HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ: NHỮNG TỪ CHỈ LOÀI VẬT (2).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ

(tiếp theo)

NHỮNG TỪ CHỈ LOÀI VẬT.

Nguyễn Xuân Quang
Chi Chú:

-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Chữ trong hai gạch nghiêng / / là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ  phát  âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.
 -Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú  có b(r)u- =  bú, vú (bỏ r hay r câm)….
-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
-Tôi dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ  như  thế  nào không nằm trong phạm vi bài viết này (sẽ nói rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ.) Chỉ xin hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua  môi sinh như  tiếp xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền (DNA) như ruột thị, máu mủ thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.
Ở đây chỉ xin rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng  rất hữu ích từ sự liên hệ này là ta có thể học một cách tường tận, dễ hiểu và dễ nhớ tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại.  Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi  giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngoại quốc giỏi Anh ngữ  có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.
-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng…
Kỳ này xin nói đến Những Từ Về Loài Vật, Côn Trùng (tiếp theo).  
-goat
1. con dê,
2. dê, ba mươi lăm, dâm dật,  dâm dục, có máu dê.
3. da dê.
4. The Goat, chòm sao Ngưu.
5. scapegoat, nguời dùng làm vật hy sinh, tế thần, gánh chịu tội cho người khác, bị oan.
Tại sao chúng ta gọi là con dê? Theo biến âm kiểu dầm dề, suy ra con dê biến âm với dâm. Dâm dê, dầm dề.  Dâm biến âm với đâm (có một nghĩa là đục, đụ, làm tình). Con dê sừng, dê nọc, con ram là con đâm, con dâm (xem ram). Con goat gọi tên theo hai chiếc sừng nhọn. Phạn Ngữ mesha, ram, tháng Aries có mes- = mùi. Ta cũng thấy Aries có gốc ar- hàm nghĩa vật nhọn, nọc, cọc, cây như thấy qua các từ arrow (mũi tên), artchoke (cây có hoa như chùy nhọn, lá có gai nhọn, hart, hươu đực (xem những chữ này), Pháp ngữ arbre, cây, ruột thịt với gốc Phạn ngữ ar, cầy (cầy nguyên thủy là một khúc cây vát nhọn để xới đất, xem từ  arable) và với ác (chim ác liên hệ với với lửa, mặt trời, tức dương). Trong mười hai con giáp con dê có tên là con mùi. Mùi biến âm với mũi (vật nhọn như mũi dùi). Theo biến âm m=b, con mùi là con bùi, con buồi (xin lỗi các người có họ Bùi!). Buồi là bổ, búa (vật nhọn), Anh ngữ penis, buồi có pen- là viết, bút, vật nhọn để vạch, vẽ, khắc; pen- = Việt ngữ bén (nhọn, sắc).
Con dê có tên Hán Việt  là con dương. Dương là đực, là nọc (heo nọc = heo đực), là mặt trời. Trong nhiều nền văn hóa, dê đực dùng làm biểu tượng cho mặt trời như Ai Cập chẳng hạn.
Theo g=c, goat = cột, cọc. Cọc là nọc, là đực là dương, là dê. Cọc, cột biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Pháp ngữ bouc, dê đực, bouc =  bổ, búa, buồi. Như thế con goat là con cột, con cọc, con ram là con đâm, dâm, con đục, con đực, con nọc,  con dương (Hán Việt), đẻ ra  con kid (dê con) là con kì, con kè, con kẻ (nọc, cọc nhọn) (xem kid).  Ở đây một lần nữa cho thấy Việt ngữ giúp tìm nguyên ngữ Anh ngữ đến nơi đến chốn.
Việt ngữ con dê còn nói là con ba mươi lăm vì trong trò chơi thai đề con dê ở số 35.
goose
1. con ngỗng cái (thường nói mother-goose, mẹ ngỗng) ngược với ngỗng đực gander (xem chữ này).
2. người ngu ngốc, khờ dại, khờ khạo.
ruột thịt với Đức ngữ gans, Phạn ngữ hansa, ngỗng.
.theo g=ng như gặt = ngắt (lắt, lặt), ta có /gu/ = ngu = ngỗng.
Ta thấy rất rõ con goose, con /gu/ là con ngu! Con ngốc! con khờ dại!
.goose có go-, ga- = nga (Hán Việt chỉ một loài ngỗng, thiên nga), ngỗng = ngan (vịt xiêm).

H

H biến âm mật thiết vời C, G, K, Q. . .
C=G=K=Q. . .
H thường thấy rất nhiều ở dạng câm.
hart, hươu đực.
loài hươu chỉ con đực mới có sừng, có gạc, ngoại trừ loài tuần lộc, nai chà reindeer con cái cũng có sừng.
.hart chính là Việt ngữ hươu, hưu, hiêu. Việt Ngữ, hươu, hiêu, hưu biến âm với”hèo (roi, vọt, nọc), với Mường ngữ “hẻo” (húc bằng sừng). Hươu là con hèo cọc, con nọc là con đực. Hươu chỉ con đực. Theo h = k, hươu = hèo = kèo. Con hươu là con kèo, con kè, con ke, con que (bộ phận sinh dục nam), con ker- (gốc Hy Lạp), sừng, con cerf (Pháp ngữ), hươu.
.theo h=g, hart = gạc (h=g), con hart là con gạc. Theo h=c, hart = cặc, cọc (nọc).
.hart hàm nghĩa mang dương tính, đực, nọc, cọc, mặt trời.
Ta thấy rất rõ, với h câm, hart = art. Art liên hệ với gốc ar- hàm nghĩa vật nhọn, nọc, cọc, cây như thấy qua các từ arrow (mũi tên), artchoke (cây có hoa như chùy nhọn, lá có gai nhọn, hart, Pháp ngữ arbre, cây, ruột thịt với gốc Phạn ngữ ar, cầy (cầy nguyên thủy là một khúc cây vát nhọn để xới đất, xem từ arable) và với ác (chim ác liên hệ với với lửa, mặt trời, tức dương). Hậu tố -art, -ard thường chỉ đực như mallard, vịt đực (xem chữ này).
Từ nai biến âm với nái (con cái đẻ con) như heo nái, nái xề, với nạ (đàn bà có con) như nạ dòng, với ná (mẹ) như áng ná (cha mẹ)… Từ nai chỉ con cái. Trong khi doe, nai cái có do- = đỏ (có một nghĩa là phái nữ):
Con đỏ ãm em đi xem đánh cá.
(xem doe).
Nguyên thủy hươu nai là hai từ chỉ con đực và con cái của cùng một loài thú tổ sinh ra tất cả các loài thú và là biểu tượng cho cả con người đầu tiên, đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là Kì Dương Vương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Con hươu là thú tổ của các con thú đực dòng nọc, lửa, dương, con nai là con thú tổ của các con thú cái dòng nòng, nước, âm. Cũng nên biết ngôn ngữ Việt Nam có hai dòng: miền Bắc thuộc dòng mẹ Lửa Âu Cơ nên thường nói hươu, trong khi miền Trung Nam thuộc dòng cha Nước Lạc Long Quân nên thường nói nai.  Ngày nay người Việt Nam đã quên mất giống phái, âm dương trong Việt ngữ  nên  hai từ hươu và nai chỉ chung cả con đực và con cái. Để phân biệt phải dùng thêm một từ chỉ định tính phái ví dụ Trung Nam dùng thêm từ chà, gọi nai chà chỉ loài hươu sừng, hươu gạc sừng chẽ ra như nhánh cây. Tác giả Bình Nguyên Lộc  cho là con tuần lộc reindeer. Chà, chá là dạng giảm thiểu cắt cụt bớt của cháng, chạng, ruột thịt với chạc, gạc. Chổi chà là chổi làm bằng nhánh cây (xem Giải Phẫn Tiếng Việt).
Hai từ hươu-nai, đực cái này là một địa khai ngôn ngữ quí hơn vàng về mặt truyền thuyết và cổ sử. Hai từ hươu/nai chỉ con đực và con cái của loài thú này giúp ta nhận dạng ra được hai linh vật kì lân. Kì lân là từ Hán Việt. Cổ thư Trung Hoa có ghi Kì là con đực, Lân là con cái. Như đã biết kì biến âm với cổ nhữ Việt ki là cây, với kẻ là nọc, đực, là con thú có nọc, có sừng tức con hươu. Ta có từ láy kì kèo nghĩa là kì = kèo. Con kì là con kèo, con kẻ, con hươu. Kì Dương Vương vua tổ của chúng ta có Kì là con hươu đực, vì vậy mới có nhũ danh là Lộc Tục, Hươu Đực (KQKTCSHV, 1999). Kì chính là linh vật có cốt (host) là con hươu sủa (barking deer) hay mang gạc (muntjac) có sừng hai mấu nhọn. Việt ngữ con kì gọi là con nghê. Theo biến âm ngh=k như nghẹt = kẹt, ta có nghê = kê, kẻ. Từ Lân là từ Hán Việt, áp dụng qui tắc chuyển từ Việt ngữ qua Hán ngữ theo N/L (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt) ta tìm ra từ cổ Việt tương ứng với lân là “nân”. Nân biến âm với nang, nòng, nàng, nái là âm, cái. Nái biến âm với nai. Như thế con lân là con thú cái, là con nái, con nai (KQKTCSHV). Linh vật kì và lân có cốt là hươu và nai. Hươu nai là hai con thú tổ của loài thú và của sinh vật trên mặt đất nói chung nên kì lân là linh vật biểu tượng cho muôn sinh cõi đất thế gian. Hình hai linh vật kì lân thấy trong nghệ thuật Trung Hoa và Việt Nam cũng như các đầu lân múa trong dịp lễ tết có thể giúp ta biết được con nào là con kì đực và con nào là lân cái. Những con có hai sừng hai mấu nhọn là con kì thái dương dòng đất núi, đất cao thái dương mà ngày nay còn thấy qua từ Kẻ, Quê (xin nhắc là thú bốn chân sống trên mặt đất biểu tượng cho đất). Những con không có sừng là con lân cái dòng đất thấp có nước thái âm như ao, đầm, ruộng đất thấp hay ruộng chiêm mà ngày nay còn thấy qua từ Nà (người, chỗ ở, ruộng nước). Tuy nhiên có một loại “lân” chỉ có một sừng, loại độc sừng (unicorn) thì sao?  Có thể đây là con  kì  “thiếu dương”  dòng đất dương vùng đồi hay là con lân “thiếu âm” vùng đất ruộng nước cao hay là con “lân chi tộc nam” của ngành ngoại Lân thay thế cho Lân nữ vào thời phụ quyền. Phải dựa vào các chi tiết khác như màu sắc mới phân biệt được.
Dựa vào những dữ kiện sau đây ta thấy Kì Lân là hai linh vật có thể là có gốc của Bách Việt:
-qua hai từ hươu-nai ta khám phá ra hai từ kì lân là biến âm của hai từ Kẻ Nang của Việt ngữ và kì lân có khuôn mặt thật trong thiên nhiên có tên là “hươu nai” trong Việt ngữ. Nói một cách khác, hươu nai của Việt Nam thần thoại hóa thành kì lân.
-Vua thái tổ ngành nội Hừng Việt Mặt trời thái dương Kì Dương Vương (vua Hươu Đực mặt trời thái dương) của chúng ta có cốt là Lộc Tục, Hươu Đực Kì ứng với linh vật Kì.
-Chúng ta thường múa lân, trong khi bắc Trung Hoa thường múa rồng. Ở miền Bắc theo dòng Lửa Kì Dương Vương tức ngành theo Mẹ Tổ Âu Cơ lên Núi (người Mường có con hươu sao là vật biểu của bà Ngu Cơ) thường múa kì có hai sừng, trong khi đó múa lân một sừng hay không có sừng thấy nhiều ở phần đất nam Trung Hoa, tức địa bàn của các tộc Âu, Tày có vua thái tổ là mặt trời êm dịu An Dương Vương (có sử chép An Dương Vương là người gốc Tầy). Hình bóng lân quả thật là linh vật của dòng ngoại An Việt, Mặt Trời Êm Dịu An Dương Vương.
. . . . . .
Kì là linh vật của nhánh Kì Dương Vương ngành Lửa Mẹ Tổ Âu Cơ và  Lân, nhánh An Dương Vương ngành Nước Lạc Long Quân của chúng ta (Tiếng Việt Huyền Diệu).
hawk, loài mãnh cầm, chim ó, chim ưng, diều hâu.
Trung cổ Anh ngữ hauk, hauek, havek, được cho là có lẽ có nghĩa gốc là “seizer”, “loài chim vồ bắt mồi”, liên kết với “to have”, Latin capere (xem  have). Nếu chấp nhận như thế thì
.theo h=c, haw-, hau- = hâu = cấu (bấu),
.theo h=c=ch, haw-, hau- = hâu = chấu (mấu).
.theo h=v, haw-, hau-, hâu = vấu (mấu) = vuốt.
con hawk, con hâu có móng sắc cấu, bấu, mấu, vấu bắt mồi.
Như thế hiểu theo nghĩa trên, theo h=c, hw-, hau- = hâu = câu (móc nhọn). Chim hâu là chim có vuốt móc câu, là chim cấu, bấu, “vồ bắt mồi”. Mấu vuốt  có nghĩa là vật nhọn (như  cọc, nọc,  rìu, búa). Cọc là cặc, nọc là đực (heo nọc = heo đực), đực là dương. Dương vừa có nghĩa là đực vừa có nghĩa là mặt trời. Vì
Mà chim hâu, âu, ó biểu tượng cho mặt trời.  Hawk  biến âm với hache (rìu, búa) biểu tượng cho dương, mặt trời. Hawk tương đương với chim rìu, chim cắt (hornbill) của chúng ta (xem hornbill).
Nếu hiểu theo biến âm với Việt ngữ ta thấy:
.hawk = hâu (diều hâu).
.với h câm, -aw- = âu, ó. Chim hâu, âu, ó, ưng biểu tượng cho mặt trời, nói chung là những loài mãnh cầm mang dương tính.
.với h câm, haw, hau- = hâu = au, au, nếu hiểu theo Việt ngữ thì au có nghĩa là đỏ như đỏ au, liên hệ với  mặt trời, với aureola, hào quang (xem chữ này).
.hawk có haw- = hâu, có một nghĩa là đỏ như đỏ hau hau, má đỏ hau, dưa hấu là dưa đỏ (xem water melon). Đỏ là tỏ là mặt trời.
.ta thấy rất rõ hawk liên hệ với mặt trời qua cổ sử Ai Cập. Hawk liên hệ với Ai Cập ngữ Horus, gốc là chim falcon, thần bầu trời, về sau trở thành thần Mặt Trời, con của Mặt Trời Osiris (mang hình bóng Lạc Long Quân)  và Isis  (mang hình bóng Âu Cơ) như thế Horus mang hình bóng Hùng Lang, thường gọi là Hùng Vương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt) . Horus thường được diễn tả bằng hình người có đầu là chim hawk.  Hùng Vương  vì thế cũng có một khuôn mặt là mặt trời sinh tạo, mặt trời mọc như Horus và có chim biểu theo duy dương là con chim mlang, mling tức con chim Cắt (xem bài viết về Ngày Lễ Hai Bà Trưng).
Linh tự A của Ai Cập cổ phát âm là Ahau. Theo các nhà Ai Cập học, Ahau được biểu thị bằng con kên kên (vulture), một loài mãnh cầm biểu tượng cho dương tính, lửa, mặt trời. Ta thấy Ahau có A là lửa, mặt trời, thái dương và -hau  liên hệ với Việt ngữ hâu (diều hâu), với Anh ngữ hawk cũng là một loài mãnh cầm biểu tượng cho dương tính, lửa, mặt trời (xem chữ A).
hen, gà mái.
.theo h=k, he- = ke, kẽ, khe, ghe (h=k=g) chỉ bộ phận sinh dục nữ. Con hen là con ke (có nghĩa chỉ bộ phận sinh dục đàn ông và đàn bà, Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La), con kẽ, con khe, con cái, con gái, con mái (gà). Việt ngữ gà là con cà, con kê (chuyện cà kê), Hán Việt kê là gà. Ta có từ đôi gà qué với gà= qué. Con gà là co qué, con que con ke. Vì hen là con gà mái nên ke lấy theo biến âm kẽ, khe, ghe chỉ bộ phận sinh dục đàn bà. Nếu là gà trống (chống tức chông, que nhọn) ta lấy biến âm của ke theo kẻ, que (nọc) chỉ bộ phận sinh dục đàn ông. Con cock, coq (Pháp ngữ) là con cọc, con cặc. Từ cock vì thế còn có nghĩa là bộ phận sinh dục nam. Theo h=k (bệnh hen = bệnh kèn, người bị hen, thở cò cử như thổi kèn), ta có hen = kén, cái bao con nhộng. Bao túi là nang, nàng, nường. Theo k=ngh như kịt = nghịt (đen), ta có kén = nghén. Có nghén là có bao, có bầu.
Tóm lại con hen là co gà ke, kẽ, khe, cái, mái (xem cock), con kén, con nang, con nàng, con nường.
.Hy Lạp ngữ kalais, hen có ka- = cà, gà.
heron, cò.
Trung cổ Anh ngữ hern, được các nhà tầm nguyên nghĩa ngữ Tây Phương cho là có lẽ phát gốc từ tiếng gại mỏ kêu “kẹc kẹc” của loài cò, dựa theo biến âm h=k,  her- = ker- = kẹc, kẹc. Giải thích này nghe không được thuyết phục lắm. Bây giờ ta lại phải nhờ tới Việt ngữ để giải thích cho thỏa đáng. Theo chúng ta con cò biểu tượng cho đực, dương tính, hùng tính tức liên kết với hero, anh hùng với hùng có một nghĩa là đực như thư hùng là cái và đực (xem chữ hero). Con cò có mỏ dài, nhọn biểu tượng cho dương tính nên gọi tên theo chiếc mỏ và theo nghĩa biểu tượng.
.theo h=c,  her- = ke, có một nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La).
.her = ke, cò, cồ, con cu, con cọc, con cặc; her- = kẹc, cặc. Cò biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam.
.her- =  hạc,  con cò như Bạch Hạc là Cò Trắng, Hạc Trì là Ao Cò (cò đi với ao đầm) và chỉ một loài chim cùng họ nhà cò nhưng sống trên cạn là con  hạc crane.
.theo h=k, her- =  ker-, (h=k) = kẻ, kè, kì (cọc), ta có từ đôi cò kì, cò kè cho thấy rõ cò = kì = kè= ker- = her-, heron.
.cigogne (Pháp ngữ), cò có ci- = kì.
Loài cò biểu tượng cho dương tính cũng được xác nhận qua tên động vật học ardeidae, họ cò. Ardeidae có gốc a, ar là nọc, cây, vật nhọn biểu tượng cho nọc, dương, đực, mặt trời (xem chữ A,  hart). Cùng gốc a, ar- này ta cũng thấy rất rõ cò mang dương tính, mặt trời qua từ Aztec có nghĩa là Người Cò (Heron People), họ tự nhận là Người Mặt Trời (People of the Sun). Aztec là một thứ Lang Việt ở Trung Mỹ (nên nhớ thổ dân Mỹ châu đến từ vùng duyên nhải Nam Á). Lang Việt Hùng Vương là Người Cò Lang có chim biểu là Cò Lang trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).  Nên nhớ Cò là chim biểu tượng cho Gió, chim biểu của Hùng Vương (xem bài viết Chim Lạc hay Cò Lang?). Cốc, cuốc là chim Nước, chim biểu của Lạc Long Quân. Gà là chim Lửa thế gian, chim biểu của Kì Dương Vương. Trĩ lửa là chim Lửa cõi trời, chim biểu của khuôn mặt thế gian của Đế Minh.  Cắt là chim Lửa vũ trụ, chim biểu của  khuôn mặt tạo hóa, vũ trụ của Viêm Đế. Tất cả tên các loài chim này đều có nghĩa là nọc, cọc, mang dương tính, biểu tượng cho mặt trời.
Như thế ta thấy rõ các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương giải thích heron cũng phát gốc từ ker- nhưng cho là được gọi tên theo tiếng gại mỏ kêu “kẹc” “kẹc” là cách giải thích theo duy tục.
hog, heo, lợn.
lợn, heo là con có nhiều mỡ, mập như… con heo! Mập là do ăn nhiều calorie nên mới có câu ăn như heo.
Ta có hog = hốc là ăn tạp như heo ví dụ không làm thì đừng có hòng mà hốc. Hốc là ăn như con hog (heo). Con hog là con hợi con heo. Theo biến âm kiểu học hỏi, ta có hog = hợi.
hornbill, chim cắt, bồ cắt, bổ cắt (cắt, chặt), chim rìu:
-có horn, sừng, gạc liên hệ với (cứng), Av. srù, horn; sarah-, head; New Persian surù, horn ; Skt çrnga (r with a dot, n có huyền), çira liên hệ với sừng, gốc Phạn ngữ  kar, to be hard.
 .horn- = hèo (roi, nọc, cọc), hươu (con vật có sừng), hạc (loài chim có mỏ nhọn biểu tượng cho cọc, nọc, dương tính giống như cò, theo h=c, hạc = cặc giống như cò = cồ = cu).
.gốc Phạn ngữ kar = cứng = kẻ (cọc) = cặc ( cọc, nọc), theo c=s, cứng = sừng
.theo h=c, horn = corn, chai cứng, (xem corn), Latin cornus, Ý ngữ corno, Pháp ngữ corne có nghĩa là sừng.
.có cor- = cọc. Sừng là một thứ cọc nhọn, con hươu là con hèo (roi, nọc, cọc) có sừng, con cerf (Pháp ngữ)  có cer- = ker-, (gốc Hy Lạp), keras, sừng = kẻ (cọc nhỏ), Hán Việt giác, sừng phát âm theo Quảng Đông  là “coọc”, cọc.
 Như thế chim cắt biểu tượng cho sừng, cọc, nói chung cho Nọc, dương, lửa mặt trời dương thái dương.
-và bill là mỏ, theo b=m, bill = beak = mỏ.
Hornbill là loài chim có mũ sừng trên đầu và mỏ rất to như chiếc rìu, chiếc bổ (búa chim). Vì thế chim cắt còn có tên là chim rìu (rìu, bổ, búa là vật nhọn như sừng). Chim rìu bổ cắt là Chim Việt, chim biểu tạo hóa của Viêm Việt, Đại Tộc Việt ngành Lửa. Theo Dịch lý chim cắt biểu tượng cho dòng dương, có ít nhất ba khuôn mặt là dương (cắt), thái dương (bổ cắt) và thiếu dương (bồ cắt) ngược với chim nông.  Theo duy dương, từ cắt là danh từ chung chỉ loài chim này ứng với vô cực trung tính cực hóa chuyển qua dương trước tiên tức biểu tượng cho vũ trụ ngành dương hay Trụ của Vũ Trụ (trụ là nọc là dương, vũ biến âm với võ, vỏ là cái bao cái bọc, là âm). Vũ trụ cũng phân ra vũ trụ âm và vũ trụ dương. Cắt lúc này biến thành bồ cắt và bổ cắt. Từ “bồ cắt” có từ “bồ”có nghĩa đen là vật hình là cái bao, cái bọc để chứa như thóc gạo: bồ gạo, bồ lúa. Bồ biến âm với bào, bao, bầu. Bồ chỉ thị cho biết giống cái, nòng, âm, nước. Bồ cắt là con cắt thuộc ngành nòng âm, là con cắt cái, con cắt nước. Đối ứng với bồ mang tính âm, ta có từ “bổ”. Bổ là búa, vật nhọn  biểu tượng đực, nọc, dương, lửa. Bổ cắt là con cắt đực, cắt lửa, cắt dông (gió dương). Trên cổ vật đồng Đông Sơn, bổ cắt thường được diễn tả bằng chiếc mũ sừng. Hai từ “bồ”, “bổ” biểu thị nòng nọc, âm dương liên hệ với Dịch nhiều hơn là có mục đích chỉ giống đực giống cái của hai con chim nông, cắt (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt).
Trong Việt ngữ cắt là vật nhọn để cắt chặt. Cắt ruột thịt với Anh ngữ cut, cắt với hache, rìu… (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
hound, chó, chó săn như grey hound.
/hao/ = howl, hú, tru. Con chó là con chu, con tru, con hú. Cổ ngữ Irish cú (hound, wolf), Nostratic *kuja (wolf) có cú, ku- ruột thịt với Việt ngữ  cún (chó con). Con cú, ku-, cún là chu (tru), con hú (c=s). Theo w=h (Mường ngữ wặc = hoặc), wolf = kol- = kún (xem chữ này). Theo biến âm kiểu hào ngao (con nghêu), ta có hound = /hao/ = ngao. Chó ngao là thứ chó xé xác người ở địa ngục.

I

I biến âm mật thiết với A,  E, O, U. . .
I=A=E=O=U…
 Như  mị = mạ, má = mẹ, mệ = mợ = mụ…
 –insect
1. sâu bọ, côn trùng.
2. bọn sâu bọ, bọn người hèn hạ, đê tiện, đáng khinh, không ra gì.
có tiền tố in-, vào và -sect, cắt, ruột thịt với Latin secare, cắt, Phạn ngữ sak, cắt.
.có sec-, sak = sắt (cắt) như sắt lát.
.theo c=s, sec-, sak = cắt.
.theo s=x, se- = xẻ (cắt xẻ, mổ xẻ), xem chữ dissect.
(xem chữ section).
Insect chỉ loài “vật cắt vào” tức sâu bọ, côn trùng hay cắn, gậm, đục, khoét.

J

J biến âm mật thiết với CH, C (H câm), KH, K (h câm), D, Gi, Đ (T, TH), G…
J= CH, C=KH, K=D, Gi=Đ (= T= TH) = G…
.Việt ngữ không có j.
1. j=ch: j tương đương với ch như Java = Chà Và, những người Hồi giáo gốc Java ở miền Nam; ngày nay gọi tắt là người Chà như người Chà Châu Giang. Ta cũng thấy qua Bồ Đào Nha ngữ junk phiên âm Hoa ngữ chwan (thuyền), theo ch=j, chwan = junk.
2.J=d như Jeep = dép, díp (xe), jean = din (quần).
3.J=gi, trong chữ quốc ngữ cổ j=gi như jà = già; jó = gió; jờ = giờ… (Alexandre de Rhodes).
4. J=d=nh như Japan gọi tắt là Jap = Dặt, phát âm Quảng Đông của Nhật và pan = bản. Japan là “Dặt pủn”,  Nhật Bản.
5.j=đ  như jack = đặc (đặc có một nghĩa là đực như tre đặc = tre đực)  đực.
6. j=g: giữa Pháp và Anh ngữ j=g như jardin = garden, vườn.
. . . . . .
-jackal
chó rừng hay ăn thú xác chết, vị thần tẩm liệm Anubis  của Ai Cập có hình dạng chó jackal.
 theo j=ch,= sh,  jackal = chacal (Pháp ngữ) , shakal (Mông Cổ ngữ) = chồn,  cáo, cẩu, cầy = sài (lang). Vị thần tẩm liệm jackal của Ai Cập còn có tên là Anubis, Ienpu hay Inpu.  Anu-, Inpu liên hệ với Nhật ngữ inu, Đông Quốc ngữ (Tungusian) ina, chó sói.

K

K biến âm mật thiết với C, CH, H, Q, QU. . . 

K=C=CH =Q=QU…
kangaroo (thổ dân Úc ngữ)
loài động vật có túi đựng con.
trước đây dịch theo Hán Việt là đại thử (chuột lớn), tôi khám phá ra trong Việt ngữ  có nghĩa là con “chẳng có rõ” (lần đầu tiên phổ biến trên Y Học và Đời Sống, sau in trong Tiếng Việt Huyền Diệu). Một vị thuyền trưởng người Anh khi đem đám tù nhân bị lưu đầy lên đất Úc châu đã kinh ngạc, bàng hoàng về những giống thú lạ ở đây. Một hôm thấy con kangaroo ông hỏi một người thổ dân: Con gì vậy? Người thổ dân trả lời: kangoro. Thế là từ đấy con vật đó có tên là con kangoro, kangaroo, kangourou, kanguru… Về sau các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu tiếng thổ dân mới biết rõ nghĩa của từ kangoro là “don’t know”, “không biết rõ”. Con kangoro là con “không biết rõ”. Tôi khám phá ra từ kangoro ruột thịt với Việt ngữ! Kangoro  có kang- = chẳng (k=ch như kênh = chênh), go- = có  (g=c như gài = cài) và -ro = rõ. Kangoro = Chẳng có rõ. Con kangoro là con Chẳng có rõ, con “don’t know” (Tiếng Việt Huyền Diệu).

L

L biến âm mật thiết với D, Đ, N, NH, NG, R. . .
L=D=Đ=NH=R.
lion, sư tử.
lion = lân. Con lân Trung Hoa có khi hiểu là con sư tử là vì vậy. Có nhiều hình lân không có sừng làm giống sư tử. Chúng ta không có sư tử. Con lân đi đôi với con kì của chúng ta có cốt là con nai (hươu cái không có sừng) (xem hart).  Hán Việt sư tử liên hệ với  Phạn ngữ shinga hay singa, sư tử  như  Singapore, Thành Phố Sư Tử. Sư biến âm với shi-, si-. Nên biết là Trung Hoa không có sư tử nên tên sư tử là tên lấy từ ngoại ngữ liên hệ với lion.
lizard, thằn lằn.
Latin lacerta, Tây Ban Nha ngữ lagarto, thằn lằn. Ta thấy li-, la- biến âm với lăn, thằn lằn.
Về phương diện thú biểu thằn lằn được dùng làm vật tổ tương ứng với các loài bò sát khác như cá sấu, rắn nước (xem crocrodile, dragon). Thằn lằn được dùng làm con thú chủ của một loại long. Vì thế từ long dùng chỉ nhiều loài thằn lằn như con thạch sùng trên vách nhà gọi là bích long, con thú khổng lồ giống thằn lằn là khủng long, con kỳ đà nước ở Nam Dương có tên là komodo dragon, con cắc kè gọi là rồng đất…
 Thằn lằn nhiều khi mang khuôn mặt tương đương với cá sấu. Nhiều vùng không có cá sấu dùng thằn lằn làm vật tổ rương đương với cá sấu như Thần tổ Thằn Lằn của người Maya.
Người Maya Trung Mỹ châu có vị Thần tổ tối cao là Itzamna. Itzam trong ngôn ngữ Yukatec có nghĩa là ‘lizard’ (thằn lằn). Sự thờ phượng Itzamna thịnh hành ơœ Itzamál ơœ phía bắc Yucatán.
lupus (Latin), chó sói.
lupus liên hệ với Tây Ban Nha ngữ  luz, ánh sáng. Theo s=ch, Việt ngữ sói = chói (sáng) = chời (trời). Hán Việt lang (sói) liên hệ với lạn (sáng), lánh (lóng lánh, lấp lánh). Việt ngữ lang có nghĩa là chàng (trai, đực, vật nhọn đục) biểu tượng cho dương, mặt trời. Con trai vua Mặt Trời rạng ngời Hùng Vương gọi là Quang Lang có nghĩa là Mặt Trời sáng ngời. Hiện nay hiểu là Quan Lang không chỉnh (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Amerind (thổ dân Mỹ châu) ngữ coyote, một loài sói có coy- = sói (c=s).
Ta có lu- = lửa, lạn (sáng), láng (sáng) = lang (sáng) = lang (sói).
(còn nữa).


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: