tả một loài thú bốn chân sống được trên mặt đất.

Thú bốn chân trên trống Hòa Bình.

Cũng xin nhắc lại cho nhớ là khi nhìn trên mặt trống thấy có một vành khắc diễn tả cảnh sinh hoạt nhân sinh hay những loài thú bốn chân thì theo chính thống chúng ta biết ngay trăm phần trăm trống đó là trống thế gian có mặt trời có số nọc tia sáng bằng hay lớn hơn 8.

Trước đây các nhà khảo cổ học Việt Nam cho rằng đây là “thú rừng thuộc loài ăn thịt” (Nguyễn Văn Huyên). Bây giờ ta hãy nhận diện con thú này bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que và xin nhắc lại dài dòng một chút vì trống Hoàng Hạ là một trống hiếm hoi còn khắc ghi lại hình ảnh thú biểu này.

Trước hết ta thấy ngay nhìn tổng quát con thú có hình thằn lằn. Thú có mõm nhọn như mỏ chim  có hình chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) > cho biết con thú là thú biểu của ngành nọc, lửa, mặt trời, thái dương ứng với ngành mặt trời thái dương Viêm Đế, họ mặt trời Hồng Bàng của Bách Việt Người Mặt Trời, con cháu của Hùng Vương, vua mặt trời.

Trong mỏ còn đánh dấu hay phụ đề dấu nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) > để xác thực cho biết con vật mang tính nọc thái dương.

Con thú có con mắt âm diễn tả bằng hai vòng tròn đồng tâm có một nghĩa là thái âm, nước. Như thế con thú bốn chân giống thằn lằn này sống được dưới nước. Vậy tên con thú này là con nọc nước, con cá nọc, cá sào, cá sấu. Anh ngữ crocodile có croc– = cọc.

Trên người thú có hai hàng chấm nọc cho biết thú mang tính thái dương. Vành có 6 con thú với số 6 là số âm thái dương (lão âm) cũng cho biết con thú này có khuôn mặt thái dương của ngành nòng âm.

Như thế con thú thuộc loại thằn lằn sống được dưới nước, có mõm nhọn nọc mũi tên, mũi mác, thuộc ngành nước dương, biển (sống được ở nước mặn) là con đực (vì có chấm nọc). Ta thấy ngay đây là con cá sấu [cá sấu thuộc giống thằn lằn như thấy qua tên alligator, một loài cá sấu có al- là phụ từ (mạo từ) và -ligator, thằn lằn; sauria, loài thằn lằn có sau– = Việt ngữ sấu. Rõ nhất trong Từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes: sấu: con thằn lằn, rắn mối].

Loài cá sấu này có mõm nhọn hình giáo mác, dao nhọn. Trong thiên nhiên đây chính là loài cá sấu mõm dài, nhọn như dao gọi là loài sấu mõm dao gavialgharial hay cá sấu mõm dao Tomistoma nằm trong họ gharial.

Sấu mõm dao mỏ chim Tomistoma Schlegelii

Họ gharial có loài con đực ở mũi có cục u, một thứ sừng thịt gọi là ghar.

Sấu gharial đực mũi có cục u sừng thịt  ghar.

Loại cá sấu sừng gharial này còn thấy ghi khắc lại trên thạp đồng Đào Thịnh:

Thuyền trên thạp đồng Đào Thịnh

Đầu thuyền hình đầu cá sấu ở mũi có sừng thịt ghar,

Ta thấy Phạn ngữ gharial có gar- là gạc (vật nhọn, đực). Gar- liên hệ với Phạn ngữ gah, to strive, to penetrate, đâm, đâm xuyên thủng. Gavial có tên khoa học làTomistoma schlegelii, tên chỉ loài cá sấu có mõm dài và sắc. Latin Tomistoma cótomi: cắt ví dụ như anatomy, cơ thể học (môn học dùng mổ xẻ), nephrectomy, cắt bỏ trái thận. Hiển nhiên cắt thì phải dùng vật sắc, nhọn. Stoma là miệng. Tomistoma là miệng dao, mõm dao, mõm dài và nhọn như dao như giáo. Loại sấu mõm dao dài này ngày nay còn thấy ở Mã Lai, Nam Dương có tên là yolong, yulong (giao long) và vài trăm năm trước đây còn thấy ở các vùng Đông Nam Á lên tới tận bắc Trung Hoa (a few hundred years ago they may have ranged as far north as China). “Lên đến tận bắc Trung Hoa”: dò trong bản đồ chỉ nơi sinh sống của loài này thấy lên tới vùng Động Đình Hồ, ăn khớp đúng như trong cổ sử đã viết thuồng luồng có mặt tại vùng Động Đình Hồ. Mới đây các nhà khảo cổ học Trung Hoa đào tìm thấy hai cái sọ cá sấu dao mõm dài gavial này ở Quảng Đông. Điều này cho thấy rõ vùng nam Trung Hoa trước đây là đất của sấu dao Tomistoma schlegelii và ngay cho tới đời nhà Minh (1368-1644) chúng vẫn còn sống ở vùng nam Trung Hoa (Charles Ross, Crocodiles and Alligators tr.72).

Tóm lại con thú trên trống Hòa Bình thuộc loài cá sấu dao, mõm nhọn mỏ chim gavial, Tomistoma schlegelii, sấu gạc có sừng thịt gharial.

Đây chính là con sấu Việt mõm nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói), sấu Lạc (lạc biến âm với gạc, gharial như bắn lạc = bắn gạc). Sấu lạc cũng có nghĩa là sấu sừng, sấu Việt. Hán Việt ngạc (cá sấu) biến âm với Việt ngữ gạc (nên nhớ là ở Bắc Trung Hoa không có cá sấu nên tên Hán Việt lấy từ Bách Việt ngữ).

Hiển nhiên vật tổ Sấu Việt này cũng mang trọn ý nghĩa trong Vũ Trụ Tạo Sinh Vũ Trụ giáo.

Chỉ xin tóm lược một vài khuôn mặt chính ở đây.

.Cõi Trên Thượng Thế

Cá sấu liên hệ với thần mặt trời. Người Ai Cập cổ thờ cá sấu như một vị thần mặt trời nhô lên từ mặt nước (the crocodile emerged from the waters like the sun god himself, Richard H. Wilkinson, p.105).

.Cõi Giữa Trung Thế

Cá sấu liên hệ tới nước, tới mưa. Cá sấu giống như cóc cũng kêu mưa (rain caller): Sử sách cũng ghi lại là Nam Di (Southern “Barbarians”) dưới sự đô hộ của nhà Đường, cũng đã tiên đoán được trời mưa bằng cách nghe tiếng kêu của cá sấu (Léonard Ginsburg, Mummified Egyptian Crocodilles, trong The Chinese Dragon, trong Crocodiles and Alligators, Charles Ross tr.159).

Cá sấu biểu tượng cho lửa nước thấy qua hình ảnh rồng biển không có sừng (mang âm tính, nước) có cốt là con cá sấu biển (cá sấu nước mặn). Rồng biển có cổ rắn, râu dài, phun nước, vẩy cá chép, bụng cóc ếch, ngậm ngọc trai. Người Trung Hoa gọi là con rồng li (hornless and live in the ocean, C.A.S Williams, p.132).

.Cõi Dưới, Cõi Nước Hạ Thế

Cá sấu cũng mang một khuôn mặt thú biểu của cõi âm. Mường Việt cổ gọi Ba Cõi là Mường Then (Cõi Trên), Mường Bưa (Cõi Giữa) và Mường Khú (Cõi Nước). Khú là cá sấu:

Dưới đất phải thờ ma thổ công,

Dưới sông thờ ma chúa Khú Lường Vường.

Chúa Khú Lường Vường là cá sấu Long vương (Trương Sỹ Hùng tập I, 776).

Theo kh = s (khẽ = sẽ): khú = sú, sấu. Miền Nam gọi cá sấu là con sú.

Cá sấu là thú biểu của Lạc Long Quân, có một khuôn mặt Chúa cõi âm (cháu ngoại của Long Vương ở hồ Động Đình).

Ai Cập thờ cá sấu và có vị thần cá sấu phụ tá cho thần cò Thoth. Kẻ chết nào bị loại không được về miền vĩnh cửu thì giao cho vị thần cá sấu này xé xác. Hiển nhiên cá sấu này mang một khuôn mặt Cõi Âm, tương ứng với cõi âm của Lạc Long Quân.

. Sinh Tạo, Tái Sinh.

Cá sấu mang biểu tượng của sự chết, sự sống, tái sinh hằng cửu. Biểu tượng này thấy rõ qua hình ảnh thần cá sấu Sebek hay Sobek thời Middle kingdom của Ai Cập cổ.

Hình Thần Cá Sấu Sebek (Amenemhet III, Krokodilopolis, Twelfth Dynasty) (Richard H. Wilkinson, tr.104).

Thần đội trang phục đầu có hai sừng âm đầu tròn giống hai tai thỏ (mang nghĩa thái dương âm), mặt trời đĩa tròn (mặt trời dòng Khôn nước) và có hai sừng gợn sóng nước cho thấy cá sấu Sebek là mặt trời Khôn (nước) thái dương, một tay cầm quyền trượng âm dương “was”; một tay cầm chìa khóa sự sống “ankh”. Hình này cho thấy rõ thần cá sấu Sebek biểu tượng cho âm dương sinh tạo, sự sống…

Rồng gốc từ cá sấu ở đầm lầy có khả năng biến hóa (transformation) cũng mang biểu tượng cho sự sống, tái sinh, mùa thu chôn mình dưới đáy nước sâu, mùa xuân sống dậy bay lên trời đem lại sức sống cho thiên nhiên.

(xem thêm Thế Giới Loài Vật trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Bây giờ ta hãy khảo sát  thú biểu sấu dao, sấu Việt,  sấu Lạc trên trống Hòa Bình nhìn dưới diện vũ trụ tạo sinh.

Ta thấy ngay mõm dao biểu tượng cho nọc, dương, cực dương và cũng biểu tượng cho tượng thái dương lửa thái dương. Co mắt âm biểu tượng cho nòng, âm, cực âm và cũng biểu tượng cho tượng thái âm, nước thái âm. Lưng hình vòm đồi non biểu tượng cho đất dương ngành âm Cấn-Li và đuôi hơi cong vòm trời biểu tượng Đoài vũ trụ khí gió. Ta thấy rõ như ban ngày con thú này diễn tả lưỡng nghi, tứ tượng.

Cũng xin nói thêm sơ qua về các linh vật của Việt Nam.

Thuồng Luồng

Con sấu mõm dao, mõm mỏ chim này thần thoại hóa thành con thuồng luồng, một loại rồng Bách Việt. Theo chuyển hóa đ=th (đủng đỉnh = thủng thỉnh) , ta có đòng = thòng và đ=l (đãng tai = lãng tai), đòng = lòng,  vậy dòng đòng = thòng lòng, thong long. Trong Chính Tả Tự Vị, giáo sư Lê Ngọc Trụ đã ghi rõ: “Thòng hay thong chính là đòng: đồ binh khí mũi nhọn; vật dài và nhọn: thong long: cây mác đòng”. Như thế thong long, thuồng luồng cũng là cây mác, cây đòng dài! Vật tổ cõi nước của chúng ta thần thoại hóa là con thuồng luồng có cốt là con đòng nước cá sấu mõm mỏ chim Tomistoma schlegelii.

Thuồng luồng của chúng ta ở dưới nước có cốt là con Rắn Nước, ở vùng đất âm có nước có cốt là con cá sấu. Vật tổ dòng nước của chúng ta là con rồng thuồng luồng cá sấu khác con rồng Trung Hoa hiện nay. Rồng Trung Hoa cũng có những nét giống con thuồng luồng của chúng ta nhưng có nhiều điểm khác trái ngược hẳn lại vì đã nam hóa, phụ hệ hóa quá độ. Cũng cần phân biệt thuồng luồng (hay rồng) có cốt cá sấu không có lưỡi lè ra khỏi miệng vì lưỡi cá sấu dính chặt vào hàm dưới.

-Cá Sấu Dao (Giao), Giao Long.

Cá sấu dao thần thoại hóa thành thuồng luồng dao tương đương với từ Giao, giao long. Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt Sử Ký toàn thư có viết về nguồn gốc thành Thăng Long: “Long-uyên tức là Long Biên, tên huyện đời Hán, thuộc Giao Chỉ, dinh quận đời Đông Hán đóng ở đấy.” Theo Thủy Kinh Chú: “Năm thứ 13 đời Kiến An nhà Hán khi mới lập thành có giao long (thuồng luồng) quấn quít ở hai bến nam, bắc trên sông bèn đổi tên là Long-Uyên. Nhà Lý đóng đô ở đấy đổi tên là Thăng Long, Trần Lê theo tên ấy. Nay là tỉnh thành Hà Nội” (Đại Nam XB, tr.125). Chứng tích sử này cho thấy Việt Nam có sấu dao, giao long có thuồng luồng. Ngay tại đất Hà Nội ngày nay vào thời nhà Hán đã có đầy sấu dao, giao long thuồng luồng ở hai bến sông Nhị Hà. Hán Việt giao, tiếng cổ đọc là “kiao” phiên âm từ Cổ ngữ Việt keo. Nhiều tộc gọi chúng ta là Keo. Thái Lào ngày nay còn gọi chúng ta là bọn Keo thật ra là Giao nhưng ngày nay gắn thêm nghĩa xấu vào. Keo với kèo một vần. Ta cũng có từ ghép giao kèo cho thấy giao chuyển hóa với kèo. Kèo là cái cọc (nguyên thủy người thái cổ ký giao kèo bằng cách trao cho nhau mỗi người một nửa chiếc kèo đã khắc dấu). Giao là kèo là  thong long, thuồng luồng, là cá sấu nọc, cá sấu mõm dao. Điều này thấy rõ qua Mã ngữ (Riau-joho ngữ) “buaya jolong” hay “yulong” là cá sấu mõm dao gavial, Tomistoma schlegelii. Jolong, yulong chính là giao long. Giao long chính là sấu gạc, sấu Lạc, sấu mõm dao. Giao thuộc dòng Nước. Vì thế mới phân biệt Giao viết bộ trùng tức Giao Rắn-nước, cá sấu khác với long. Giao long là con rồng ‘kèo nước’, con ‘cọc nước’, ‘con đòng nước’, là cá sấu mõm dao, thú biểu của Chấn lửa nước, một khuôn mặt của Lạc Long Quân có một nhánh Giao.

Lạc Long có hai tộc là Lạc và Long. Lạc Việt làm ruộng nước Lạc điền có thú biểu là Trâu Nước (kim ngưu) và Long Việt hay Giao Việt Cá sấu Dao (giao). Tộc Giao, Dao, Giao  là “người ở nước, Long Hộ, người Đản hay Thán Sín. Theo Quảng Đông tân ngữ thì Đản nhân là một giống người sống về nghề đánh cá, thường lấy thuyền làm nhà gọi là đản gia, phụ nữ gọi là ngư di, con gái nhỏ thì gọi là hiển muội. Người Đản giỏi hụp lặn, đời cổ gọi là Long hộ” (LNCQ tr.29). Những tộc người này sống ở vịnh Bắc Việt, Vịnh Hạ Long, ven biển Quảng Đông và các Đảo vùng Đông Nam. Những “người Nước” này thiện nghệ về sông nước đường biển đi khắp năm châu bốn biển từ cổ thời, họ là những “kẻ sống bềnh bồng trên sóng nước” (sea gypsies) đã mạo hiểm đi tìm đất mới, chính họ dẫn đường cho những đợt di cư “thuyền nhân” bỏ đất tổ ra đi vì cường quyền, vì xâm lược, chính họ đưa vũ trụ giáo, đạo mặt trời của người cổ Việt Đông Sơn (trong đó  hiện vật trống đồng nòng nọc  của đại tộc Đông Sơn là một phương tiện) đi khắp nơi và cũng chính họ mang những tinh hoa ở khắp nơi về vùng đất tổ…

THÚ BIỂU CÁ SẤU TRÊN ĐỒ ĐỒNG ĐÔNG SƠN KHÁC

-Có rất nhiều hình cá sấu giao long cuộn mình thấy trên trống, thạp, rìu đồng và cả trên tấm che ngực trong đồ đồng Đông Sơn…

 Giao long Đào Thịnh (trái), Đông Sơn (giữa) và Ninh Bình (phải).

Lưu ý là đuôi ba cặp giao long bên phải ở đây có hình móc nước, sóng cuộn.

-Rìu gạc ‘Rìu chiến’

Trên chiếc ‘rìu chiến’ núi Voi (Kiến An) có khắc hình giao long.

– Rìu thờ Đông Sơn

Trên chiếc rìu thờ Đông Sơn mà tôi gọi là rìu Hồng Bàng có hình một cặp cá sấu thuồng luồng, giao long. Người cuộn tròn hình sóng mang ý nghĩa nước và trên người có những chấm nọc nhỏ mang nghĩa dương, thái dương, lửa, mặt trời. Đây là con thú biểu “lửa nước”, nọc nước, Việt nước mặt trời nước Lạc Long Quân. Đây là sấu gạc, sấu Lạc, Sấu Việt, Giao Việt. Rìu này ở phần lưỡi có thêm hình mang gạc Kinh Dương Vương và sói lang Hùng Lang nên đây là rìu Hồng Bàng thế gian.

Tóm tắt lại vành chủ chốt 6 con cá sấu dao, sấu Việt này cho thấy trống Hòa Bình Chấn/Cấn mặt trời nhóm thiếu dương có 12 nọc tia sáng có một khuôn mặt là trống biểu của tộc Dao (Giao) Việt của Đại Tộc Việt mặt trời nước Lạc Long Quân.

(còn tiếp).

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: