HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ: NHỮNG TỪ CHỈ MUÔNG THÚ (1).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ

(tiếp theo)

 

NHỮNG TỪ CHỈ LOÀI VẬT.

(Phần 1)

Nguyễn Xuân Quang 

Chi Chú:
 
-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Chữ trong hai gạch nghiêng / / là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ  phát  âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.
 -Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú  có b(r)u- =  bú, vú (bỏ r hay r câm)….
-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
-Tôi dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ  như  thế  nào không nằm trong phạm vi bài viết này (sẽ nói rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ.) Chỉ xin hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua  môi sinh như  tiếp xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền (DNA) như ruột thị, máu mủ thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.
Ở đây chỉ xin rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng  rất hữu ích từ sự liên hệ này là ta có thể học một cách tường tận, dễ hiểu và dễ nhớ tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại.  Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi  giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngoại quốc giỏi Anh ngữ  có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.
-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng…
Kỳ này xin nói đến Những Từ Về Muông Thú (chim, thú, côn trùng).

A

A biến âm mật thiết với   E, I, O, U. . .
A=E=I=O=U…
 Như mạ, má = mẹ, mệ = mị = mợ = mụ…
 –ant, con kiến.
Trung cổ Anh ngữ amte, amete, hiện kim emmet, con kiến,
có am-em, an- liên hệ với Phạn ngữ ad-, ăn. Việt ngữ kiến là biến âm của “cắn”. Ăn và cắn có cùng một gốc nghĩa. Ta cũng nói kiến cắn như câu hát “ngồi trong bếp kiến cắn…”. Phạn ngữ valmi, con kiến ruột thịt với valbh, ăn. Theo v= q = c (vấn = quấn = cuốn), ta có val- = cắn = kiến. Rõ như ban ngày valmi, kiến liên hệ với valbh, cắn, ăn.  Cũng nên biết phải dùng từ cắn mới đúng với kiến. Ngoại trừ kiến lửa (fire ant) ta mới nói là kiến lửa đốt vì kiến lửa đốt nóng rát, bỏng rát như bị lửa đốt, còn các loài kiến khác như kiến đen chẳng hạn thì phải nói là kiến cắn. Trường hợp con ong ta phải nói ong đốt chứ không nói là ong cắn. Con muỗi nếu nói là đốt thì không chỉnh phải nói là muỗi chích vì con muỗi được gọi tên theo chiếc vòi nhọn như mũi kim: con muỗi là con có vòi, mũi (nhọn) để đâm vào mạch máu, hút máu. Con muỗi là con mũi (nhọn). Ta cũng thấy valmi đẻ ra Pháp ngữ fourmi, kiến (v=b=f).

B

B biến âm mật thiết với M, P, Ph, V…
B=M=P=Ph=V…
bear, con gấu.
.theo g=c, gấu = cấu. Cấu là bấu. Con gấu là con cấu, con bấu.
.bear = béo, bẹo, bấu. Con bear là con bấu, con cấu, con gấu. Con gấu có bàn tay rất mạnh dùng để bấu, cấu con mồi gọi là paw. Paw cũng có nghĩa là cấu, cào, quào (bằng móng). Theo p=b, và w = u, paw = bấu = bear. Theo biến âm kiểu be bầu (vật đựng), ta có bear = /be/ = bấu.
.Tiếng nôm Tầy mi là con gấu. Theo m=b, mi = bear.
beef
1. thịt bò.
2. (ở Mỹ) con bò.
3. beef-steak, thị bò bíp-tếch xem chữ steak.
.Pháp ngữ boeuf, Latin bos, Gael ngữ bò, Phạn ngữ go, bò.
có bo- = bò.
.theo g=c, Phạn ngữ go = cow (xem chữ này).
beef-eater, vệ sĩ.
nghĩa đen là “người ăn thịt bò”, Tây phương quan niệm ăn thịt bò có sức mạnh: to have plenty of beef, có sức mạnh.
beefy
1. giống như thịt bò: beefy red, mầu đỏ thịt bò.
2. có gân, nổi gân thịt, có sức mạnh.
boar, lợn, heo nọc, heo đực chưa thiến, heo rừng, lợi lòi.
lợn, heo là con vật có nhiều mỡ, ta có câu ví mập như heo vì thế tên loài thú này có nghĩa liên hệ với mỡ, dầu. Việt ngữ lợn biến âm với lờn, nhờn, nhớt (như dầu mỡ).
Boar có bo- liên hệ với Việt ngữ bồ (chất béo, dầu, bơ như bồ hòn, bồ hôi, bồ hóng. Bồ là dạng cổ của mồ ruột thịt với mỡ như bồ hôi = mồ hôi, bồ hóng = mồ hóng), bồ ruột thịt với beurre (Pháp ngữ). Con boar là con bơ giống như Thái Lan ngữ heo gọi là moo ruột thịt với Việt ngữ mỡ. Con heo, con hợi liên hệ với Pháp ngữ huile, dầu (mỡ). Ta thấy rất rõ huile có hui- chính là Việt ngữ hủi. Bệnh hủi hay bệnh cùi trước đây các cụ ta cho là do ở bẩn gây ra như thấy qua câu ví “bẩn như hủi”. Con lợn, con heo cho là một con vật bẩn thỉu nhất. Hủi phát gốc từ hợi, heo và cùi phát gốc từ cúi (cổ ngữ Việt  gọi con lợn, con heo là cúi). Bệnh hủi, bệnh cùi là bệnh do ở bẩn như lợn, như heo (xem pork, pig, swine). Dĩ nhiên ngày nay y học cho biết bệnh cùi, hủi do trùng que Hansen gây ra.
bovine
1. thuộc về giống bò.
2. ngu ngốc (ngu như bò).
3. bovines (số nhiều), loài trâu bò.
 .Pháp ngữ boeuf, Latin bos, Gael bò, Phạn ngữ go, bò.
có bo- = bò và bo- = bu-, buffalo, trâu.
.theo g=c, Phạn ngữ go = cow = trâu (xem chữ này).
     Lưu ý tiếng Gael bò y hệt Việt ngữ bò.
-buffalo, trâu.
có bu- = bò, bê trong khi đó cow (bò cái) phát âm là /cao/  đọc thêm hơi vào thành châu, trâu  (xem cow). Cổ ngữ Anh cù, là con cow, ta có cù = chu =  châu = trâu =Việt ngữ cổ tlu, trâu. Ta thấy có nghĩa hoán đổi giữa Anh ngữ và Việt ngữ:  bò Anh ngữ cow = Việt ngữ trâu và trâu Anh ngữ buffalo = Việt ngữ bò.
-bull 
1. bò đực, bò mộng, bò dái, bòt ót.
 2. con thú đực như an elephant bull.
Anh ngữ Trung Cổ bole, bule được cho là có gốc từ bellower, con rống, con gầm. Thật ra với nghĩa là con bò dái (còn khả năng truyền giống) và con thú đực có lẽ phải hiểu bull theo nghĩa đực.
Bull liên hệ với bellow ngoài nghĩa là tạo ra tiếng rống, tiếng gầm, bellows còn có nghĩa là belly, bụng, bọng, bọc. Ta thấy rõ bull = Việt ngữ bọng. Bọng là cái bọc tròn như bọng dái, bọng tiểu. Bull liên kết với Anh ngữ bulb = bóng đèn giống như Việt ngữ bọng liên hệ với bóng. Hai trứng dái nằm trong túi, bìu dái gọi là bọng dái. Con bull là con bò bọng (dái).
.theo b=m, bull = bọng = mull = mộng, con bull là con bò mộng. Bò mộng là bò dái, bò tót. Bò tót là bò nhẩy cái. Tót là nhẩy (nhẩy tót), con toad (cóc) là con tót, con nhẩy (xem chữ toad).
.theo b=m, bull = musk, xạ hương, có gốc từ Phạn ngữ mushka, testicle, hòn dái. Ta có musk = mọng, mộng cũng có nghĩa là hòn dái (xem chữ musk).

C

C biến âm mật thiết với  CH, G, H, K, Q, QU, S. . .
C=CH=G=H=K=Q=QU= S…
1. c=g, corner, góc có cor- = góc.
2. c=h: cut, cắt, hớt = hớt (cắt tóc = hớt tóc).
3.  c=q: Pháp ngữ  biscuit, bánh bích-quy (biscuit có bis- là hai lần, -cuit là nấu chín. Bánh nướng chín hai lần) có –cuit = quy (c=q).
     4. c=s: corn = sừng, sỏ.
carnivore, loài ăn thịt sống, ăn thịt, cây ăn thịt (bắt ruồi, sâu bọ)
có gốc Latin carnis, xác thịt, theo c=s=x, có car- = xác; xác ở đây có nghĩa là thịt. Từ đôi xác thịt có xác = thịt liên hệ với Tây Ban Nha ngữ carne, thịt (xem body) với charcuterie (Pháp ngữ), người bán thịt lợn, thịt nguội và có -vore liên hệ với voracious, phàm ăn, háu ăn, ăn tươi nuốt sống, ăn uống nhồm nhoàm (như mãnh thú xé xác con mồi hay nuốt trửng) (xem chữ này).
cat, mèo, mẹo, mão.
Anh ngữ cat, Pháp ngữ chat, mèo ruột thịt với catch, bắt (như bắt cá), chụp, chộp (như chụp, chộp banh). Con cat, con chat là con catch, con chụp, con chộp (bắt). Con cọp họ nhà mèo cũng là con chộp, con chụp. Với h câm, chộp = cọp. Điểm này thấy rõ qua từ copy (Xerox), sao, chụp phó bản. Copy phiên âm là cóp-pi, cọp-pi. Copy có cop- là chụp (phó bản). Copy còn chỉ cóp bài, cọp bài, “quay phim” của người khác. “Quay phim” là “chụp” (hình).
Biến âm theo Việt ngữ, con cat là con cào, con quào, con cấu.
Tuổi mẹo là con mèo ngao,
Hay cấu hay quào, ăn vụng quá tinh.
          (vè thú vật).
Theo Việt ngữ, con mèo, con mẹo, con mão là con mấu, con maul, con bấu, con vấu. Mèo, mẹo, mão là con mấu = Anh ngữ  maul, mấu, bấu, vấu (xem chữ này). Cổ ngữ Việt có từ mâu như mũ đầu mâu có lẽ chỉ loài thú như con cọp vì Mã ngữ gọi con cọp là hari mau. Hari là trời, mau là mấu, là maul, con cọp là con mèo, con mẹo, con mão, con maul trời tức cùng họ nhà mèo feline. Theo f=m, feline có fel- = mèo (xem chữ này). Họ nhà mèo có báo, beo (theo b=m, báo = mão, beo = mèo. Con báo là con béo, con bấu. Loài báo, beo ở Mỹ châu puma có pu-= bấu = báo = beo. Theo m=b, con mèo, con mẹo = con bẹo, con béo (nhéo). Mèo, mẹo, mão liên hệ với Phạn ngữ màrjara-, mèo. Ta thấy rất rõ mão (mấu, mẹo, mèo) = mar- của Phạn ngữ.
Con mèo trong mười hai con giáp gọi là con mão, con mẹo.  Cũng nên biết là người Trung Hoa không có tuổi mão, họ lấy con thỏ thay vì con mèo. Con mão là con mấu, con maul. Ta thấy rất rõ mão, mẹo rất là thuần Việt. Tên 12 con giáp là tiếng thần Việt (xem bài Mão là Con Mấu, Con Bấu).
-cervidae, loài hươu nai.
cerf (Pháp ngữ), hươu.
.cer- = ker-, kera- (gốc Hy Lạp) có nghĩa là sừng như keratine là chất sừng = kẻ, kè, kì (nọc, cọc, que). Con hươu (đực) được gọi tên theo chiếc sừng. Việt ngữ hươu, hưu, hiêu biến âm với hèo (roi, cọc, nọc, kèo) (nọc ra đánh cho trăm hèo), Mường ngữ hẻo là húc bằng sừng. Hẻo, húc ruột thịt với Anh ngữ horn, sừng. Theo h=k, hèo, hẻo = kèo, kè (cọc nhỏ, sừng). Con hươu là con hèo, con kèo, con kì, con kè, con kẻ, con cerf. Hán Việt giác là sừng biến âm với gạc và phát âm theo giọng Quảng Đông là “cọoc” tức cọc. Con hươu  là con cọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Cũng nên biết hươu, con hèo, con kèo là con đực, con con cái gọi là con nai (nai biến âm với nái) (Tiếng Việt Huyền Diệu). Hươu nai là hai từ chỉ con đực và con cái giống như Anh ngữ con đực là con hart, con cái là con doe. Doe biến âm với Việt đẻ, đỏ (đỏ có một nghĩa chỉ phái nữ: “Cái đỏ ẵm em, đi xem đánh cá”).   Theo g=h (gồi = hồi), giác, gạc = Anh ngữ hart, hươu sừng. Vị vua đầu tiên thế gian của chúng ta là Kinh Dương Vương hay Kì Dương Vương lập nên nước Việt đầu tiên Xích Quỉ. Kì là ki (cây), kèo (kì kèo), là kẻ, là Hươu Sừng (Kì mang). Kì Dương là Hươu Sừng, Hươu Đực, Hươu Mặt Trời. Kì Dương Vương là Vua Hươu Mặt Trời có nhũ danh là Lộc Tục tức Hươu Đực. Hán Việt Lộc, hươu là dạng nam hóa của Việt ngữ Nọc. Cổ Việt ngữ Việt lộc cũng có nghĩa là cây mà địa khai ngôn ngữ (language fossil) còn thấy qua câu ca dao:
Bồng bồng cái lộc ra hoa,
Một đàn vợ lính chẩy ra thăm chồng…
Lộc ở đây phải hiểu là cây, nọc chứ không thể hiểu là lá non (đâm chồi nẩy lộc). Lá non không thể ra hoa được. Lộc là cây, nọc liên hệ với Anh Ngữ log (thân cây), nog, câyi chốt, chiếc ngạc bằng cây. Tục là Đục (t=d). Chiếc đục, chiếc chàng là vật nhọn biểu tượng cho nam phái. Chàng là cây đục (chisel) và cũng có nghĩa là con trai, phái nam như chàng trai, anh chàng. Đục là Đực. Đực là nọc (heo đực = heo nọc). Lộc Tục là Hươu Đực. Còn nước Xích Quỉ có Xích là Đỏ, Lửa, Mặt trời như xích đạo là vòng đai lửa, gần mặt trời nhất, Xích Bích là một trận hỏa chiến. Quỉ biến âm với Quẻ, Que, Ke, Kè, Kẻ. Như đã thấy Kẻ có một nghĩa là sừng, hươu đực, ở một diện khác Kẻ có nghĩa là Người như Kẻ Sặt, Kẻ Trọng, Kẻ Cát:
Đồn rằng kẻ Trọng lắm cau, 
Kẻ Cát lắm lúa, kẻ Mau lắm tiền.
(ca dao).
Quỉ biến âm với Pháp ngữ qui, Latin quo (Quo Vadis) cũng có nghĩa là người.
Kẻ cũng có nghĩa là chỗ ở giống như chữ mường vừa có nghĩa là người vừa có nghĩa là chỗ ở. Tuy nhiên Kẻ liên hệ với Hươu sừng có nghĩa là nọc, cọc nên chỗ ở phải ở trên vùng đất cao, trên núi vì con hươu biểu tượng cho vùng đất khô, lửa, dương (dương là đực, là nọc) tức vùng núi. Kẻ là tộc Hươu là tộc người vùng núi, vùng cao. Từ Kì là hươu vì thế cũng chỉ núi cao như núi Kì. Núi Kì là núi nọc, núi trụ chống trời biểu tượngcho cõi thế gian, dương trần. Châu Kì là châu núi cao biểu tượng cho Đất dương thuộc Kì Dương Vương. Châu Phong là châu Gió thuộc Hùng Vương. Truyền thuyết có ghi Hùng Vương đóng đô ở Châu Phong. Châu Hoan là châu Nước.Với h câm Hoan = Oan, Oa (ốc, nước, oasis là “đảo nước”, ốc đảo ở sa mạc). Oan ương là con le le, loài chim nước. Sumerian ngữ oanis chỉ tộc nước, những người sống trên thuyền, giao nhân, long hộ (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Châu Hoan ở vùng đất thấp có đầm ao ở Thanh Hóa thuộc An Dương Vương, Vua Mặt Trời Êm Dịu dòng Nước Lạc Long Quân. Châu Dương là châu Lửa, châu Mặt Trời ứng với Đế Minh. Chúng ta có bốn châu chính theo tứ tượng Đất, Gió, Nước, Lửa ứng với bốn vị Vua tổ. Rõ như ban ngày cổ sử và truyền thuyết Việt Nam dựa vào Dịch Lý. Ta phải nghiên cứu văn hóa Việt, nhìn văn hóa Việt Nam dưới lăng kính của Dịch nếu không sẽ uổng phí một đời người.
cock, gà trống, gà sống, con que, con qué, con ké, bộ phận sinh dục nam, vòi nước.
Việt ngữ trống biến âm với chống (que nâng đỡ), chông (cọc nhọn), chồng (người có chông có nọc, có nõ trong khi vợ biến âm với vỏ là bao, bọc là người có bao, có túi có nang, có nường. Vợ chồng là cặp nõ nường). Trống là đực, nọc (heo nọc là heo đực). Que, chống, chông, nọc (heo nọc), cọc (“Quân tử có thương thì đóng cọc, Xin đừng mân mó nhựa ra tay”, hay “Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không”, Hồ Xuân Hương), nói chung là vật nhọn biểu tượng cho bộ phận sinh dục phái nam, ví dụ Anh ngữ penis (dương vật) có pen-, bút, viết. Bút biến âm với bót, vót (nhọn). Viết biến âm với vót, là cái que vót nhọn để vạch, để viết và với vọt là cái que (xem chữ này).
Con cock, coq (Pháp ngữ), gà trống là con cọc, con cặc. Từ cock vì thế còn có nghĩa là bộ phận sinh dục nam. Việt ngữ gà là con cà, con kê (chuyện cà kê), Hán Việt kê là gà. Ta có từ đôi gà qué với gà= qué. Con gà là con qué, con que, con ke. Ke chỉ bộ phận sinh dục nam và nữ (Alexandre de Rhode, Từ Điển Việt-Bồ-La). Vì là gà trống ta lấy theo biến âm dương ke = que. Theo k=c=qu như kẽo kẹt = quẽo quẹt, ta có ke = que. Cổ ngữ Việt ké cũng có nghĩa là gà như “trói thúc ké” là trói ghịt cánh gà. Celosia, cây hoa mồng có ce- = ke = qué (gà)  =  ké (trói thúc ké) = kê (Hán Việt là gà) =  ke = que = cọc = cock = coq. Phái nam đi tiểu như vòi nước vì thế cock cũng có nghĩa là vòi nước. Tóm lại con cock là con cọc, con cặc, con que, con qué, con ké (xem hen).
cormorant, chim cốc, thằng cộc.
Việt ngữ cốc, cộc ruột thịt với cọc. Cormorant có cor- = cọc, ruột thịt với corn, Latin cornu, sừng (vật nhọn).  Con cốc là con cọc vì có mỏ nhọn như cây cọc nhọn, như mũi phi tiêu, có loài dùng mỏ nhọn đâm cá vì thế còn có tên dân dã là darter (“con phi tiêu”). Con cốc là loài chim nước vì chân có màng, bơi lặn dưới nước được và có mầu đen là mầu biểu tượng của nước thái âm. Chim cốc là một loài chim Lạc thái âm biểu tượng cho Nước Dương Chấn Lạc Long Quân. Chim cốc, thằng cộc là chim Cọc, chim Việt của dòng Nước. Trong khi cò là loài chim lội nước, không biết bơi là biểu tượng cho Gió Dương, chim biểu của Hùng Vương có một khuôn mặt thiếu âm bầu trời, gió (xem Chim Lạc hay Cò Lang?). Cũng nên biết là tên của những thú, chim biểu của ngành Nọc, Dương,  Lửa, Viêm, Việt đều có nghĩa là Nọc (cọc, que, cột, vật nhọn…), Việt như  chim cắt (chim rìu) là chim Việt thái dương (xem hornbill); con qué (gà) là con que, gà Việt thiếu dương (xem cock); con cọc (hươu) là con hèo, con  hươu, hươu Việt thiếu dương (xem Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc); con cò là con cồ, con cu, con c…c, con cọc, cò Việt thiếu âm, chim biểu dòng Gió Dương; cá sấu là con sào, sấu Việt thái âm, thú biểu của tộc đất có nước, (xem chữ crocodile).
-cow, bò cái.
/cao/ đọc thêm hơi vào thành châu, trâu (nghĩa hoán đổi) trong khi đó buffalo có bu- = bò (xem trên).
crocodile, cá sấu.
được cho là do Latin crocodiles, Hy Lạp ngữ krokodeilos, a lizard, con thằn lằn. Cá sấu là loài bò sát sống được trên cạn và dưới nước thuộc họ thằn lằn sauria, sauros, con thằn lằn. Sauria có sau- = sấu, cá sấu cùng họ thằn lằn như tên alligator (cá sấu mõm tròn ở Mỹ) có al-, phụ từ và -ligator liên hệ với lizard, thằn lằn. Loài thằn lằn “kinh khủng” gọi là dinosaur (dino- = kinh khủng) hiện nay dịch là khủng long (loài rồng kinh khủng). Cá sấu cũng là di duệ của một loài khủng long. Loài kỳ đà nước ở Nam Dương cũng được gọi là rồng Komodo dragon.
Như thế ta thấy cá sấu được dùng làm con vật chủ (host) của một thứ linh vật gọi là long, rồng. Trên người con vật chủ (host) cá sấu  của rồng, long này có gắn thêm vào các phần của các vật tổ khác như chân chim (biểu tượng cho lửa Càn), sừng mang sủa (barking deer) hay mang gạc (muntjac) có hai mấu (biểu tượng cho Kì, núi dương, Đất Li dương), vẩy cá  hay vẩy vỏ sò dưới bụng (biểu tượng cho rắn, Nước Chấn), có bờm (biểu tượng cho gió Tốn) vân vân (xem chương Linh Thú trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
 Khai quật về khaœo cổ học đã khám phá ra bằng chứng là thổ dân ơœ vùng đất Trung Hoa hiện nay (dĩ nhiên là Tứ Di) đã thờ phượng cá sấu, thằn lằn và long từ thời cách đây năm sáu ngàn năm (Zhou Guoxing The Chinese Dragon, trong Crocodiles and Alligators, Charles Ross tr.160).
 Miền Nam gọi con cá sấu là con sú (biến âm của sấu). Cá sấu khi thành tinh gọi là con cú (s=c). Trong khi đó Mường ngữ gọi là con khú (s=c=kh):
Nhà ông cun Đủ, đạo Dà,
Có trống khú, trống rồng.
(Hoàng Anh Nhân, Truyên Thơ Mường, nxb KHXH, Hà Nội, 1986, tập II, trang 89).
Chúng ta có linh vật thuồng luồng. Dân vùng đất tổ Việt và các sắc tộc ở miền Bắc vẫn còn tục thờ thuồng luồng ở các khúc sông hiểm trở, ở những chỗ có thác ghềnh. Sử chép rằng về đời Hùng vương, dân Việt xuống nước đánh cá thường bị một loài thủy quái  gọi là  thuồng luồng làm hại, vua  Hùng vương sai lấy mực vẽ hình thuồng luồng vào người. Từ đó loài thủy quái trông thấy vẽ mình không ăn thịt dân Việt nữa. Tục xâm mình của dân Bách Việt bắt đầu từ đó. Thuồng luồng cũng như rồng có nhiều loại.   Thuồng biến âm với thong. Thong biến âm với đòng. Việt ngữ luồng ruột thịt với long, lòng cũng có nghĩa là dài như lòng vòng; lòng là ruột cũng hàm nghĩa dài như thấy qua Hán ngữ gọi ruột là trường (đại trường, tiểu trường), trường có một nghĩa là dài. Việt ngữ long, lòng chính là Anh ngữ long (dài) (xem long). Như thế thuồng cũng có nghĩa là vật hình dài và nhọn như cái đòng. Ta cũng thấy thuồng biến âm với từ thuổng, vật có cán dài như cây cọc đầu sắc, nhọn để đào đất. Thuổng là một thứ đòng, thòng, thuồng. Thuồng luồng biến âm với thòng lòng, thong long. Thòng lòng có một nghĩa là dài. Thong long là một thứ khí giới, là cái đòng dài nhọn (Lê Ngọc Trụ, Việt Nam CTTV). Vậy thuồng luồng là con đòng dài, con có cốt cá sấu. Cây đòng dài là một thú vũ khí nhọn như dao. Thuồng luồng có cốt cá sấu nói theo Hán Việt là con Dao long hay Giao Long của Giao Việt. Theo s=c=k=gi, sau- = kau = keo = giao, dao. Mã-Nam Dương ngữ pisau là dao. Người Lào và các tộc liên hệ gọi chúng ta là bọn Keo (với nghĩa xấu giống như người Trung Hoa gọi chúng ta là Man với nghĩa man di mọi rợ) chính là từ Giao. Chúng ta có một tộc là Giao hay DaoViệt có vật tổ là giao long có cốt là cá sấu. Tộc này sống ở bờ nước giống như cá sấu.
Thuồng luồng cũng biến âm với thằn lằn. Như đã biết cá sấu là một loại thằn lằn. Thuồng, luồng biến âm với dòng, rồng. Rồng nước có cốt là rắn nước (xem dragon). Vậy thuồng luồng là linh vật có cốt là cá sấu, thằn lằn, rắn nước.
Về phương diện nghĩa biểu tượng như đã nói ở từ cormorant là tên của những thú, chim biểu của ngành Nọc, Dương,  Lửa, Viêm, Việt  đều có nghĩa là Nọc (cọc, que, cột, vật nhọn…). Cá sấu cũng vậy. Con cá sấu ở dưới nước có hình dạng như cây cọc, cây đòng mà có tên là cây cọc, cây sào. Sấu biến âm với sào (cây chống thuyền liên hệ với nước) với sẩu (sừng, vật nhọn như đòng). Anh Pháp cá sấu gọi là crocodile thường gọi tắt là croc. Croc ruột thịt với Việt ngữ cọc. Như thế thuồng luồng, rồng cũng có thể là con ròng, con dòng ở dưới nước có mõm nhọn trông như cây cọc nhọn, cái đòng tức cá sấu.
 Cá sấu, thuồng luồng-cá sấu là khuôn mặt dương của dòng nước hay dòng sống ở bờ nước như Giao Việt ngành Lạc Long Quân.
Cần phải phân biệt rồng có cốt cá sấu với rồng có cốt là những con thú bò sát khác như là rắn nước, thằn lằn. Thuồng luồng, rồng, long có cốt cá sấu có bốn chân, trên lưng có vi sừng cường điệu giống như vi sừng trên lưng cá sấu.
Rồng đẻ ra trứng là rồng-cá sấu:
  Trứng rồng lại nở ra rồng,
Liu điu lại nở ra dòng liu điu.
                                       (ca dao).
hay
Trứng rồng lại nở ra rồng,
Hạt thông lại nở cây thông rườm rà.
(ca dao).
Đặc điểm chuyên biệt nhất là lưỡi cá sấu dính sát xuống hàm dưới nên lưỡi không lè ra ngoài. Rồng nào có lưỡi lè ra ngoài miệng là rồng rắn hay rồng thằn lằn (xem dragon).

D

D biến âm mật thiết với  Đ, T, L, N . . .
D= Đ =T= L=N…
-deer, hươu, nai.
cho mãi tới thế kỷ 13, tất cả loài thú bốn chân đều gọi là deer. Deer ruột thịt với Hy Lạp ngữ ther, có nghĩa là thú (vật), ta có ther = Việt ngữ thú = zoo (xem chữ này). Tại sao con deer là con đẻ ra tất cả loài thú bốn chân? Ta có thể dùng Việt ngữ và truyền thuyết Việt Nam giải thích. Theo truyền thuyết, vua đầu tiên của chúng ta tức người đầu tiên của nhân loại là Kì Dương Vương (Vua Hươu Đực hay Vua Hươu Mặt Trời; Kì = Kẻ = Hy Lạp ngữ Ker-, keras, sừng = Pháp ngữ cerf, hươu) có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đực). Cổ ngữ Đông Á châu Keh, là con hươu và cũng là con người đầu tiên trên mặt đất (James Churchward). Vì thế hươu được cho là  thủy tổ của các sinh vật sống trên mặt đất, do đó về mặt thú bốn chân, biểu tượng cho loài thú sống trên mặt đất, deer đại diện cho tất cả hay đẻ ra tất cả các thú, các ther (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Theo Việt ngữ, deer có de- = đẻ (có một nghĩa là mẹ). Ta cũng thấy rất rõ là theo d=n, deer = /nia/ = nai. Nai biến âm với nái (người đàn bà đã đẻ con, như nái sề), Thái Lan ngữ nai, người đàn bà có chồng. Azetecan *te, *tek, deer (M123) gần cận với Hy Lạp ngữ ther. Te là tẻ, đẻ (xem doe và hart). Ta cũng thấy Hy Lạp ngữ ther = tẻ = đẻ. Mặt khác ta còn có từ chỉ hươu trời có lông vàng là con mang (mễn), mang gạc (muntjac). Từ mang cũng có nghĩa chỉ chung các loài động vật như mang là muông chỉ loài thú bốn chân như truyền thuyết Mường có con thú khổng lồ là muông tượng; mang là muông chỉ loài chó; muông chỉ loài chim; mang chỉ loài rắn như mang gầm, mang ghì… (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Như thế ở một diện nào đó, Đông và Tây đều quan niệm con hươu, con mang, con deer là biểu tượng cho con người và động vật sống trên mặt đất. Đông và Tây cùng có chung một tín ngưỡng tối cổ của nhân loại là Vũ Trụ giáo.
Ta cũng thấy rất rõ chúng ta là Hùng Việt, Mặt Trời Rạng Ngời, dòng dương, nọc nên có vua tổ đầu tiên là Kì Dương Vương có biểu tương là con mantjac, con deer, đẻ ra tất cả các con thú dòng nọc, dương. Trong khi Maya Trung Mỹ thuộc dòng nòng, âm có vật tổ là con báo, thuộc về dòng nòng, nữ (báo thuộc họ nhà mèo, dòng nữ). Con báo panther là con vật tổ đẻ ra tất cả các con thú bốn chân dòng nòng, âm. Panther có pan-, tất cả và –ther, thú (xem chữ panther).
 -dog
 
1. con chó, cầy, khai, cẩu.
Việt ngữ chó biến âm với chu, tru, con chó là con tru, con hú. Con chó nhà hiện nay là con cháu của cho sói, theo ch=s, chó = só (Mã-Nam Dương ngữ aso là chó) = sói. Sói một loài thú hay tru, hú. Tru hú biểu tượng cho gió vì thế, chó và sói, lang, theo thiếu âm, biểu tượng cho gió. Lang là dạng nam hóa của nang là túi bọc biểu tương cho bọc không gian, gió. Thần gió thường khoác cái túi gió trên vai.  Ta thấy rất rõ lang có một nghĩa là gió qua từ ghép lang bạt. Theo qui luật về từ ghép, ta có lang = bạt. Theo b=v, bạt = Phạn ngữ vâta, gió, như thế lang = bạt = vâta = gió. Bạt ruột thịt với vâta, gió vì thế ta có từ đi đôi bạt gió như cánh chim bạt gió.
Theo ch= gi, chó = gió. Con Lang (sói) là thú biểu bốn chân của các Lang Hùng Vương vì thế chúng ta múa thiên cẩu vào những dịp lễ hội (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
Mường ngữ cóo liên hệ với cổ ngữ Ái Nhĩ Lan cú (hound, wolf), cún (chó con), cầy, khai (phương ngữ bắc Trung Việt), cẩu (Hán Việt). Theo biến âm kiểu siên sỏ, ta có Pháp ngữ chien (/siêng/) = so = aso (Nam Dương ngữ) = sói = chó. Cổ ngữ Việt mang là con chó liên hệ với Phạn ngữ çvan (chó), có -van = mang. Việt ngữ cún (chó con) liên hệ với cổ ngữ Ái Nhĩ Lan cú, ‘hound, wolf’, IE *kuon-, kun-, Nostr. *k’ujna (u có hai chấm ở trên) ‘wolf’ (Illic-Svytic p.361).
2. dog dùng để chỉ giống đực của một vài động vật như dog-fox, chồn đực.
.dog = /đốc/ =  đọc là nọc  như kim  nọc của loài ong (đọc ong = nọc ong), dog = /đốc/ = đục (chàng), đốc = đốt ( khúc, dóng cây như đốt mía), châm bằng nọc nhọn như ong cũng gọi là đốt. Theo d=n, dog = nọc. Nọc là đực như heo nọc. Như thế dog có nghĩa là nọc nhọn (biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam, đực), liên hệ tới cây. Điểm này giải thích tại sao chó dùng để chỉ giống đực cho một vài động vật. Con chó sói gọi là con lang. Việt ngữ lang là chàng (trai), cũng là chàng (đục, vật nhọn, chisel) và cũng là mặt trời (mặt trời là dương cũng là đực, lang là con trai, đực cũng là mặt trời). Con lang là con sói, con chói (mặt trời). Con trai vua Mặt Trời Hùng Vương gọi là quang lang, tức Mặt Trời sáng ngời. Hiện nay thường hiểu là quan lang và giải thích quan là ông quan (mandarin) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).Thật ra quan phải hiểu theo tiếng nôm Tày quan  có nghĩa là chàng, lang. Ta thấy từ canidae, loài chó, canine, thuộc về chó và Pháp ngữ canine là răng chó hay ranh nanh. Theo n=đ, nanh = đanh, đinh. Răng nanh nhọn như đanh, đinh. Từ nanh (vật nhọn) biến âm với nọc như thấy qua từ đôi nanh nọc (con mẹ đó nanh nọc quá), nanh = nọc. Rõ ràng canine = nanh = nọc = dog. Ta cũng thấy canidae, canine có can- = Hán Việt can, Pháp ngữ canne (gậy), Việt ngữ cần, cành. Cảnh sát Mỹ gọi tắt quân khuyển là K-9 (canine). Anh ngữ K phát âm /cây/. Việt ngữ con cầy cùng vần với cây. Từ lái “cây còn” là “con cầy” chuyển qua Hán Việt “cây còn” là “mộc tồn”.  Rõ như ban ngày con chó hàm nghĩa cây, vật, canine, nhọn, nọc.
Như thế từ dog có một khuôn mặt chỉ con đục, con đực. Từ con cầy đúng nghĩa trăm phần trăm với dog. Con dog là con đốt (cây), con đọc, con đục, con nọc, con cây, con cầy. Một vài điều rất lý thú là con chó sủa Anh Ngữ nói là bark (sủa) có cùng nghĩa với vỏ cây. Con cây, con cầy sủa (“vỏ cây”!);  Anh Ngữ dog, con cầy, con nọc, con  đực, con dương, con mặt trời (tương đương với sói, lang) cùng âm với doc, doctor (bác sĩ y khoa) giống hệt Việt ngữ  lang là con sói, con chói (con mặt trời), con đục (chisel), con đực, con dương (có một nghĩa là mặt trời)  giống hệt từ lang (thầy thuốc, tương đương với doctor). Ta có doc (doctor) cùng âm với dog (canidae, male) và lang (doctor) = lang (wolf, male). Anh và Việt ngữ bắt buộc phải liên hệ với nhau.
dogwood, cây dương đào.
 dog có một nghĩa là nọc, đục, đực, dương (xem dog) và loại cây này có hoa lá đỏ, đào vì thế mới có tên là cây dương đào.
dragon, con rồng, long.
có d(r)ag- = đác, nác, nước.  Việt ngữ rồng ruột thịt với dòng (nước), thuồng luồng có luồng đi đôi với nước như  luồng nước, Hán Việt long ruột thịt với dòng, naga của Ấn giáo có nag- = nác, nước. Con rồng có cốt loài sống dưới nước. Vì thế nguyên thủy rồng có cốt là con rắn nước, biểu tượng cho dòng Nước. Con rắn như sợi dây, dải dây bò ngoằn ngoèo như dòng nước chuyển động uốn khúc.  Con rắn cũng có tên là con dải là vì vậy. Lạc Long Quân thuộc dòng Mặt Trời Nước. Từ Lạc viết với bộ trãi có nghĩa là “con sâu không chân”. Rắn mang hình ảnh của một loài sâu không chân. Từ worm có nghĩa là sâu (bọ) trong một vài Ấn Âu ngữ cũng có nghĩa là rắn. Từ sâu có gốc sa- = xà (rắn) (xem worm). Theo tr=d, trãi = dải, có một nghĩa là rắn. Lạc Long Quân có Lạc Long là Rồng Nước (dương) là Rồng Rắn.
Khi chia tay với vợ con Lạc Long Quân đã xác định “Ta là nòi rồng đứng đầu thủy tộc…” (Lĩnh Nam chích quái). Những con rồng có thân uốn khúc như rắn đời nhà Lý, Lê mới thật sự là thú biểu của Lạc Long Quân, còn những con rồng vẽ theo rồng Trung Hoa không phải là Rồng Nước Lạc Long. Con long cũng có loài có cốt rắn vì thế từ long cũng chỉ những loài có thân người giống như rắn ví dụ con rắn lớn là long xà, con giun (trùn) gọi là địa long… Theo duy dương con rồng biểu tượng cho nước dương có biểu tượng là con rắn nước có dương tính như có sừng chẳng hạn, ví dụ điển hình là con rắn nước thần Watersnake tampon của người Dayak. Do đó ta thường thấy rồng đi đôi với rắn: rồng rắn. Ta thường nghe nói câu vẽ rắn thêm chân là ám chỉ vẽ rắn thành rồng.  Rồng chỉ là con rắn vẽ vời thêm chân vào mà thôi. Con rồng ruột thịt với con ròng nước, con rắn nước. Việt ngữ cổ gọi con rắn nước là con thìu điu hay liu điu:
Chẳng phải liu điu cũng giống nhà,
Rắn đầu biếng học lẽ không tha.
 (Chiêu Lì, Lê Quí Đôn)
hay
Cha hổ mang đẻ con thìu điu.
(tục ngữ).
hoặc
Cha thìu điu đẻ con hổ mang.
                                         (ca dao).
hay
Đôi ta như thể thìu điu,
Nước chẩy mặc nước ta dìu lấy nhau.
(ca dao).
Ta cũng có từ thìu đìu chỉ một loại dây leo bò như rắn có lá rất nhám dùng làm giấy nhám đánh đồ gỗ (Huỳnh Tịnh Paulus Của, ĐNDATV). Thìu biến âm với thìn chỉ con rồng trong 12 con giáp.
 Cũng cần phải biết là có nhiều loại rồng với các con thú chủ thuộc loài bò sát khác nhau như rồng cá sấu (xem crocodile), rồng thằn lằn (xem lizard). Làm sao phân biệt được rồng-rắn với rồng-thằn lằn, rồng-cá sấu. Rồng rắn có thân uốn khúc ngoằn ngoèo như rắn như rồng đời nhà Lý. Cá sấu có lưỡi dính vào sàn miệng, không lè được ra ngoài vì thế rồng có lưỡi le ra ngoài miệng là rồng rắn hay rồng thằn lằn… (xem crocodile).
 Tóm tắt dragon có nghĩa biểu tượng chính là thú biểu của đại tộc Nước, Mặt Trời Nước là con thuồng luồng-rắn nước, rồng-rắn nước, long-rắn nước, con ròng nước. Ngoài ra rồng nước cốt rắn nước còn có một khuôn mặt sinh tạo ở cõi tạo hóa, đại vũ trụ  thường đi đôi với chim lửa biểu tượng cho Nước-Lửa, âm dương như  ở mũi thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có hình chim rìu đâm vào miệng rắn nước dưới dạng hôn phối âm dương. Dĩ nhiên từ rồng dragon của Tây phương mặc dầu có gốc nước nhưng mang ý nghĩa biểu tượng khác với ý nghĩa biểu tượng của chúng ta.
Thuồng, luồng, rồng, long cũng như những linh vật khác như kì (lân) biểu tượng cho vũ trụ giáo hay các tộc ứng với vũ trụ giáo. Vì vậy trên cốt rắn, cá sấu, thằn lằn có gắn thêm các phần thân thể của những con thú biểu tượng cho âm dương và tứ tượng: Lửa, Nước, Đất (dương), khí Gió. Thuồng luồng cũng có sừng, có chân chim như thấy qua các hình vẽ của các sắc tộc ở thượng du Bắc Việt: Người Khmu cũng có một vật tổ tương tự thuồng luồng gọi là prư-đồng hình rắn có mào, có vẩy, có chân… người Thái cũng vậy họ gọi là con tu luông… (lưu ý là những từ thuồng-luồng, prư-đồng, tu-luông, rồng, long ruột thịt với nhau). Thuồng luồng và rồng có bờm hay có mào, biểu tượng cho gió, có chân mãnh cầm như ó, ưng, biểu tượng cho lửa, có sừng hai mấu của mang gạc munjac, biểu tượng cho đất dương (núi dương), có vẩy cá hay rắn biểu tượng cho nước… Cũng vì vậy mà có ít nhất là sáu loại thuồng luồng, rồng, long ứng với âm dương và tứ tượng. Điều này giải thích tại sao Trung Hoa có rất nhiều loại long có hình dáng và mầu sắc khác nhau như thanh long, kim long, hắc long, hỏa long… Mỗi sắc ứng với âm dương và mỗi tượng.
. . . . . .

E

E biến âm mật thiết với A,  I, O, U. . .
E=A=I=O=U…
 Như mẹ, mệ = mạ, má =  mị =  mợ = mụ…
-eel, lươn.
.eel = éo, con lươn là con (uốn) éo. Từ láy lươn lẹo, với l câm, lươn lẹo = uốn éo. Lươn trông giống rắn, sâu. Theo r=l, rắn = lắn, lăn, Mường ngữ tlu là rắn. Tlu = tlăn, trăn ruột thịt với lươn. Trăn biến âm với trườn, lươn.
.eel liên hệ với éo, uốn.  Từ worm, sâu có wor- = uor- = uốn, con sâu là con uốn (éo).
.eel liên hệ với ẹo. Chúng ta nói đi ẹo qua ẹo lại là
đi như eel, như lươn tương đương với nói đi mình xà hay đi xà nẹo. Nẹo = lẹo, thấy trong từ đôi lươn lẹo tức lươn = lẹo = nẹo. Đi xà nẹo là đi như rắn lươn (xem snake, serpent, worm).
Một điểm lý thú nữa là eel liên hệ với eo. Các bà các cô thấy lươn thấy rắn thường sợ la lên “eo ơi!” Các trẻ em Mỹ thấy điều gì ghê sợ như rắn, lươn, sâu bọ thường la lên “eel” nghe  giống tiếng Việt “eo” (ơi).

F

F biến âm mật thiết vời B, M, P, Ph, V…
F=B=M=P, Ph=V. . .
fawn
1. hươu con, nai con.
2. mầu hung đỏ, hung vàng (mầu da con mang).
liên hệ với Pháp ngữ cổ fan, hươu con và với Latin fetus, thai, thai nhi (xem fetus).
Theo f=b=m, fawn = mang, mễn (một loài hươu nhỏ con) = mang con (hươu con). Ta cũng thấy có thai tức có fetus = có mang. Rõ như ban ngày fawn (mang con) = fetus (có mang).
-feline
.(tính từ)  thuộc về  mèo, như mèo.
.(danh từ) con thú thuộc về loài mèo.
theo f=b=m, có fel- = mèo.
-frog, ếch, nhái.
frog = phốc, phóc (nhẩy). Ta có từ ghép điệp nghĩa nhẩy phốc với phốc = nhẩy. Con ếch là con nhẩy. Việt ngữ nhái là biến âm của nhẩy. Con nhái là con nhẩy. Vậy frog là con nhái, con nhẩy, con phốc. Trong khi đó con toad (cóc) là con tót.  Tót cũng có nghĩa là nhẩy : nhẩy tót (xem toad). Ngoài ra cũng có một loài ếch nhái nhưng có mầu nâu vàng gọi là con chẫu chuộc, cũng có nghĩa là nhẩy, ruột thịt với Phạn ngữ ças, nhẩy. Theo ç = ch, ças = chẫu. Hán Việt tẩu (chậy) phát âm theo giọng Quảng Động là chẩu liên hệ với chẩu, chẫu là nhẩy như thấy qua từ đôi chậy nhẩy. Con châu chấu cũng liên hệ với từ Phạn ngữ này, có nghĩa là con “ças ças“, con “chẩu chẩu”, con “nhẩy nhẩy” đúng với nghĩa của từ grasshopper  (xem chữ này). Từ cào cào cũng có thể là một dạng biến âm của “ças ças“ và con sạch sành (sạch sành là anh kẻ trộm), con chanh chách (thuộc  loài châu chấu) có sạch, chách biến âm với ças.

G

G biến âm mật thiết vời C, H = K, Q. . .
G=C=H=K=Q . . .
gallinaceae, gallinae, loài gà.
Latin gallina, gà mái, gallus, gà trống, Tây Ban Nha ngữ gallina, gà mái, gallo, gà trống, gallito, gà con, Bồ Đào Nha ngữ galinha, gà mái, galo, gà trống, tất cả có ga- = gà…
Việt ngữ gà biến âm với Mường ngữ ca, cà là gà, biến âm với Hán Việt kê là gà, con cà con kê. Gà trống gọi là con qué biến âm của que như thấy qua từ đôi gà qué (xem cock, hen, chicken).
Theo ông Frey tác giả L’Annamite, mère des Langues, người Gaul (Gaulois) là tổ tiên người Pháp với Gaul có Ga- = gà. Dân Pháp là Tộc Gà vì thế mà vật tổ của người Pháp ngày nay là con Gà Sống. Cũng nên biết Gà là Qué là Que là Cọc, là Nọc là Đực là Dương. Dương là Mặt Trời, là Lửa Vũ Trụ. Theo Vũ Trụ giáo, Gà là biểu tượng cho Mặt Trời Lửa thế gian. Con gà là loài chim biểu tượng cho dương nhưng là loài sống nhiều trên mặt đất nên mang khuôn mặt cõi đất thế gian giống như Con Gà trên bàn Bầu Cua Cá Cọc diễn tả một thứ Dịch dân gian của chúng ta là Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (gà, tôm, cua, cá, hươu cọc sống ở cõi thế gian, cây bầu cũng mọc trên đất). Vì thế quốc biểu gà sống của Pháp cho thấy người Pháp là con cháu Thần Mặt Trời, trước Thiên Chúa giáo, người Pháp thờ Mặt Trời. Điều này còn thấy rõ qua tên France. France có Fra- ruột thịt với Phạn ngữ bhâ-, chiếu sáng, với Việt ngữ bật, làm cho sáng lên, tạo ra lửa (bật đèn, bật sáng, bật lửa), với Pháp ngữ phare, đèn pha, với Ai Cập ngữ Pharaoh, vua Mặt Trời  (có pha-). Những người không thích dân Pháp thường riễu cho rằng dân Pháp là dân Gà nên hay Gáy và thích nói chuyện Mách Qué (mách là nói như mách mẹ, thóc mách và qué là gà que, là coq, là cock, là cọc là c…c. Mách qué là nói chuyện que, chuyện cọc, chuyện nọc, chuyện đực, chuyện đục, nói tục).
-gander
1. ngỗng đực.
.gander có gan- ruột thịt với Đức ngữ gans, ngỗng đực.
.theo g=ng như gáy = ngáy, có ga- = nga (Hán Việt), một loài ngỗng, thiên nga và có gan- = ngan (vịt xiêm),  (nghĩa lệch).
.theo g=nh như gậm = nhấm (từ đôi gậm nhấm), ta có gan- = nhạn (Hán Việt) là một loài ngỗng ví dụ như tin nhạn là tin do ngỗng đem thư cột vào chân đến. Tem thư hàng không air mail của Đài Loan có hình con ngỗng chim nhạn đưa thư này.
.theo g=h, gander = Phạn Ngữ hansa, ngỗng.
.Anglosaxon ngữ gós, gandra, Anh ngữ hiệm kim goose = gander.
. với g câm, gander =  Latin  anser, ngỗng.
.theo g=c, gans- = cẩng (sự cương cứng của bộ phận sinh dục nam, còn nói là ngổng). Con ngỗng có cái cổ ngổng cao trong như cẩng. Ta thấy rõ ngỗng biến âm mẹ con với ngổng. Con ngỗng là con ngổng, con gander là con cẩng.
2. người ngớ ngẩn, ngu ngốc (trông như con ngỗng ngẩn tò te).
theo g= ng, gan- = ngẩn (ngớ), lẩn ngẩn, ngẩn ngơ.  Ngẩn (ngơ) cùng âm với ngan.
xem chữ goose.
gannet, một giống vịt biển.
ruột thịt với gander, ngỗng đực (xem chữ này), có cùng gốc gan-.
(còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: