HỌC ANH NGỮ BẮNG VIỆT NGỮ: NHỮNG TỪ CHỈ LOÀI VẬT (3 và hết).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào tựa bài để mở file).

HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ


NHỮNG TỪ CHỈ LOÀI VẬT.

(phần 3 và  hết)
Nguyễn Xuân Quang
Chi Chú:

-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Chữ trong hai gạch nghiêng / / là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ  phát  âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.
 -Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú  có b(r)u- =  bú, vú (bỏ r hay r câm)….
-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
-Tôi dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ  như  thế  nào không nằm trong phạm vi bài viết này (sẽ nói rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ.) Chỉ xin hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua  môi sinh như  tiếp xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền (DNA) như ruột thị, máu mủ thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.

Ở đây chỉ xin rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng  rất hữu ích từ sự liên hệ này là ta có thể học một cách tường tận, dễ hiểu và dễ nhớ tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại.  Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi  giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngoại quốc giỏi Anh ngữ  có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.

-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng…
Kỳ này xin nói đến Những Từ Về Loài Vật, Côn Trùng (tiếp theo v hết).

  M

M biến âm mật thiết với B, F, P, PH, V. . .
M=B=F=P=PH=V. . .
mare, ngựa cái.
có ma- = mã (Hán Việt); Phạn Ngữ bâha, horse có bâ- = mare, mã. (b=m).
moose, một loài hươu ở bắc Mỹ, hươu bóc vỏ cây.
có gốc thổ dân Algonquian ngữ moos, có nghĩa là he strips off bark (“nó bóc, lột vỏ cây”).
.có moos- = móc (ra).
.có mo- = mo (bao, bọc) như mo nang (bao hoa cau), mo tre (bao măng tre, thân tre) ruột thịt với bóc.
.theo m=b, ta có moos = bóc.
.Nga và Tiệp ngữ los (moose) = lột (vỏ cây).
Một điều lý thú là Việt ngữ có từ mang chỉ một loài hươu và mang cũng có nghĩa là bầu, bao, bọc, túi, có mang là có bầu, có thai và moose cùng loài mang và có nghĩa liên hệ với vỏ cây vì vỏ là bao bọc. Nên nhớ là các tộc thổ dân Mỹ châu có nguồn gốc từ Á châu qua, nên ngôn ngữ của họ liên hệ với cổ ngữ Á châu, trong đó có Việt ngữ là chuyện hợp lý.
Muntjac, Munjac, mang gạc, hươu sủa.
là loài hươu sủa (cervulus muntjac, barking deer).  Sở dĩ được gọi là hươu sủa (như chó) vì khi tới mùa nhẩy cái (mating season), con hươu đực loại này gọi mái phát ra âm thanh giống tiếng chó sủa. Từ Muntjac chính là từ phiên dịch từ Việt ngữ Muông gạc:Munt’, Mun- là Muông, Mang và theo qui luật biến âm j=g như jardin = garden, ta có jac = gạc của Việt ngữ. Muntjac là Muông gạc, Mang gạc, mang kì, hươu cọc, hươu nọc, hươu sừng. Muông, mang, Mường ngữ mong có nghĩa tổng quát chỉ chung loài chim thú giống như từ deer (xem từ này). Ngoài ra Việt ngữ mang, mễn chỉ con nai lông vàng, hung đỏ. Theo Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị “mang: thứ giống nai, hươu mà vàng lông”. Mang gạc tên Hán Việt là kì mang có nghĩa là con thú có sừng. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt,  ở  núi Tản Viên có một nhân vật tên là Kì Mang (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Mang là con hươu có lông đỏ hay vàng đỏvà gạc là sừng, vật nhọn, đực. Mang gạc là hươu nọc đỏ, là hươu Việt, là Lộc Tục! là Kẻ Chàng Kì Dương. Kiểm chứng với Mã Lai ngữ cũng thấy gọi Hươu sủa Barking deer này là Munt’jac, Munt’jak, Mun jak và Java ngữ là menjangan. Mã ngữ Jak- gần cận với Java ngữ jaka, “a young unmarried man”, thanh niên chưa có vợ tức chàng; jaka chính là Việt ngữ gã, Pháp ngữ garçon (con trai). Gã, gar(çon) liên hệ với gạc (cọc nhọn, bộ giống phái nam). Hươu sủá Muntjac chính là Muông gạc. Muntjac còn có thêm một tên nữa trong Java ngữ là menjangan (Mnjangan, trong tự điển có đánh dấu hình ngôi sao có nghĩa là một thổ ngữ không được dùng nhiều, một từ rất cổ). Giaœi tự Menjangan gồm có phần men- và jangan. Men- là mễn, mang và jangan có jang- là dang là dương, là chàng. Thật vậy Mã ngữ bujangga có nghĩa giống như jaka, con trai chưa có vợ tức chàng, bujang, ‘single, unmarried’… Menjangan là mễn chàng (đực). Muntjac, muông gạc, mang gạc ăn khớp với tên Lộc Tục “Nọc Đực”.
Hươu sủa muntjac Mã Lai còn có tên là kijang, kijangjan. Eureka! Kijang là Kì Dương! Kinh Dương. Kijang Hươu Sủa barking deer là hươu Kì Dương, Kinh Dương.
Hươu sủa cao 14-24 đốt, ngoài sừng có hai mấu nhọn còn có đặc điểm là hai chiếc răng “chó” phát triển thành hai nanh dài nhọn, dùng làm khí giới. Muntjac không sống thành từng đàn chỉ đi lẻ loi hay từng cặp trong rừng. Hươu sủa hiền và nhát nên hiếm thấy. Sống ở Đông Dương, Ấn Độ, Trung Hoa. Da Hươu sủa màu nâu đỏ, lẫn với cảnh vật xung quanh nên khó thấy. Hươu sủa chính là con thú chủ (host) của linh thú kì (đi cặp đôi với lân).
Linh thú kì (lân) cũng có vóc dáng thấp như con chó, cũng có sừng hai mấu nhọn, có hai răng nanh, “răng chó” lòi ra. Linh thú Kì (lân) cũng rất hiếm thấy, được cho là mỗi khi thấy xuất hiện là có thánh nhân ra đời… Hươu sủa thấy trên trống đồng âm dương và thạp đồng Hợp Minh (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Như thế linh thú Kì (lân) là thú biểu của Kì Dương Vương, của Xích Quỉ vì vậy mà linh thú Kì (lân) thấy rất nhiều ở các đền đài, đền miếu của Việt Nam.
musk, xạ hương, thứ nước hoa có mùi nam tính.
ở một vài loài động vật đực như chồn, hươu, bò thường trong nước tiểu có mùi hương đặc biệt gọi là xạ hương để đưa đường dẫn lối cho con cái tìm đến. Những con thú này gọi là chồn hương hay chồn xạ, hươu xạ, bò xạ.
Musk có gốc Phạn ngữ mushka, testicle, hòn dái.  Ta có musk = mọng, mộng cũng có nghĩa là hòn dái. Bò mộng là bò dái, bò đực (xem chữ bull). Theo m=b, mọng = bọng (cái bọc) như bọng đái. Hòn dái nằm trong cái bọc, cái bìu (bìu dái).
musk-deer, hươu xạ.
musk-duck, con ngan.
musk-ox, bò xạ.
musk-rat, loài gậm nhấm có xạ hương, chuột xạ.

N

N biến âm mật thiết với Đ, D, L, T. . .
N=Đ=D=L= T. . .
nag, ngựa, ngựa con.
nag = nài, người lái ngựa. Nài biến âm với lái. Nag liên hệ với với nài giống như Phạn Ngữ hesh, nài ngựa ruột thịt với horse (xem chữ này). Nag liên hệ với neigh, ngựa hí.  Với g câm như ngó = nom, ngựa = nựa = neigh = nag.

O

owl, cú.
owl có thể xem là dạng giảm thiểu của howl, hú (như gió hú)
 hào (như hô hào), gào. Ta có howl = /hao/ = hào = hú; với h câm: howl = owl.  Ta cũng có owl = /ao/ = ào (tiếng lớn) như ồn ào, gió hú ào ào.
.theo h=c, hú = cú. Con owl là con howl, con cú là con hú.
.hoot! hoot! tiếng cú kêu có hoo- = hú, theo h=c, hoo- = cú.
Việt ngữ có từ hôi như cú vì cho rằng con cú là loài ăn thịt sống, sống ban đêm và trông xấu xí, liên hệ với chết chóc (cú kêu ma). Theo c=s=x, cú = xú (hôi hám, dơ bẩn) như xú uế.  Cú, xú liên hệ với Phạn ngữ kuth, hôi, kuthita, hối thối, hôi hám. Ta thấy kut- = cứt. Hiển nhiên cứt hôi thối! Việt ngữ cứt có nghĩa gốc là hôi thối.

P

P  biến âm mật thiết với B, M, Ph, V…
B=M= Ph=V…
-pig, con lợn, con heo.
theo p=ph, pig = phịch, phục phịch, béo phịch, béo phì. Phạn Ngữ  piv, to be fat = phì, phị (béo phì, béo phị), phính (má), phinh phính.  Con pig là con phịch, con phục phịch, mập như… con heo.
Mập là do ăn nhiều calorie nên mới có câu ăn như heo. Cổ ngữ Việt hốc là ăn tạp như heo ví dụ không làm thì đừng có hòng mà hốc. Hốc là ăn như con hog (heo) (xem chữ hog). Lợn, heo có nhiều mỡ nên là biểu tượng của mập, béo phì, béo phị. Cũng vì có nhiều mỡ nên là con vật cung cấp mỡ nên tên của nó liên hệ với mập, mỡ. Con heo, con hợi là con huile, con hoi. Với h câm hoi = oi (mỡ bị oxýt có mùi hoi, oi như miệng còn hoi sữa hay oi sữa. Con heo con hợi là con hoi, con huile, con oi, con oil. Con lợn là con lờn, con nhờn (liên hệ với dầu mỡ). Nhờn biến âm với nhầy, nhớt (dầu nhớt, rau đay có nhiều nhớt). Con  boar (heo) liên hệ với Việt ngữ bồ (chất béo, dầu, bơ,  bồ là dạng cổ của mồ như bồ hôi = mồ hôi và mỡ), với beurre (Pháp ngữ). Con heo kêu oint oint là kêu oil oil, theo tiếng Việt là kêu “oi oi” (mùi mỡ dầu bị oxýt hóa). Ointment là thuốc mỡ có oint- (xem thêm boar, swine).
pork, thịt heo, pig, con heo.
porc (Pháp ngữ),   có po- = mo, mỡ, Thái Lan ngữ moo là con heo: moo = mỡ. Con heo là con mỡ vì thế mới ví là mập như heo (xem boar, hog, pig, pork, swine).

R

R biến âm mật thiết với L, D, T, N. . .
R=L=D=T=N . . .
Người Trung Hoa nói R thành L (nói fried rice thành fried lice).
ram
.cừu đực chưa thiến, cừu nọc, đôi khi cũng chỉ dê đực. Thật ra nhìn chung chung, ram chỉ chung loài thú đực.
.mũi nhọn (của tầu); chầy, vồ. Mũi nhọn, chầy… đều có nghĩa liên hệ tới đực, nọc.
.đóng cọc
.đâm vào (to ram a car, đâm vào một chiếc xe).
Tất cả những nghĩa của ram như đực, nọc, vật nhọn, đóng cọc, đâm, đục, thọc (thrust)… đều hàm nghĩa là bộ phận sinh dục đực, làm tình (Quân tử có thương thì đóng cọc, Hồ Xuân Hương), dâm dật. Theo r=d, ram = đâm, dâm. Phạn Ngữ ram có một nghĩa là làm tình và nằm (ram = đâm = nằm). Nằm cũng có nghĩa là làm tình như ăn nằm.  Đâm biến âm với dâm. Ta thấy rõ đâm với dâm liên hệ với nhau qua từ nói lái “đâm da” là “đa dâm” cho thấy đâm (vật đâm là vật nhọn biểu tượng bộ phận sinh dục nam; đâm thọc là động tác làm tình) liên hệ với da (có nghĩa là cái túi bao bọc thân thể, túi chỉ bộ phận sinh dục nữ). Những người nam ham “đâm túi”  “đâm da” hiển nhiên là “đa dâm”. Dân gian thường chọc bác sĩ, y tá là những tay “đâm da” (chích thuốc) “đa dâm”… chuyên nghiệp. Về thực vật, ta có từ râm hay dâm cành, dâm dây  để sinh trồng ra các cây mới. Dâm, râm với nghĩa cắm cành, dây để sinh sản này cũng hàm nghĩa của “ram”. Ta cũng thấy dâm dật, rậm rật (No cơm ấm cật, rậm rật tối ngày) có rậm = Phạn Ngữ ram, làm tình và dật, rật = rut (thời kỳ động cỡn, nứng của cừu, hươu, dê đực) (xem rut).
Con cừu nọc, con “ram” biểu tượng cho dương, nọc, cho đâm, cho “dâm”. Con cừu, dê nọc có khả năng dập, phủ, nhẩy cái cả một đàn cừu cái mỗi ngày. Con cừu ram nhẩy cái, phủ cái tiếng dân dã gọi là dập. Dập chính là Anh Ngữ tup (cừu đực phủ cừu cái), rõ như ban ngày tup = dập.  Vì thế mới nói là vùi dập đời hoa.Theo d=l, dập = lắp. Lắp cũng có nghĩa là làm tình, “lắp là giao cấu với đàn bà” (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhode).  Hồi thời Tây càn quét, lính đánh thuê Lê Dương hãm hiếp đàn bà con gái, còn đàn ông thì “lắp” đít.
Từ cừu liên hệ với cừ là kè là ke (bộ phận sinh dục nam, Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhode) là que là nọc, là cọc là cặc.  Con trừu là con trụ, con cột, con cọc. Như thế cừu trừu mang nghĩa của “ram”. Trong khi đó cừu cái là ewe, theo w=h = c = k =g như  wa = hoa, hòa (san hoa = tam hoa, tam hòa), -we = he = kẽ, khe, ghe (bộ phận sinh dục nữ). Ở đây ta hiểu tại sao con “tôm he” ví với bộ phận sinh dục nữ. Ta thấy rất rõ người đàn ông đầu tiên trong vườn địa đàng của Thiên Chúa giáo Adam có A (xem A) và -dam = đâm = ram và người nữ Eva là biến âm của ewe. Adam có que “đâm” và eva có ví (phái có ví, con cháu của Eva ngày nay, bà nào cũng thích trưng diện với cái ví để khoe ví, khoe của quí… giá).
Từ sheep chỉ chung loài cừu (cả đực và cái) vì thế phải hiểu theo nghĩa âm dương. Theo duy âm, sheep có she- = she (Anh Ngữ chỉ phái nữ) = khe (s=k), = kẽ (h câm) = ghe (s=c=g) chỉ bộ phận sinh dục nữ. Rõ ràng các “she” có kẽ, có khe, có ghe. Con sheep (cái) có ship (ghe).  Theo duy dương, she- = kè, kì = que (s=c=k=q) chỉ bộ phận sinh dục nam. Sheep (đực) biến âm với chim (bộ phận sinh dục nam). Theo biến âm kiểu chiêm chiếp ta có chim = sheep. Ship và chim chỉ bộ phận sinh dục cũng thấy rõ trong ngôn ngữ Ainu. Người Ainu (Hà Di), có từ chỉ bộ phận sinh dục nữ cũng có nghĩa là ghe, nốc y hệt Việt ngữ ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ (xem Dịch Lý và Tiếng Việt). Ainu ngữ “chip” chỉ ghe thuyền. Ta thấy rất rõ “chip” liên hệ với Anh ngữ “ship” (ghe thuyền, theo c=s). Ngoài ra Ainu ngữ “chip” cũng dùng như một tiếng lóng chỉ âm đạo: “chip, a slang word for the vagina” (Rev. John Batchelor, 1905). Tương tự từ chikap (a bird of any kind) = chim. Từ chim chikap cũng dùng như một tiếng lóng chỉ bộ phận sinh dục nam. Từ chi or chiye dùng chỉ chung bộ phận sinh dục cả hai phái giống hệt như từ ke của cổ Việt ghi trong Từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes. Chi biến âm thành chip (ghe) chỉ bộ phận sinh dục nữ và biến âm thành chikap (chim) chỉ bộ phận sinh dục nam giống như ke biến âm thành ghe, khe, kẽ chỉ bộ phận sinh dục nữ và thành que, kẻ chỉ bộ phận sinh dục nam.  Rõ như ban ngày thep k = ch, chi = ke . Ainu ngữ kutchike (penis) = Việt cu; nok (an egg, the testicles) = nòng (lòng, tròng, trứng), nang (trứng dái) liên hệ với Phi Lật Tân Tagalog itlog, trứng. Người Ainu cũng gọi hòn dái là trứng như chúng ta ((Tiếng Việt Huyền Diệu).
Tóm lại con ram là con “đâm”, con “dâm” chỉ cừu đực và dê đực cả hai đều có sừng, có nọc.
rat, chuột.
.rat = Mường ngữ rề, chuột.
 .có tác giả cho rằng con chuột có gốc nghĩa là “con ăn cắp thực phẩm”. Với nghĩa này, rat = Việt ngữ rật, giật (ăn cắp, ăn cướp như cướp giật).
.có tác giả liên hệ rat với Phạn ngữ rada, răng, con voi (có ngà), vajra-rada, lợn lòi vì con chuột là loài gậm nhấm (có răng cứ mọc dài ra mãi cho nên phải gậm nhấm cho mòn bớt). Hiểu như thế, ta có rat = rad(a) = răng.
.Trong Việt ngữ con chuột là con chút, con chít mang nghĩa nhỏ, dưa chuột là dưa nhỏ. Với nghĩa con chuột là con “nhỏ” ta có:
.thep r=l, rat = lắt (nhỏ) như lắt nhắt; rat = chuột lắt, chuột nhắt.
.rat biến âm với ranh, có nghĩa là nhỏ, con nít như ranh con, trẻ ranh. Chuột lắt = chuột ranh (Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Truyện Cổ Nước Nam, tr.205). Rat là ranh là lắt là nhắt. Phạn ngữ  chutt, to become small liên hệ với chuột.
Con chuột trong mười hai con giáp gọi là con tí. Theo nôm na, con tí là nhỏ, con lắt, con nhắt, con rat.

  S

S biến âm mật thiết với, C, CH, G, K, S, X, SH. . .
S=C=CH=G=K=S=X= SH . . .
serpent, rắn, xà.
liên hệ với gốc Phạn ngữ sarp, trườn, lăn, bò,  Rumania sarpe (s có chấm dưới), Ý serpe, Pháp Anh serpent là rắn.
.có ser-, sar- = sà, xà. Chúng ta nói đi xà nẹo hay đi vặn mình xà là đi như rắn như lươn. Từ nẹo là tiếng cổ của lẹo: nẹo = lẹo, theo biến âm lươn lẹo, lươn = lẹo, với l câm lẹo = ẹo = eel. Đi xà nẹo là đi ẹo qua ẹo lại, đi như xà như  lươn như lẹo như eel (xem eel).
.ser-, sar- = sâu (loài bò và thân như rắn). Sâu (worm) có sa- là sà, xà (rắn) vì sâu có những con giống rắn, từ worm trong nhiều ngôn ngữ cổ Ấn-Âu cũng có nghĩa là rắn (xem worm). Ta cũng thấy theo biến âm kiểu sâu sa, ta có sâu = sa, sà, xà.
.theo s=c=ch, sar- = chăn, trăn.
snake, rắn.
.có gốc -nak- = nác, nước. Rắn có thân ngoằn ngoèo mang hình ảnh dòng nước. Rắn đơn giản, không có trang trí gì (unadorned)  biểu tượng cho nước.
.snake ruột thịt với con nạ (loài thủy quái có gốc rắn). Các đình ở miền Nam thường có ống máng xối hình con nạ.
.theo s=ch, s(n)ake = chạch. Chạch họ hàng với lươn trông giống như rắn:
Lươn ngắn mà che chạch dài,
Thờn bơn méo miệng che trai lệch mốm.
.có -nak- biến âm với nẹo, chúng ta nói đi xà nẹo là đi như rắn (xem serpent).
 .snake liên hệ với Khmer, Lào nak, Phạn ngữ naga, rắn, rồng.
Sow, heo cái, lợn sề.
Lợn sề là heo nái: Ba bà đi bán lợn sề.
Ta có từ đôi sồ sề hay xồ xề là người béo xệ, không còn thon gọn trông xồ xề như lợn nái sề.
 sồ, xồ = Anh ngữ sow, heo cái, lợn sề, có so- = sồ, sồ sề =  Cổ ngữ Anh sù = = Latin sùs =  Phạn ngữ su-kara, a hog (lợn sề).
 Ở đây là một ví dụ cho thấy rõ có sự dùng lẫn lộn giữa x và s giữa xồ xề và sồ sề.  Có nhiều nơi nói và viết là sồ sề, có nhiều nơi viết là xồ xề. Nếu ta chọn cách viết sồ sề thì đây là cách viết lấy theo gốc sề là con heo nái sề hợp với các từ lợn sề trong Ấn Âu ngữ, nghĩa là sồ cùng vần với con sow, con sù, sus. Cách này giúp cho sự khảo cứu dễ dàng vì biến âm vẫn giữ theo vần S có nghĩa là biến âm mẹ con, ruột thịt. Nếu ta lý luận cho rằng sồ sề trong Việt ngữ có thể đã biến âm với con lợn sề và với Ấn Âu ngữ rồi và sồ sề bây giờ đã dùng làm một tính từ (adjective) nên ta có thể viết theo biến âm X của S, cách này đã có biến âm từ  gốc S qua X. Dĩ nhiên trong dân gian vùng nào nói theo cách nào cũng được, còn trong khoa bảng thì tùy thuộc theo giới thẩm quyết quyết định chọn một qui ước và học trò sẽ phải viết theo khi đi thi lấy bằng cấp để tiến thân (xem thêm boar, pig, pork, swine, sweat).
swine, sề, heo, lợn (cái), cúi.
swine thật ra là heo cái, heo nái, lợn sề, con cúi. Ta thấy rất rõ theo w=u, swine = sui- =  cúi. Cổ ngữ Việt con heo gọi là con cúi.  Phạn ngữ su-kara (u có ^), a hog.  Theo c=s, cúi = Việt ngữ sề (lợn nái), Latin sùs, Cổ ngữ Anh sù (lợn sề), = Phạn ngữ su- = Anh ngữ kiện kim swine, heo nái, lợn sề. Latin suillus, ham ăn, dơ bẩn như heo. Việt ngữ cúi biến âm với cũi là chiếc chuồng nhốt cúi, chuồng heo, sau này dùng rộng ra cũi là chuồng nhốt thú vật và người. Cúi cũng biến âm với cùi chỉ bệnh hủi (xem leprosy).  Theo quan niệm của dân gian cổ Việt, bệnh cùi là bệnh do ở bẩn như con cúi hay là một thứ bệnh bẩn thỉu như con cúi. Bệnh cùi còn gọi là bệnh hủi. Vì sao? Vì  hủi là biến âm của hợi (con heo, tuổi hợi là tuổi heo). Bệnh hủi cũng như cùi là bệnh do ở bẩn hay là một thứ bệnh bẩn thỉu như heo, như hợi. Tục ngữ có câu bẩn như hủi, bẩn như heo, lười như hủi tương đương với lười như heo. Theo truyện cổ tích nuớc ta, con heo là một con vật rất lười biếng chỉ xin được ăn rồi nằm vì thế nên có câu “ăn như heo” và trở thành mập như heo. Tóm lại theo dân gian cổ Việt, bệnh  hủi hay bệnh cùi là do ở bẩn hay là một thứ bệnh bẩn thỉu như  hợi, như heo, như cúi.  Một chứng bệnh lan truyền tình dục Tây phương gọi là syphilis, dịch qua Việt ngữ là giang mai, có nhà tầm nguyên ngữ học giải thích là sy- có gốc Latin sus, heo nái và cho rằng chứng bệnh này theo dân dã Tây phương cổ cho rằng do giao hợp với heo cái mà mắc bệnh (xem syphilis).

T

T biến âm mật thiết với Đ, D, TH, TR, N. . .
T=Đ=D=N=TH= TR. . .
toad, con cóc.
toad = tót. Con toad (cóc) là con “tót”.  Ta có từ ghép điệp nghĩa nhẩy tót với nhẩy = tót.
Đầu trọc lóc bình vôi,
Nhầy tót lên chùa ngồi.
Ê a kinh một bộ,
Lóc cóc mõ ba hồi.
Tót , thót là nhẩy cũng thấy qua câu nói “mới đó mà nó đã tót đi đâu rồi! “ hay “tót (thót) một cái, nó đã biến mất”.  Con bò tót là con bò nhẩy, nhẩy cái (bò đực). Con toad là con tót, con nhẩy, con nhái (xem frog). Một lần du lịch đến Nga, một tối người hướng dẫn du lịch mời chúng tôi “lets go for a zhok” Thổ ngữ Moldavian ở Nga zhok, to dance. Zhok chính là Việt ngữ dót, dọt, nhót. Chúng tôi đã được xem trình diễn vũ khúc Zhok của Vũ sư I. Moisegev, giám đốc đoàn vũ Moisegev Dance Company of Moscow sáng tác theo âm nhạc của G. Fedov. Theo t=đ, tót = dọt, nhẩy, chạy nhanh như nó dọt đi mất rồi, chiếc xe rất dọt. Theo d=v, dọt = vọt, có cùng nghĩa. Theo d=nh, dọt = nhót, nhẩy nhót. Do đó ta có từ nhẩy vọt liên hệ với nhẩy nhót.
-tom, thú đực.
tom có nghĩa là đực như tom turkey, tom cat. Tom = đâm (vật nhọn, nhẩy cái, gieo nọc, cắm nọc), đục, đực. Con gái có nam tính (dương nữ) như con trai gọi là “tom boy”. Theo m=b=p, tom = top (trên, nằm trên). Top cùng nghĩa với Việt ngữ phủ nghĩa là nằm phủ lên trên nên có nghĩa là giao hợp. Phủ = Anh ngữ fuck. Theo biến âm kiểu phủ phục, ta có phủ = phục = fuck. Do đó top cũng dùng với một nghĩa là con thú đực ví dụ top horse, ngựa đực. Ta cũng thấy top biến âm với tup, cừu đực phủ cừu cái, tup = dập. Dân dã Việt nói dập là phủ, làm tình. Theo d=l, dập = lắp. Lắp cũng có nghĩa là làm tình, “lắp là giao cấu với đàn bà” (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhode) (xem tup). Top, tup hàm nghĩa phủ, fuck (xem chữ này).
Tom liên hệ với Việt ngữ tòm, tòm tem:
Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem
Tom là đực là nọc (heo nọc), là cọc là cặc. Hiển nhiên tòm tem liên hệ với tom, top, tup. Tom, tòm tem là cắm cọc, làm tình. Việt ngữ cũng có từ “đánh trống bỏi”. Đánh trống là “tom tom”. Anh ngữ drum, trống có d(r)um = tom và Pháp ngữ  tambour có tam- = tom. Ta thấy rõ đánh trống là “tom tom”, “đâm đâm” (kiểu đánh trống đồng theo âm dương, xem Giải Đọc Trồng Đồng Đông Nam Á). Theo d= l=r, đâm = ram (Phạn ngữ), làm tình (xem ram).
Tóm lại tom =  tòm tem, đâm (nhẩy cái, gieo nọc, cắm nọc), đục, đực liên hệ với top, tup.
tortoise, rùa, qui.
tortoise thường chỉ rùa sống trên cạn, trên đất, trong khi turtle chỉ rùa sống dưới nước. Thật ra, turtle chỉ là biến âm của tortoise. Được cho là liên hệ với torture, đau vặn người, tra tấn, Latin tortus, quá khứ phân từ của torquere, to twist, wring, whirl liên hệ với gốc Aryan-Phạn ngữ tark, to twist, turn round, torture, press. Ta thấy rõ Hán Việt tra tấn biến âm với tark. Phạn Ngữ kurma, tortoise, Mã Lai ngữ kura, cuora, rùa có kur- biến âm với Anh ngữ curve, cong, với Việt ngữ cong. Điều này giải thích tại sao con ba ba Trung Nam gọi là con cua đinh. Điều lý thú là Việt ngữ “cua” có một khuôn mặt là phiên âm của Pháp ngữ cours, courbe (cong) như bẻ cua = quẹo. Có tác giả giải thích con cua có một nguồn gốc nghĩa ngữ là con đi vặn vẹo, đi qua, lộn lại,  “đi ngang như cua”,  “ngang như cua”.
Rùa được gọi là tortoise, ruột thịt với tortuos, vòng vo, dòng do, quanh co, khúc khuỷu, vặn vẹo là gọi theo hình dáng những chiếc chân “bẻ quẹo”, “vặn vẹo” của nó. Ta cũng thấy:
.tort- = Việt ngữ trẹo, dẹo, vẹo (như bị trẹo, dẹo chân tay), vặn vẹo.
.tort- = tẽ (rẽ, quẹo), theo biến âm kiểu tò te, ta có to- = tẽ.

V

V biến âm mật thiết với U, O, OO, A, E, I = K, Q. . .
V=U=O=OO=A=E= I . . .
.Latin cổ U = V hiện kim, Latin vox, Anh ngữ voice = Việt ngữ u, ơ, vowel,  nguyên âm = u, ơ. Trong mẫu tự của Hungary, chữ U viết thành V.
.wagon = va-gông.
.Pháp ngữ vagabond = ma-cà-bông (phiên âm), dân lang bang, lang thang.
vermi- (gốc từ), sâu, bọ, chí rận, rệp, giun, sán, chỉ chung sâu bọ, côn trùng.
.Pháp ngữ ver, sâu, ver à soie, sâu tằm.
.ver- = ve, ve vắt.
.ver- = vặn, vẹo cùng nghĩa với uốn éo, (xem dưới).
.theo v=u, ver- = ue, oe, (ngo ngoe với ng câm = o oe), Thái Lan ngữ ngoo, rắn, ver- = éo (uốn éo) chỉ hình dáng sâu, giun, sán, rắn. Chữ u là dạng cổ của v trong nhiều ngôn ngữ như trong Latin uermis, con sâu = ngày nay vermis, ta thấy rất rõ vermis có ve- = ue (ngo ngoe); trong Việt ngữ cũng vậy cổ ngữ u = v hiện kim như ùa cơm vào miệng = và cơm vào miệng (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhode). Trong nhiều ngôn ngữ cổ Ấn-Âu worm cũng có nghĩa là rắn vì con sâu là những con rắn tí hon, bằng chứng là sâu có gốc sa- cùng âm với sà, xà, rắn. Theo biến âm kiểu sâu sa, ta có sâu = sa = sà, xà. Theo biến âm kiểu sâu sa, ta có sâu = sa = sà, xà. Worm có wor- = uor- = uốn (éo). Sâu và rắn là con uốn éo. Pháp ngữ vers, con sâu có ve- = éo, ver- = uốn, xem chữ vermin, xem chữ worm.
Lạc Long Quân có từ Lạc viết với bộ trãi, con sâu không chân tức là  loài “sâu” rắn. Theo tr=d, trãi là dải, nghĩa đen là dải, dây, con rắn còn gọi là con dải vì có hình dải dây. Lạc Long Quân viết với bộ trãi, sâu rắn là tộc rắn rồng.
vulture, chim kên kên, con vọ.
vulture là loài mãnh cầm có móng vuốt nhọn để cấu, xé xác con mồi nên được gọi theo cái đặc tính của móng vuốt. Vulture có:
.vult- = vuốt.
.vu- =, vó (chân), vì thế mới có tên là con vọ. Kên kên thuộc loài mãnh cầm cú vọ, diều hâu, biểu tượng cho mặt trời, bạo tàn. Phạn ngữ bhâsa, a vulture, có bhâs, bật sáng, ánh sáng, bhâtu, mặt trời. Bhâs = Việt ngữ bật (bật sáng, bật đèn, bật lửa). Vì thế nhiều nơi chim kên kên mang hình bóng chim ó, chim ưng, diều hầu biểu tượng cho lửa, mặt trời. Ai Cập cổ có lúc chia ra làm Ai Cập Thượng ở vùng núi cao thượng nguồn sông Nile có biểu tượng là con vulture và Ai Cập Hạ ở châu thổ sông Nile, chỗ sông đổ ra Địa Trung Hải có biểu tượng là con rắn hổ mang cobra. Mẫu tự A  là chữ  nòng nọc vòng tròn-que hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) trong linh tự (hieroglyph) Ai Cập được biểu tượng bằng con chim vulture (xem A trong Từ Điển Tương Đồng Anh Việt).

W

W biến âm mật thiết vời V, D,  U, Q, QU, K, C, H. . .
W=V= D (người Nam dùng D thay V) =U= Q= QU=K=C= H…
.w=h, Mường ngữ wã chăng = họa chăng, wặc = hoặc;  hoa! = whoa! Hán Việt wa, wah = hoa, hòa như nhà băng San Wa = Tam Hoa, Tam Hòa, chợ Man Wah = Văn Hoa,
wolf, chó sói.
chó sói là thủy tổ của chó nhà.
theo w=q=k = c như Mường ngữ wầl = cuộn, quấn, ta có wolf = /wul-/ = kun = cún. Cổ ngữ Việt cún là chó, ngày nay cún chỉ
chó con. Thằng cu còn gọi là thằng cún, chó con.
-worm, sâu, giun, trùn.
trong nhiều ngôn ngữ cổ Ấn-Âu worm cũng có nghĩa là rắn vì      con sâu là những con rắn tí hon, bằng chứng là sâu có gốc sa- cùng âm với sà, xà, rắn. Theo w = u, worm có wor- = uor- = uốn (éo), thấy rõ nhất qua từ Latin uermis, a worm, có uer- = uốn, éo. Sâu và rắn là con uốn éo. Pháp ngữ vers, con sâu, có ve- = éo, ver- = uốn, xem chữ vermin.

Z

zoo, sở thú, thú vật.
 theo qui luật Grimm, d=th (= z), ta có zoo = Hy Lạp ngữ  ther, chỉ chung loài thú (xem deer) ) = Việt ngữ  thú.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: