GIẢI ĐỌC NHÓM TRỐNG ĐỒNG CÓC/ẾCH (phần 7).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

*Đang nhuận sắc lại.

GIẢI ĐỌC NHÓM TRỐNG ĐỒNG CÓC/ẾCH.

 (phần 7)

Nguyễn Xuân Quang

NHÓM TRỐNG THIẾU DƯƠNG CÓ MẶT TRỜI 12 NỌC TIA SÁNG ĐOÀI/CẤN.

NGÀNH MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG.

NHÁNH NỌC ÂM THÁI DƯƠNG.

NHÓM MẶT TRỜI THIẾU DƯƠNG.

PHỤ NHÓM TRỐNG CÓC/ẾCH.

CHI SẤM DÔNG.

CHÌA KHÓA

Trống sấm dông Cấn-Đoài vũ trụ khí gió có mặt trời có 12 nọc tia sáng, theo chính thống thường có tượng cóc đi kèm với hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) nọc âm thái dương, kẹp giữa vành sóng từ chấm-vòng tròn thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió và/hay có các vành sóng gió hình thoi chuyển động…

Tổng quát

Như đã nói ở trên nhóm trống SẤM MƯA có mặt trời 12 nọc tia sáng có khuôn mặt Chấn/Cấn, mang hình bóng sấm Lạc Long Quân Chấn ở nhà đầu non Âu Cơ  Cấn. Sấm mưa Cấn-Chấn này thấy có mặt trong một thứ dịch  thấy trên một lá bùa trừ tà của dân gian Việt Nam.

Tuy nhiên, nhóm trống này còn có nhiều khuôn mặt khác trong đó có khuôn mặt Cấn-Đoài.  Trống có mặt trời 12 nọc tia sáng có khuôn mặt Đoài/Cấn tức Đoài hôn phối với Cấn thấy trong một thứ dịch gọi là Tiên Thiên Bát Quái (nghiêng về sáng thế, thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh ở cõi tạo hóa):

 Như thế rõ ràng trong nhóm trống Cấn có mặt trời 12 nọc tia sáng có tượ cóc/ếch có thêm một nhóm trống Cấn/Đoài mang dương tính hơn (thiếu âm) so với Chấn (thái âm). Đây là chi trống cóc/ếch Sấm Dông Cấn-Đoài vũ trụ khí gió.

Điều này giải thích tại sao trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn với mặt trời có cùng một số tia sáng như nhau có nhiều hình thái khác nhau, mang nghĩa biểu tượng khác nhau theo lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, theo các loại dịch khác nhau.

Cũng như nhóm trống Chấn/Cấn, nhóm trống Đoài/Cấn có mặt trời 12 nọc tia sáng có thể có hay không có tượng cóc/ếch. Không có tượng cóc/ếch thường diễn tả các khuôn mặt khác ngoài khuôn mặt sấm. Trong trường hợp có tượng cóc/ếch (như ở đây đang nói về nhóm trống cóc/ếch) là trống sấm dông và con vật theo chính thống phải nghiêng hẳn về phía cóc có tính thiếu âm khí gió Đoài sinh tạo.

Xin đưa ra một ví dụ:

Trống  Chợ Bờ.

Trống Chợ Bờ

(nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

 Trống tìm thấy gần Chợ Bờ, ven sông Đà, tỉnh Hòa Bình năm 1928.

Trống có mặt trời  thiếu dương 12 nọc tia sáng hình búp măng mang âm tính, ngoài biên có hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) nọc âm thái dương kẹp ở giữa một vành từ chấm-vòng tròn có một nghĩa là thiếu âm, không gian dương khí gió dương Đoài vũ trụ khí gió.

Ba vành ở biên trống cho biết đây là trống Đoài/Cấn nọc âm thái dương.

Khoảng không gian giữa các tia sáng có hình thái hỗn hợp của hai ngành nòng nọc, âm dương. Hình thái thứ nhất là của ngành nòng có hình hai giọt nước hạnh nhân nước dương Chấn và tua bờm gió dương Đoài. Hình thái này xen kẽ với hình thái thứ hai của ngành nọc có hình 6 nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang dương tính, lửa. Số 6 là số Tốn, âm thái dương nằm giữa số 7 Càn lửa vũ trụ và số 5 Li, lửa thế gian (theo chính thống phải là 7 nọc mũi mác chồng lên nhau. Số 7 là số Càn và có trụ nọc que xuyên qua đỉnh các nọc mũi mác diễn tả núi trụ đất thế gian Li. Ở đây làm không theo chinh thống vì là trống rất muộn. Như đã biết các trống có tượng cóc/ếch là trống muộn). Như vậy khoảng không gian giữa các tia sáng diễn tả đủ tứ tượng. Trống này và tượng cóc ở trống này có một khuôn mặt sinh tạo ăn khớp với khuôn mặt sinh tạo của Đoài vũ trụ, tạo hóa.

Ba vành sinh tạo vận hành: vành sóng hình chữ S gẫy diễn tả tia chớp lửa vũ trụ Càn ở giữa hình hai giọt nước chuyển động Chấn thể điệu hóa thành hình tam giác đặc (thông thường có hình hạnh nhân). Vành này diễn tả lưỡng hợp lửa-nước vũ trụ, thái dương, thái âm, Càn Chấn ở cõi sinh tạo, tạo hóa. Vành kế tiếp là vành vòng tròn có chấm (O.) có một khuôn mặt là O. = OI, thiếu dương, nguyên thể của Đất Li, lửa thế gian. Vành thứ ba là vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) theo duy dương có một khuôn mặt là không gian khí gió Đoài. Ba vành sinh tạo này diễn tả tứ hành.

Kế tiếp là vành sóng hình thoi nhọn đầu có một nghĩa gió dương chuyểnđộng Đoài vũ trụ khí gió.

Vành hình người thể điệu hóa có con mắt dương chỉ có một vòng tròn nghiêng về thiếu âm gió Đoài (khác với ở các trống Chấn/Cấn thường có con mắt âm nước hai vòng tròn đồng tâm). Phía sau trang phục đầu có hình dải gió bay có chấm dương trông như phướn gió. Những người này nghiêng về tộc gió Đoài.

Những con cò có mỏ cong mang âm tính, trong mỏ có chữ nọc que (I) dương phía âm.

Lưu Ý

Nọc que dương nhưng ít dương tính hơn nọc mũi mác> (mũi tên, răng cưa, răng sói mang tính dương thái dương) như thấy ở mỏ các con cò trên các trống khác. Nọc que mang tính âm thái dương đi với khuôn mặt trời Đoài vũ trụ khí gió IIO (có một khuôn mặt là thái dương II của âm O).

Cánh cò hình cánh diều hay hình thảm thần nghiêng về gió Đoài.

Ba vành ngoài biên đã nói ở trên.

Bốn tượng vật lưỡng cư trên đùi có chữ sấm gầm và có những chữ nòng nọc vòng tròn-que diễn tả trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, bao gồm cả nghĩa sinh tạo ăn khớp với hình thái tứ tượng mang nghĩa sinh tạo của các khoảng không gian ở giữa các tia sáng.  Con vật ở đây có eo rất mập không phải là eo ếch. Ta thấy đây nghiêng nhiều về con cóc.

Có một điểm cọc cạch ở đây không biết là do lỗi kỹ thuật hay là do sự cố ý của người làm trống. Ở đây  ba con cóc chuyển động theo duy dương tức theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời còn một con lại theo duy âm tức theo chiều kim đồng hồ. Với các chữ và hình nòng nọc trên trống này còn viết khá đúng với pháp ngữ của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thì có lẽ người làm trống đã lắp lộn chiều một con cóc. Còn nếu cố ý  thì ba con cóc dương là Càn còn con cóc âm là Khôn. Bốn tượng cóc diễn tả Càn Khôn sinh tạo theo ý người làm trống? Điều này cũng có thể có vì trống này là trống rất muộn.

Tang và thân trống trang trí nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược và từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn. Gộp lại là Chấn nọc âm thái dương. Ở tang và thân trống vùng mang âm tính có khuôn mặt trời Chấn Khôn âm ăn khớp với khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió Khôn dương ở mặt trốngvùng mang dương tính.

Tóm lại trống Chợ Bờ Cấn có mặt trời 12 nọc tia sáng này có khuôn mặt Đoài mang tính chủ là trống thuộc nhóm trống sấm dông Đoài/Cấn. Con vật lưỡng cư là con cóc.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống cóc sấm dông là trống biểu của ông thần sấm dông Phù Đổng Thiên Vương có cùng một bản thể gió Đoài với Hùng Vương (Hùng Vương có một khuôn mặt bầu trời khí gió). Điều này giải thích tại sao ông Dóng (trống) Phù Đổng Thiên Vương giúp Hùng Vương đánh giặc Ân và cũng giải thích tại sao ở Hà Giang có câu ca dao Ông Đổng mà đúc trống đồng (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt). Ông Dóng Phù Đổng Thiên Vương đúc trống đồng loại trống sấm dông có tượng cóc.

 NHỮNG TRỐNG CÓC/ẾCH CỦA CÁC NHÓM MẶT TRỜI KHÁC.

Ngoài trống cóc/ếch sấm mưa, sấm dông thường thấy nhất ở nhóm trống thiếu dương mặt trời 12 nọc tia sáng, các loại trống này cũng thấy tuy rằng rất ít ở các nhóm trống khác như trống thái âm, thái dương, thiếu âm.

  1. Trống Cóc/Ếch Nhóm Mặt Trời Thái Âm.

Nhóm trống mặt trời thái âm có số nọc tia sáng là số Khôn (0, 8, 16).

Trống Tân Khang.

TAN KHANG

Trống Tân Khang.

Trống có mặt trời 8 nọc tia sáng thuộc nhóm mặt trời thái âm Khôn tầng 2 (), 8).

Trống có vỏ không gian dầy mang âm tính Khôn, khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất gồm các nọc mũi mác chồng lên nhau mang tính dương, thái dương cho biết không gian là Khôn dương khí gió Đoài vũ trụ khí gió. Như thế theo chinh thống vỏ không gian  phải hơi to nét mà thôi. Ở đây quá dầy cho biết trống đã rất muộn.

Vì khoảng không gian giữa các nọc tia sáng đơn đồng nhất không phải là hình thái tứ tượng nên các vành sinh tạo bao quang mặt trời-không gian không có hình thái tứ hành mà chỉ có ba vành diễn tả tính nòng nọc (âm dương) của một tộc mà thôi. Ba vành này gồm có hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược có một nghĩa nọc âm thái dương kẹp giữa vành chấm-vòng tròn có một nghĩa thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Ba vành này cho biết trống có một khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ.

Kế đến là vành sóng hình thoi nhọn đầu có một nghĩa là sóng gió dương Đoài vũ trụ khí gió chuyển động.

Vành chim gồm có 6 con cò bay. Số 6 Tốn âm thái dương  gió âm có Đoài vũ trụ khí gió gió dương đại diện. Cò có con mắt dương chấm-vòng tròn, trong mỏ có dấu nọc que có một nghĩa thái dương mang âm tính có một khuôn mặt thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió Cánh và thân hình diều gió. Đây là những con cò giò.

Ba vành ngoài biên giống ba vành ở vùng sinh tạo có nghĩa là Đoài vũ trụ khí gió nọc âm thái dương.

Bốn tượng cóc/ếch cho biết trống có một khuôn mặt chính là sấm. Ở trống này khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ thì đây là trống sấm dông và con vật lưỡng cư phải là con cóc. Ở đây trông giống cóc vì có phần thân trên nẩy nở hơn phần thân dương và phần mang tai  nhọn nọc mũi mác mang dương tính.

Tóm lại trống Tân Khang là trống thuộc nhóm trống cóc/ếch, nhóm mặt trời thái âm là trống sấm dông nhánh nọc âm thái dương ngành mặt trời thái dương nọc tia sáng mũi mác, Nọc Việt. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống biểu tượng của Ông Dóng Phù Đổng Thiên Vương  sấm Dông.

1. Một Trống Cóc/Ếch Nam Trung Hoa.

Trống có 6 tượng cóc/ếch mang nghĩa sinh tạo.

Trống có mặt trời có 8 nọc tia sáng hình kim không nằm trong nhóm trống sấm đầu non Chấn/Cấn.

 Một trống cóc/ếch Trung Hoa có mặt trời thái âm 8 nọc tia sáng.

Trống có mặt trời có 8 nọc tia sáng với số 8 là số Khôn tầng 2. Như thế trống này là trống Càn/Khôn. Hiển nhiên trống Càn/Khôn có một khuông mặt là trống đồng nòng nọc, âm dương mang biểu tượng sinh tạo. Vì thế mà trống này được diễn tả theo cách bình dân học vụ và theo sở thích của quần chúng bằng cách có 6 tượng cóc/ếch mang nghĩa sinh tạo. Con số 6 là số thành, sinh tạo. Những trống có 6 tượng cóc/ếch có một khuôn mặt sinh tạo đậm nét nếu không muốn nói là có một khuôn mặt mang tính trội, nhất là ở những trống không có các yếu tố đặc thù của trống sấm mưa.

Lưu ý trống này không có hình Cây Nấm Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) mà có hình núi tháp cụt tức loại Nguyễn Xuân Quang V (Heger II) mang nghĩa Núi Trụ Thế Gian biểu tượng cho Cõi Giữa và bên trong có Trục Thế Giới. Trong một vài nền văn hóa Trục Thế Giới được coi như là một thứ Cây Vũ Trụ (Maya có Cây Vũ Trụ hình chữ T của Trục Thế Giới) cũng mang trọn nghĩa vũ trụ tạo sinh. Nếu làm theo ý đó thì trống này cũng có một nghĩa sinh tạo mang trọn nghĩa vũ trụ tạo sinh.

Như vậy trống cóc/ếch thái âm này có một khuôn mặt trống cóc/ếch sinh tạo mang tính trội hơn khuôn mặt sấm (rất tiếc không có hình vẽ chi tiết của trống nên ví dụ như không rõ có hình dóng sấm hay không?)

2. Trống Cóc/Ếch Nhóm Mặt Trời Thái Dương.

Nhóm trống mặt trời thái dương có số nọc tia sáng là số Tốn âm thái dương (6, 14, 22).

Ví dụ:

.Trống Cóc/Ếch Nông Cống Nhóm Mặt Trời Thái Dương 14 Nọc Tia Sáng.

  Trống Nông Cống (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Ở đây chỉ tóm tắt các điểm chính, xem thêm trống này ở Chương NHóm Trống Mặt Trời Thái Dương.

Trống mua ở huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa năm 1934. Trống có mặt trời 14 nọc tia sáng hình búp măng mang âm tính. Số 14  là số Tốn (OII) thế gian là số lão âm, số âm O thái dương II. Ngoài biên có hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) nọc âm thái dương kẹp ở giữa hai vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn có tiếp tuyến (tiếp tuyến ở đây diễn tả chuyển động sóng mang nghĩa sinh động, sinh tạo). Ở đây có hai vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương không theo qui ước, thường chỉ cần một vành là đủ rồi, có thể người làm trống muốn nhấn mạnh yếu tố Chấn, sấm mưa… Bốn vành ở biên trống cho biết đây là trống Chấn/Tốn nọc âm thái dương.

Vòng tròn vỏ không gian, vũ trụ bao quanh đầu các nọc tia sáng rất to nét mang tính thái âm cho biết trống có khuôn nước thái âm mang tính chủ.

Khoảng không gian giữa các tia sáng có hình thái hỗn hợp của hai ngành nòng nọc, âm dương. Hình thái thứ nhất là của ngành nòng có hình hai giọt nước thể điệu hóa hình hạnh nhân nước dương Chấn và tua bờm gió dương Đoài hình sọc đứng. Hình thái này xen kẽ với hình thái thứ hai của ngành nọc có hình 7 hay 6 nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang dương tính, lửa. Theo chính thống phải là 7 nọc mũi tên vì số 7 là Càn (trống này muộn nên có khoảng không gian giữa tia sáng viết sai khi thì 6, khi thì 7). Một trụ nọc nối đầu các nọc mũi tên biểu tượng cho núi trụ thế gian Li Đất. Hai bên trụ có ‘phụ đề’ hay đánh dấu bằng các dấu chấm nọc dương, lửa nhấn mạnh đây là nọc lửa có một khuôn mặt biểu tượng cho Núi Trụ đất dương Li. Như thế khoảng không gian giữa các tia sáng diễn tả đủ tứ tượng mang tính sinh tạo.

Ba vành sinh tạo vận hành: vành trong cùng có hình chữ S gẫy diễn tả tia chớp lửa vũ trụ Càn ôm hình sóng giọt nước to đậm chuyển động Chấn thể điệu hóa giống như ở trống Ngọc Lũ I. Vành kế tiếp là vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn. Vành thứ ba vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) theo duy dương có một khuôn mặt là không gian khí gió Đoài. Như thế ở đây có hai khuôn mặt Chấn và thiếu khuôn mặt Li. Trống này là trống rất muộn (C-II-1) nên viết sai ngữ pháp của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que. Đúng ra vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương phải là vành sóng  vòng tròn-chấm có một nghĩa là thiếu dương Li.

Các vành giới hạn trống không mang tính nòng âm Khôn. Ở đây ngả về duy âm là Khôn nước, Chấn.

Kế tiếp là vành sóng có hình nọc mũi tên diễn tả sóng chuyển hành, sinh động, với sự hiện diện của vỏ không gian rất dầy thái âm nước thì vành này là vành sóng nước dương Chấn.

Vành hình người thể điệu hóa có con mắt dương chỉ có một vòng tròn nghiêng về thiếu âm gió Đoài. Đúng ra thì phải có con mắt âm nước Chấn bởi vì bờm của trang phục đầu có hình chữ S uốn cong giống trong đĩa thái cực, theo duy dương là sóng chớp lửa Càn và theo duy âm là sóng nước Chấn, có một khuôn mặt lưỡng hợp sinh tạo là sấm.

Những người này nghiêng về tộc sấm Chấn.

Kế đến là vành 6 hình chim xen kẽ với hai hình dóng sấm búa thiên lôi.

Những con chim đứng, chân không có màng, mỏ thon dài và nhọn mang dương tính như mỏ cò, có bờm chẻ hai bạt gió, cổ có chữ S hình sóng có một nghĩa là sấm sinh tạo. Trên người có những sọc ngang diễn tả không gian nước, dưới có ba nọc que hình nọc chấm diễn tả lửa vũ trụ Càn. Gộp lại là Lửa vũ trụ-nước không gian tức sấm. Tên con chim được viết bằng vòng tròn có chấm có một nghĩa là khí gió Đoài. Sáu con chim với số 6 là số Tốn hôn phối với Chấn và đi đôi với Đoài (Mẹ Âu Cơ Tốn có con Hùng Vương có một khuôn mặt Đoài).

Những con chim này là chim sấm sét (lôi điểu) có khuôn mặt chủ là gió Đoài/Tốn còn mang vóc dáng cò gió nhưng chim đứng trên mặt đất chứ không bay.

Trống này là trống muộn nên cách diễn đạt không theo qui ước. Phải chăng đây là 6 con cò sấm Chấn/Tốn ăn khớp với khuôn mặt Chấn/Tốn của trống có mặt trời 14 nọc tia sáng?

Hai hình dóng sấm thuộc loại dóng kép hình chữ thập thể điệu hóa. Bốn đầu mỗi đầu có ba hình hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, sấm, Chấn. Tổng cộng là 12 hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương với 12 là số Cấn hôn phối với Chấn. Ở chính giữa dóng sấm chữ thập cũng có chữ này. Đây chính là tên Sấm, Chấn.

Ba vành ngoài biên đã nói ở trên.

Bốn tượng vật lưỡng cư không có trang trí, da trống trơn, có eo ếch, đùi nở nang của loài ếch. Ngoài ra mấu chốt là con mắt âm, nước từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn. Vì vậy loài lưỡng cư này nghiêng nhiều về phía ếch sấm mưa.

Tóm lại mặt trống có mặt trời có 14 nọc tia sáng có khuôn mặt sấm Chấn (với sự hiện diện của dóng sấm, trống này trăm phần trăm là trống sấm) thuộc nhóm sấm  mưa Chấn/Tốn ứng với sấm Chấn Lạc Long Quân/gió Tốn Âu Cơ.

Tang, thân trống, chân trống không đáng kể (xem Trống Nông Cống ở Nhóm Trống Thái Dương).

Trống Nông Cống là trống biểu đại tộc Chấn, loại trống cóc/ếch sấm mưa nhánh nọc âm thái dương, nhóm trống thái dương ứng với Lạc Việt Chấn sấm mưa, họ Hồng Bàng, nhánh nọc âm thái dương Lạc Long Quân Thần Nông.

3. Trống Cóc/Ếch Nhóm Mặt Trời Thiếu Âm 10 Nọc Tia Sáng.

a. Trống Sấm Dông Cóc/Ếch: Phù Lưu Nhóm Mặt Trời thiếu âm 10 Nọc Tia Sáng.

Trống cóc/ếch Phù Lưu có mặt trời 10 nọc tia sáng (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

 Trống tìm thấy ở thôn Phù Lưu, huyện Quảng Trạch, tỉnh  Bình Trị Thiên năm 1977.

Trống có mặt trời 10 nọc tia sáng hình búp măng mang âm tính. Số 10 là số Khảm thế gian (2, 10). Ngoài biên có hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) âm thái dương kẹp ở giữa một vành vòng tròn có chấm. Vì có sự hiện diện của hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) mang nghĩa nọc âm thái dương nên chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn có chấm nọc dương là không gian dương có nghĩa là thiếu âm khí gió (không lấy theo nghĩa duy dương là Lửa Li), với khuôn mặt dương trên trống là khí gió dương Đoài. Ba vành ở biên trống cho biết đây là trống Đoài/Khảm nọc âm thái dương.

Khoảng không gian giữa các tia sáng có hình thái hỗn hợp của hai ngành nòng nọc, âm dương. Một là hình thái thứ nhất là của ngành nòng có hình hai giọt nước thể điệu hóa thành hình tam giác nước dương Chấn và tua bờm gió dương Đoài hình sọc đứng. Hình thái này xen kẽ với hình thái thứ hai của ngành nọc có hình 4 nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang dương tính, lửa. Đúng lý phải là 5 hay 7 nọc mũi mác để chỉ cho biết khuôn mặt Li 5 hay Càn 7, tượng nào mạng tính chủ. Tuy nhiên dù viết sai ngữ pháp nhưng vẫn cho thấy khoảng không gian giữa các tia sáng diễn tả đủ tứ tượng. Trống này và tượng lưỡng cư ở trống này có một khuôn mặt sinh tạo ăn khớp với khuôn mặt sinh tạo của Đoài vũ trụ.

Ba vành sinh tạo vận hành: vành trong cùng có hình chữ S gẫy diễn tả tia chớp lửa vũ trụ Càn ôm hình hai giọt nước chuyển đông Chấn thể điệu hóa. Vành này diễn tả lưỡng hợp lửa-nước vũ trụ thái dương, thái âm ở cõi sinh tạo, tạo hóa. Vành kế tiếp là vành vòng tròn có chấm có một khuôn mặt là O. = OI, thiếu dương nguyên thể của Đất Li, lửa thế gian. Vành thứ ba vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) theo duy dương có một khuôn mặt là không gian khí gió Đoài. Ba vành sinh tạo này diễn tả tứ hành.

Kế tiếp là vành hình người thể điệu hóa có con mắt dương chỉ có một vòng tròn nghiêng về thiếu âm gió Đoài (khác với ở các trống Chấn/Cấn thường có con mắt âm nước hai vòng tròn đồng tâm nước). Những người này nghiêng về tộc gió Đoài.

Những con cò có con mắt dương một vòng tròn có một nghĩa thiếu âm gió, có bờm gió chẻ hai, cánh và thân hình diều gió. Cò nghiêng về gió Đoài.

Ba vành ngoài biên đã nói ở trên.

Bốn tượng vật lưỡng cư bị mất. Dấu còn để lại cho thấy chúng có eo lớn của cóc. Ta thấy ở trống này con vật lưỡng cư nghiêng về cóc.

Tóm lại trống có mặt trời thiếu âm 10 nọc tia sáng là trống cóc sấm dông, nhánh nọc âm thái dương ngành mặt trời thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt trống này có một khuôn mặt là trống biểu của Ông Dóng Phù Đổng Thiên Vương Sấm Dông nhánh nọc Việt âm thái dương Lạc Long Quân Thần Nông thái dương.

b. Trống Sấm Mưa Cóc/Ếch: Trường Giang Nhóm Mặt Trời thiếu âm 10 Nọc Tia Sáng.

TRUONG GIANG

Trống Trường Giang (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những điểm mấu chốt:

.Trống mặt trời thiếu âm 10 nọc tia sáng mũi mác họ mặt trời nọc thái dương.

.Nhánh nọc âm thái dương có hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương ở biên trống.

.Vỏ vũ trụ/không gian dầy manG tính thái âm, nước.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng lưỡng ngành nòng nọc (âm dương) xen kẽ, gồm hình thái nòng âm bờm gió Đoài vũ trụ khí gió và hai giọt nước Chấn và hình thái nọc dương 5 nọc mũi mác chồng lên nhau Li. Còn nọc mũi mác lửa thái dương Càn lại bỏ nhầm qua bên hình thái nòng âm Chấn Đoài vũ trụ khí gió. Sự sai lạc này cho thấy đây là trống muộn.

.Vành sinh tạo vận hành: có 3 vành gồm hai vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương kẹp ở giữa vành từ từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn. Ba vành diễn tả một hành duy nhất Chấn nọc âm thái dương. Ta thấy có sự cọc cạch giữa các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng tứ tượng với một hành duy nhất (đúng ra phải là tứ hành). Đây là một trống muộn.

.Vành giới hạn trống không mang âm tính.

.Vành người chim mặt trời nhẩy múa thể điệu hóa cực đại chấm-vòng tròn có con mắt dương chấm-vòng tròn có một nghĩa mặt trời. Đặc biệt nhất là cánh co hình chữ S sóng nước cường điệu Chấn. Người thuộc tộc mặt trời nước Chấn

.Vành 6 cò bay. Số 6 là số Tốn OII có một khuôn mặt âm (o) thái dương (II) tương đồng bản thể với Càn (III), dương (I) thái dương (II). Cò không bờm manh ngữ hình bóng cò Càn, trong mỏ có dấu nọc mũi mác dương thái dương. Có con mắt dương chấm-vòng tròn có một nghĩa mặt trời Càn.

Tóm lại cò là Càn thái dương lưỡng hợp với Chấn thái âm ngành thái dương có một khuôn mặt chớp Càn liên tác với mưa Chấn tạo ra sấm mưa. Nói một cách khác là cò sấm mưa.

.Ba vành ngoài biên giống các vành ở vùng sinh tạo vận hành có nghĩa là Chấn nọc âm thái dương.

.Bốn tượng loài lưỡng cư thân trơn làng người thon dài có eo ếch nghiêng về tượng ếch.

Như thế trống Trường Giang là trống sấm mưa Chấn thái âm  mang tính sinh tạo (vì có tứ tượng), thuộc nhóm trống mặt trời thiếu âm 10  nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương, ngành mặt trời thái dương.

. Những Loại Trống Cóc/Ếch Khác Không Theo Chính Thống.

a. Trống Cóc/Ếch Hích Có Mặt Trời 11 Nọc Tia Sáng.


 Trống Hích (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống tìm thấy ở vùng Hích thôn Trung Thành, huyện Hòa Bình, Bắc Thái năm 1973.

Trống có mặt trời 11 nọc tia sáng. Đây là trống có mặt trời  có số tia sáng là số lẻ, rất hiếm thấy. Theo chính thống mọi chi tiết trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn đều phải tuân thủ theo qui tắc nòng nọc, âm dương, tuân theo ngữ pháp của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que nghĩa là phải có lưỡng hợp nòng nọc, âm dương. Mặt trời là dương phải đi với số tia sáng chẵn âm. Ở đây mặt trời dương đi với tia sáng số lẻ dương. Mặt trời loại này là loại mặt trời… đồng tính luyến ái nam! Phải chăng ý người làm trống làm mặt trời có 11 nọc tia sáng cố ý cho đây là mặt trời ‘siêu dương’ Đoài (số 11 là số Đoài thế gian). Điểm này cho thấy trống rất muộn đã mất gốc, mất chính thống.

Ngoài biên có hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) nọc âm thái dương kẹp ở giữa hai vành (thay vì chỉ cần một vành) hai vòng tròn đồng tâm nước thái âm. Mặc dầu sự diễn đạt này không theo qui ước nhưng bốn vành ở biên trống cho biết đây là trống nước nọc âm thái dương thuộc đại tộc trống nước dương Chấn.

Khoảng không gian giữa các tia sáng có hình thái của ngành nòng âm Khôn đồng nhất gồm hình hai giọt nước hình hạnh nhân lồng vào nhau là nước dương Chấn (hình thái hai giọt nước hình hạnh nhân lồng vào nhau là một hình thái mới lạ khác với hình hai giọt nước hình hạnh nhân nằm riêng rẽ bên nhau ở các trống khác). Hình trông giống lỗ sinh dục nữ và lông mu cho nên có tác giả gọi là hình âm hộ.

Hình thái ngành nòng âm Khôn trên trống Hích.

Gọi như thế không đúng vì âm hộ chỉ biểu tượng cho âm, nữ, thuần âm mà ở đây cả hình thái biểu tượng cho nòng âm, Khôn, gồm phần âm của âm tức Khôn âm, thái âm có hình hai giọt nước  có hình hạnh nhân lồng vào nhau biểu tượng cho nước và phần dương của âm tức Khôn dương, thiếu âm là phần bờm lông biểu tượng cho gió.

Khoảng không gian giữa tia sáng này cho biết trống thuộc nhánh nòng âm Khôn (gió-nước) ứng với Thần Nông.

Bốn vành sinh tạo vận hành giống như ở biên trống.

Kế tiếp là vành sóng hình thoi có một nghĩa là gió dương chuyển động Đoài vũ trụ khí gió.

Vành hình người thể điệu hóa hình chim có mỏ lớn mang dương tính, có con mắt dương chỉ có một vòng tròn nghiêng về thiếu âm gió Đoài (khác với ở các trống Chấn/Cấn thường có con mắt âm nước). Những người này nghiêng về tộc gió Đoài.

Tiếp nữa là vành 9 con chim xen kẽ với 3 hình dóng sấm. Chim có mỏ ngắn, cổ ngằn không phải là loài cò. Chim nằm trên mặt nước gợn sóng >>>> đang mổ cá. Tên của con chim viết bằng hình giọt nước dương hình hạnh nhân Chấn ở trên người chim. Có 9 con chim với số 9 là số Chấn thế gian cũng cho biết chim là chim sấm mưa Chấn.

Hiển nhiên đây là một loài chim nước như đã nói ở trên là loài chim bìm bịp.

Ba dóng sấm hai đầu hình nóc dù, ô. Số 3 là số Đoài vũ trụ khí gió.

Bốn vành ngoài biên đã nói ở trên.

Bốn tượng vật lưỡng cư có đùi no tròn rất khỏe, có eo nhỏ nghiêng về ếch ăn khớp với hai vành hai vòng tròn đồng tâm nước thái âm ở biên trống mà con vật nằm lên trên (điểm này cho thấy trống hết sức muộn).

Tóm lại trống có mặt trời 11 nọc tia sáng có hai khuôn mặt thấy qua khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái lưỡng tộc Chấn-Đoài (hai giọt nước lồng vào nhau Chấn và bờm gió Đoài vũ trụ khí gió) nhánh nòng âm Khôn:

-Đoài vũ trụ khí gió với mặt trời 11 nọc tia sáng, hình người có con mắt dương, vành sóng sấm gầm hình thoi

-Chấn nước dương: những vành hai vòng tròn đồng tâm nước thái âm, chim nước Chấn,  tượng ếch…, Mặt khác cũng có những yếu tố nước là chim nước, chim Lạc thái âm không phải là cò thiếu âm.

Nhưng với mặt trời là linh hồn của trống có 11 nọc tia sáng, người làm trống có thể muốn diễn tả đây là trống có khuôn mặt Đoài mang tính chủ. Nếu quả đúng như vậy thì đây là trống Sấm lưỡng hợp Đoài-Chấn nhóm trống cóc/ếch nhánh nọc âm thái dương với khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ.

Trống quả đúng là trống rất muộn không còn làm theo qui ước chính thống.

b. Trống Cóc Làng Vạc V Có Mặt Trời 7 Nọc Tia Sáng.

Trống Làng Vạc V (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

 Trống tìm thấy ở làng Vạc, xã Nghĩa Hòa, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ Tĩnh năm 1981.

Trống có mặt trời 7 nọc tia sáng. Đây là trống có mặt trời có số tia sáng là số lẻ, rất hiếm thấy như đã nói ở trống Hích ở trên. Người làm trống làm mặt trời có 7 nọc tia sáng cố ý cho đây là mặt trời Càn (số 7 là số Càn vũ trụ). Điểm này cho thấy trống rất muộn đã mất gốc, mất chính thống.

Ngoài biên có hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) dương thái dương kẹp ở giữa một vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn. Ba vành ở biên trống này cho biết đây là trống Chấn nọc dương thái dương.

Lưu ý đây là điểm khác với các trống sấm mưa Chấn đã thấy có khuôn mặt Chấn nọc âm thái dương diễn tả bởi hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) kẹp một vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn ở giữa ở biên trống. Ở đây hai vành mũi mác có một nghĩa dương thái dương Càn và vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương, Chấn  có một khuôn mặt lưỡng hợp thái dương Càn thái âm Chấn ngành nọc dương thái dương. Lửa Càn liên tác với nước Chấn cũng tạo ra sấm mang tính sinh tạo, tạo hóa như tiếng sấm big bang khai thiên lập địa. Như thế trống có một khuôn mặt sấm tạo hóa, tạo sinh.

Khuôn mặt Chấn dương thái dương này ăn khớp trăm phần trăm với mặt trời có 7 tia sáng là số lẻ mang dương tính và số 7 là số Càn. Đây là trống muộn (C-III-1) vì thế mà mặt trời Càn mới diễn tả bằng 7 nọc tia sáng Càn cho dễ hiểu thay vì dưới dạng Càn hôn phối với 8 nọc tia sáng Khôn âm theo qui ước truyền thống.

Trống này với khuôn mặt Chấn dương thái dương cho thấy ngay đây không phải là nhóm trống sấm mưa (Chấn nọc âm thái dương)  theo qui ước truyền thống.

Khoảng không gian giữa các tia sáng có hình thái đơn giản đồng nhất là các gạch song song nghiêng diễn tả không gian. Rõ ràng đây là mặt trời Càn-không gian Khôn. Ở đây được diễn tả theo cách bình dân học vụ cho dễ hiểu.

Ở đây ta cũng thấy vòng tròn vỏ bầu vũ trụ, vỏ không gian nhỏ nét mang dương tính vì hiệp với (accord) mặt trời Càn.

Không có khoảng không gian giữa các nọc tia sáng hình thái tứ tượng nên ở vùng sinh tạo vận hành chỉ có một vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương, Chấn.

Kế tiếp là một vành rất lớn trống không diễn tả cõi trên.

Không có vành hình người tức không có Trung Thế, cõi giữa nhân sinh biết đây là trống vũ trụ.

Không có vành hình chim bay diễn tả bầu trời thế gian cũng cho biết đây là trống vũ trụ. Xin nhắc lại là các trống có mặt trời có số nọc tia sáng dưới 8 là các trống vũ trụ. Tầng hay chuỗi 8 quẻ đầu (từ 0 tới 7) trong 64 quẻ diễn tả Thượng Thế, Cõi Trên, Tạo Hóa. Trống này có mặt trời 7 nọc tia sáng là trống vũ trụ cho nên không có Trung Thế cõi người và vành chim bay.

Xin nhắc lại hệ luận về trống vũ trụ và thế gian như sau:

 .Nếu nhìn thấy bất cứ một trống nào mà trên mặt trống có cảnh sinh hoạt nhân sinh hay có hình người hiện thực hay cách điệu hóa hoặc có hình thú bốn chân, loài vật sống trên mặt đất thì trống đó là trống thế gian có mặt trời có số nọc tia sáng bằng hay lớn hơn 7 nọc tia sáng.

.Nếu trên mặt trống trống trơn hoặc chỉ có chim bay thì trống đó có thể là trống vũ trụ có mặt trời có số nọc tia sáng bằng hay nhỏ hơn 7 nọc tia sáng.

.Bốn tượng loài lưỡng cư.

Trống có bốn tượng loài lưỡng cư bốn chân cũng sống trên mặt đất nhưng ở đây là trống rất muộn người làm trống dùng với nghĩa biểu tượng sinh tạo, tạo hóa nên có thể ‘có mặt’ ở cõi trên (con cóc là cậu ông trời) ví dụ trên mặt trăng có con cóc thiềm thừ. Điểm này cũng cho biết con vật lưỡng cư trên trống vũ trụ này rất đặc biệt không phải chỉ là biểu tượng thuần nhất cho sấm mưa hay sấm dông mà như đã nói ở trên là biểu tượng cho sấm tạo hóa, sinh tạo.

Bốn tượng vật lưỡng cư “nằm dài duỗi hai chân ra sau”. Hai chân duỗi ra thành hình chữ V có một nghĩa là âm thái dương, nước thái dương Chấn, Khôn âm ngành thái dương  (V là do hai nòng OO, thái âm dương hóa cực đại thành hai nọc que ghép lại) (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ Hai Nòng Vòng Tròn) vì thế trônggiống như đuôi cá diễn tả Khôn nước thái âm (cá là nước thấy qua từ đôi cá nước). Trên đầu con vật có từ nọc hình tam giác thuận cho biết con vật mang tính dương, lửa thái dương Càn (tam giác do ba nọc que ghép lại tức quẻ Càn). Con vật có một khuôn mặt là Khôn Càn nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực, vũ trụ.

Đi xa nữa nhìn dưới dạng phân cực là lưỡng nghi. Trụ cột xương sống  biểu tượng cho núi trụ đất thiếu dương Li. Xương sườn hình lông chim biểu tượng cho thiếu âm gió Đoài vũ trụ khí gió. Đầu có từ tam giác Càn cực dương cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái dương lửa thái dương và đuôi cá chữ V cực âm Khôn cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng nước thái âm ngành thái dương  Chấn. Ta có tứ tượng. Như thế con cóc/ếch mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh.

Rõ như ban ngày nó mang tính sinh tạo, tạo hóa không hoàn toàn là vật biểu của sấm mưa hay sấm dông như thường thấy ở các trống cóc/ếch thế gian.

Trống này là một ví dụ điển hình cho thấy cóc/ếch có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, biểu tượng cho sấm tạo hóa.

Tóm lại trống này là trống vũ trụ có mặt trời 7 nọc tia sáng là một trống muộn đã diễn đạt khuôn mặt sấm tạo hóa, sấm khai thiên lập địasấm big bang, sấm Càn Khôn do lửa thái dương, chớp, Càn diễn tả bằng hai vành nọc mũi mác liên tác với nước dương chuyển động, mưa Chấn diễn tả bằng vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm ở biên trống. Cóc/ếch ở đây mang tính chủ sinh tạo, tạo hóa.

….

(còn một kỳ)

 

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: