GIẢI ĐỌC NHÓM TRỐNG CÓC/ẾCH (5).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

 

GIẢI ĐỌC NHÓM TRỐNG ĐỒNG CÓC/ẾCH.

(phần 5)

Nguyễn Xuân Quang

MỘT VÀI TRỐNG CÓC/ẾCH SẤM MƯA KHÁC TRỐNG HỮU CHUNG.

Xin sơ lược giải đọc thêm vài trống cùng nhóm với trống cóc/ếch sấm mưa Hữu Chung khác để hiểu thấu đáo hơn. Bởi vì các trống làm ra vào những thời khác nhau, ở các địa phương bị ảnh hưởng văn hóa bản địa khác nhau nên cách diễn tả khác nhau, nhất là chữ viết nòng nọc vòng tròn-que viết theo các ngữ pháp đã biến đổi theo thời gian và văn hóa bản địa. Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que nguyên thủy chính thống, chính chuyên viết theo đúng ngữ pháp nòng nọc, âm dương, dịch lý về sau càng diễn tả theo lối bình dân học vụ theo cái nhìn duy tục dễ hiểu hơn nhưng nhiều khi lệch lạc, sai khác hẳn ngữ pháp nguyên thủy như một thứ chữ “bồi”.

Tuy nhiên các thay đổi này nhiều khi rất hữu ích vì các diễn đạt ‘bình dân học vụ’, vì có sự pha trộn văn hóa bản địa không chính thống, chúng giúp ta dễ hiểu và đi ngược lên dòng thời gian để kiểm chứng lại những diễn đạt ở các trống cổ viết theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que chính thống nguyên thủy.

NGÀNH MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG.

NHÁNH NỌC ÂM THÁI DƯƠNG.

NHÓM MẶT TRỜI THIẾU DƯƠNG.

PHỤ NHÓM TRỐNG CÓC/ẾCH.

CHI SẤM MƯA.

CHÌA KHÓA

.Trống Sấm Mưa là trống Cấn-Chấn,  Sấm Chấn ở đầu non đúng như truyền thuyết nói ‘Ông Thần Sấm có nhà ở đầu non’ ứng với Thần Sấm Chấn Lạc Long Quân có nhà ở đầu Non Âu Cơ.  Sấm mưa Chấn-Cấn thấy rõ ở một thứ dịch thấy trên lá bùa trừ tà của dân gian Việt Nam:

 Dịch trong lá bùa trừ tà này có Chấn hôn phối với Cấn, có một khuôn mặt sấm Chấn Lạc Long Quân ở đầu non Cấn Âu Cơ.

Tại sao trong lá bùa trừ tà lại dùng dịch có Chấn hôn phối với Cấn? Cũng dễ hiểu thôi. Xin thưa bởi vì như đã thấy Chấn-Cấn có một khuôn mặt là Sấm ở đầu non. Ông thần sấm có búa thiên lôi là ông thiên lôi nên trừ tà ma được. Sấm sét đánh những nơi có tà ma ở, những kẻ tà tâm có thể bị “trời đánh”. Tại sao dân gian Việt lại dùng lá bùa loại này? Xin thưa ông thần Sấm Chấn có nhà ở đầu non chính là hình ảnh của thần Sấm Chấn Lạc Long Quân có nhà ở đầu Non Cấn Âu Cơ. Các vị thần phụ mẫu của dân Việt này hiển nhiên bảo vệ, che chở cho dân Việt.   

.Trống sấm mưa Chấn có mặt trời thiếu dương có 12 nọc tia sáng, theo chính thống thường có tượng ếch đi kèm với vành gạch đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) nọc âm thái dương, kẹp giữa vành sóng từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn hay có các vành sóng nước chuyển động…

Tổng quát

Trống Hữu Chung là trống tiêu biểu của nhóm trống này, ở đây nói về vài trống tiêu biểu khác của nhóm trống cóc/ếch này.

Để vắn tắt, tôi chỉ xin đối chiếu các điểm chính khác nhau với trống Hữu Chung.

1. TRỐNG LÀNG VẶC.

Trống tìm thấy ở xã Khai Xuân, huyện Lục Yên, Tỉnh Hoàng Liên Sơn.

Trống muộn thuộc loại Đ-I-1 theo cách phân loại của Việt Nam.

lang vac

Trống Làng Vặc (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Tổng quát

.Giống trống Hữu Chung.

.Trống Nấm Vũ Trụ: trống có hình Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I)

Trống có hình trống  cây nấm là trống Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) gồm đủ cả ba cõi, Tam Thế mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ luận.

A. Cõi Trên, Thượng Thế

-Vỏ hư vô, vô cực và vỏ trứng vũ trụ thái cực rất dầy mang âm tính thái âm nước.

-Mặt trời

.Mặt trời 12 nọc tia sáng mụi mác ngắn mang âm tính.

-Không gian như vừa nói có vỏ dầy thái âm nước. Các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất hai giọt chuyển động hình hạt hạnh nhân diễn tả nước duong Chấn.  Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng đơn và d0o26ng nhất này cho biết trống có khuôn mặt Chấn mang tính chủ và trống này chỉ là trống biểu của một đại tộc hay tộc Chấn.

Vùng sinh tạo

Vì khoảng không gian giữa các nọc tia sáng không có hình thái tứ tượng nên vùng này không diễn tả tứ hành. Vùng này có 4 vành gồm hai vành ngoài nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược nọc âm thái dương kẹp giữa hai vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn. Bốn vành cho biết trống có khuôn mặt chủ là Chấn nhánh nọc âm thái dương.

-Vành giới hạn

Các vành giới hạn ở đây là vành trống không giống ở trống Hữu Chung mang âm tính.

Mặt trời và các vành giới hạn trống không này diễn tả Khôn âm tức không gian âm nước Chấn ngành âm thái dương.

B. Cõi Giữa, Trung Thế.

Trung Thế là cõi giữa nhân thế gồm có vùng đất và vùng nước. Vùng đất là phần mặt trống còn lại và vùng nước là tang trống. Có những điểm khác trống Hữu Chung:

-Vùng Đất.

a. Đất dương

.Vành sóng chuyển động.

Hai vành sóng dương nhọn đầu đan vào nhau tạo thành sóng hình thoi có hai nọc que thái dương diễn tả sóng nước dương Chấn ngành nọc thái dương.

.Vành người thể điệu hóa

Trống này có mặt trời 12 nọc tia sáng là trống thế gian nên có một vành diễn tả cảnh người thể điệu hóa.

Tổng quát người trên trống này giống người trên trống Hữu Chung chỉ khác là có con mắt âm, nước từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương  Chấn. Người thuộc tộc nước Chấn.

.Vành  cò bay và dóng sấm

Vành này là vành hỗn hợp có 8 hình cò bay và 8 hình dóng sấm, búa thiên lôi thường gọi sai là ‘hình trâm’.

Cò.

Vành cò bay có 8 con rất thể điệu hóa. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8). Khôn âm là nước có Chấn nước dương đại diện.  Do đó 8 con cò này là cò nước. Thật vậy cò có mỏ cong mang âm tính, cánh c1o hình gợn sóng nước và đuôi cá.

Tóm lại 8 con cò bay trên trống này là cò nước.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là một loại cò nước, cò Lạc  gió thuộc đại tộc Lạc Long Quân có khuôn mặt sấm mưa.

.Dóng sấm, búa thiên lôi.

Cùng vành với cò có 8 hình dóng sấm, búa thiên lôi, lưỡi tầm sét (Phạn ngữ vajras, thunderbolt) rất thể điệu hóa (hiện nay các nhà khảo cổ học gọi lầm là ‘vật hình trâm’ (xem Dóng Sấm hay Búa Thiên Lôi).

Có sự hiện diện của dóng sấm, búa thiên lôi, trống Làng Vặc I trăm phần trăm là trống sấm.

  1. Đất âm

.Vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ở biên trống.

Ngoài biên trống, khác trống Hữu Chung có bốn vành giống như ở vùng sinh tạo có nghĩa là nước dương Chấn nọc âm thái dương.

.Tượng loài lưỡng cư.

Bị mất. Hình vẽ lại trông giống ếch vì có eo ếch và cặp đùi nở nang. Kiểm chứng lại ta thấy trống này là trống sấm mưa Chấn thì hiển nhiên khuôn mặt ếch thích hợp hơm cóc.

-Vùng nước

Không có hình vẽ chi tiết. Không có hình thuyền chỉ có các ‘hoa văn’ chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn, vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược).

C. HẠ THẾ

Chân trống có trang trí. Đây là trống không còn giữ được chính thống vì theo chính thống hạ thế là cõi âm tăm tối không có trang trí. Đây là trống rất muộn. Chân trống có các vành nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy thường gọi là răng lược và tam giác (không có hình vẽ, không biến có phải là hình sóng thể điệu hóa hay không?).

D. THÂN TRỐNG

Thân trống hay eo trống là Trục Thế Giới nối liền ba cõi.

Thân trống chỉ có những vành hoa văn chữ viết nòng nọc vòng tròn-que như ở tang trống. Rất tiếc là không có hình vẽ.

Kết Luận

Đây là trống mặt trời thiếu dương Chấn/Cấn 12 nọc tia sáng trong nhóm trống cóc/ếch, nghiêng nhiều về ếch, có một khuôn mặt chủ là sấm mưa.

Trống đã muộn vì các diễn tả không còn chính thống theo triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh. Nhưng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que diễn tả giản dị, rất hiện thực.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Nam đây là trống họ mặt trời Hồng Bàng nhánh nọc âm thái dương Lạc Việt Lạc Long Quân ngành Thần Nông thái dương, nhóm trống thiếu dương mặt trời 12 nọc tia sáng mũi mác. Trống là trống Sấm Mưa dòng Chấn sấm mưa Lạc Long Quân.

2. TRỐNG NAM NGÃI II.

Trống Nam Ngãi II.

Trống tìm thấy ở làng Nam Ngãi, xã Yên Minh, huyện Đồng Văn, Tỉnh Hà Tuyên.

Trống hết sức muộn, thuộc loại D-III-6 theo cách phân loại của Việt Nam.

Tổng quát

Có rất nhiểu điểm không giống trống Hữu Chung.

  1. Mặt trống

Nhìn tổng thể, trống “mát dịu” mang âm tính của ngành nòng âm thái dương. Các vành giới hạn là các vành trống không Khôn rất to và nhiều vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) có một khuôn mặt nọc âm thái dương.

B. Cõi Trên, Thượng Thế

a. Hư vô.

Vành bao quanh đầu tia sáng là vỏ không gian diễn tả bằng vòng tròn nhỏ mang dương tính, theo chính thống cho biết không gian dương khí gió. Tuy nhiên ta thấy ở biên trống có hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) dương kẹp ở giữa hai vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước Chấn. Trống thuộc nhánh nọc âm thái dương nghiêng về Khôn âm, thái âm, nước chứ không phải Khôn dương thiếu âm khí gió. Như thế vỏ không gian ở đây viết hoàn toàn sai ngữ pháp của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, đúng ra phải là vòng tròn to nét mang tính thái âm.

b. Thái cực: bọc Trứng Vũ Trụ.

Gồm mặt trời 12 nọc tia sáng và không gian gồm các khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời ở dạng đơn giản đồng nhất, tạo bởi các sọc nghiêng song song diễn tả không gian. Mặt Trời-không gian nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực.

b. Lưỡng nghi:

-Cực dương:

.Mặt trời thiếu dương Chấn/Cấn 12 tia sáng có nọc tia sáng như cánh hoa thị mang âm tính nhưng nhọn đầu mang dương. Những tia sáng này mang tính âm nam thái dương. Các tia sáng có cỡ to nhỏ không cùng cỡ cho thấy trống quá muộn với ngón tay nghề rất vụng.

Vậy trống này là trống có mặt trời Chấn/Cấn nọc âm thái dương [diễn tả bằng hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) ở biên trống].

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, mặt trời có 12 nọc tia sáng âm thái dương là mặt trời Nước thái dương Chấn (sấm, mưa, biển) Lạc Long Quân hôn phối với khuôn mặt núi Cấn Âu Cơ nhánh âm thái dương ngành mặt trời Viêm Đế thái dương. Thần sấm Lạc Long Quân có nhà ở đầu non Âu Cơ.

-Cực âm:

.Không gian

Như đã nói vỏ không gian (cùng chung với vỏ Trứng Vũ Trụ) ở đây đã ‘viết’ sai là một vòng tròn nhỏ nét mang dương tính nghiêng về thiếu âm khí gió. Ở đây khoảng không gian có hình thái đơn giản đồng nhất gồm toàn là những hình gạch song song diễn tả không gian. Như thế trống này không mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh (vì khoảng không gian giữa tia sáng không diễn tả theo hình thái tứ tượng) mà chỉ là trống biểu đơn thuần của một đại tộc hay tộc.

c- Những Vành Sinh Tạo

Vì khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất không  phài là hình thái tứ tượng nên các vành bao quanh vũ trụ, không gian mặt trời ở đây không phải là các vành diễn tả tứ hành. Vì vậy ở đây có 6 vành sinh tạo (chính thống chỉ có ba hay bốn diễn tả tứ hành sinh tạo).

Những Vành Sinh Tạo trên trống Nam Ngãi II.

.Vành 1

Có hình thái chữ T hai đầu có hình hai móc ngoặc [ … ].

Phân tích ra ta có phần thân cắm trên chân chữ T là hình trụ chống biểu tượng cho trụ đất lửa thế gian, núi trụ thế gian, Trục Thế Giới. Hình trụ chống, núi trụ thế gian này thấy rõ qua chữ Thổ (đất) trong chữ viết trên giáp cốt văn có hình trụ đá dựng trên nét ngang mặt đất hay hình trục cắm trên mặt đất giống phần thân và chân chữ T ở đây (xem thêm Kẻ Sĩ).

Chử Tũ (thổ trên giáp cốt văn).

Như thế phần trụ chống của ‘hoa văn chữ T cách điệu này biễn tả đất dương, đất lửa Li.

Phần đầu nằm ngang của chữ T là một nọc có hai đầu có hình dấu móc ngoặc ( [ ) và ( ]).  Giản dị ta có thể coi hai dấu này chỉ là hai nọc que bẻ đầu lại để cho đẹp mắt vì chủ đích trang trí. Như thế phần trên chữ T gộp lại là ba nọc que. Ba que là ba hào dương, tức quẻ Càn, lửa vũ trụ.

Như thế chữ T này diễn tả lửa Càn vũ trụ và lửa đất Li. Đây là một cách diễn tả không theo qui ước. Trống này là trống rất, rất muộn.

.Vành 2 và 5

Hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) theo duy dương là không gian dương, khí gió Đoài.

.Vành 3 và 4

Là vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn.

.Vành 6

Là vành sóng nước dương, lửa nước, sấm gầm rất thể điệu hóa biến thành hình sóng nước dương nhọn đầu, Chấn.

Ở trống Hữu Chung, vành sóng này nằm ở cõi giữa nhân thế.

B. Cõi Giữa, Trung Thế.

Trung Thế là cõi giữa nhân thế gồm có vùng đất và vùng nước. Vùng đất là phần mặt trống còn lại và vùng nước là tang trống. Hoàn toàn khác trống Hữu Chung:

-Vùng Đất.

a. Đất dương.

Vành người thể điệu hóa.

Trống này có mặt trời 12 nọc tia sáng là trống thế gian nên có vành diễn tả cảnh người thể điệu hóa.

Những hình người thuộc tộc nước dương Chấn  trên trống Nam Ngãi II.

Trống Nam Ngãi có mặt trời 12 nọc tia sáng là trống Chấn/Cấn sấm mưa có motif hình người thể điệu hóa của tộc nước được diễn tả bằng các sọc ngang song song theo duy dương là bờm chim biểu tượng cho thiếu âm khí gió, theo duy âm là sọc nước biểu tượng cho thái âm nước và hình móc xoắn ốc ba vòng mang ý nghĩa nước không gian, mây (ba hình xoắn do ba nòng OOO mở ra mang nghĩa chuyển động, sinh động). Hình móc xoắn ốc có một nghĩa là nước sinh động. Hình móc xoắn ba này quay về phía tay phải mang dương tính cho thấy đây là nước dương, lửa-nước Chấn. Đây là người mặt trời thuộc tộc mặt trời nước có một khuôn mặt sấm mưa.

Tổng cộng vành người có 32 người. Số 32 là số Khôn (32 = 0 như 32 độ F = 0 độ C). Quẻ Khôn OOO có một khuôn mặt là nước thái âm vũ trụ. Rõ như ban ngày những người này là người tộc nước Chấn, khuôn mặt dương đại diện cho Khôn.

Đây là trống hết sức muộn nên motifs hình người nước được diễn tả bằng hình móc xoắn mây, nước, sấm dễ hiểu hơn những hình người ở các trống cổ với các trang phục đầu diễn tả phức tạp hơn.

.Vành dóng sấm hình thoi xen kẽ hình thuyền.

Vành dóng sấm hình thoi xen kẽ hình thuyền.

-Đất âm

Vùng đất âm là vành có hình thuyền và dóng sấm, búa thiên lôi xen kẽ.

.Dóng sấm, búa thiên lôi hình thoi trên trống Nam Ngãi II.

Trống Nam Ngãi rất muộn nên dóng sấm, búa thiên lôi có dạng thể điệu hóa tối đa gần như không còn nhận ra hình búa nữa. Tuy nhiên chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình cây gậy cong hình lưỡi câu trong hình thoi là một dạng hình chữ móc nước có nghĩa là nước dương,  nước chuyển động, mưa, sóng, biển, sấm, mặt trời nước… Hình móc nước này giống như cái mũi móc câu của thần Mưa Chac của Maya (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ Hai Nòng Vòng Tròn).

Thần mưa Chac của Maya có mũi cong hình chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình móc câu nước, mưa. Lưu ý thần mưa Chac có một khuôn mặt hung thần có thể là khuôn mặt ‘trời đánh’ của sấm.

Còn bốn đỉnh nhọn hình thoi là bốn chữ nọc nhọn mũi mác hay răng sói, răng cưa ( >), có một nghĩa là lửa. Bốn đỉnh hình thoi cộng với bốn chữ viết nòng nọc móc câu là bốn lửa-nước, bốn chớp-mưa có nghĩa là sấm bốn phương trời. Vậy hình thoi biểu tượng cho sấm rền vang bốn phương trời chính là dóng sấm, búa thiên lôi thể điệu hóa (thành dạng lưỡi tầm sét).

Từ nòng nọc vòng tròn-chấm ở tâm hình thoi có một nghĩa là nòng nọc, âm dương sinh tạo, nhất thể hay Trứng Vũ Trụ, vũ trụ. Ý nghĩa này là khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa của sấm. Tiếng nổ big bang thuở khai thiên lập địa là một thứ tiếng sấm.

Nếu nối bốn đỉnh nhọn theo đường chéo hình thoi lại ta có hình chữ thập nhọn đầu mũi mác. Rõ như dưới ánh sáng mặt trời hình thoi mang ý nghĩa sấm này là một dạng thể điệu hóa cực kỳ của búa thiên lôi kép chữ thập (double thunderbolt) ngày nay còn thấy nhiều trong Phật giáo Nepal, Tây Tạng.

.Dóng sấm, búa thiên lôi hình thoi là dạng thể điệu hóa của dóng sấm, búa thiên lôi kép chữ thập.

Những búa thiên lôi hình thoi này ở trên cùng vành những thuyền trên sóng nước cũng nói cho biết một cách “bình dân học vụ” là búa thiên lôi hình thoi liên hệ với tộc người sống trên thuyền nước (long hộ, long nhân) của đại tộc mặt trrời nước dương Chấn, có một khuôn mặt là sấm mưa. Người Lê ở Hải Nam là một tộc nước long hộ dùng trống đồng trong các cuộc tế “thần sấm”.

Tất cả có 12 dóng sấm chia ra hai nhóm ba chiếc và 3 nhóm 2 chiếc.  Với con số khác biệt không đồng đều này cũng cho thấy trống rất muộn.

.Thuyền.

Xen kẽ với dóng sấm hình thoi là những con thuyền. Có 15 con thuyền chia ra 5 nhóm. Con số 15 là số Càn tầng 2 (15 = 8 + 7). Càn hôn phối với Khôn mang nghĩa sinh tạo, tạo hóa. Như thế 15 con thưyền ở đây là những thuyền mang nghĩa biểu tượng cho sinh tạo, không phải là những con thuyền dùng làm phương tiện chuyên chở theo nghĩa duy tục.

Sự hiện diện của thuyền ở vùng đất âm trên mặt trống cho thấy trống này hết sức muộn, không còn giữ theo qui ước chính thống là thuyền chỉ có mặt ở vùng nước ở tang trống.

Ở trống rất muộn này không có hình cò cho thấy đây một là  trống đã mất gốc, không còn chính thống.

c. Các vành ở biên trống.

Biên trống có hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) có nghĩa là nọc âm thái dương. Hai vành này kẹp giữa hai vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn. Gộp lại bốn vành cho biết đây là trống nước dương, nước lửa, sấm, mặt trời nước âm thái dươngChấn.

d. Tượng cóc/ếch

Bị mất.

.Vùng Nước Tang Trống.

Có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) và hai vòng tròn đầng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước như ở biên trống.

C. Hạ Thế, Cõi Âm.

Có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que như ở biên trống.

Đây là trống rất muộn nên cõi âm chân trống có trang trí chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.

D. Thân Trống

Có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que như ở biên trống.

Kết Luận

Trống Nam Ngãi II thuộc nhóm trống sấm mưa cóc/ếch nhưng là trống hết sức muộn (D-III-6), diễn đạt ý nghĩa biểu tượng theo cách bình dân học vụ (với vành Lửa vũ trụ Càn-Lửa đất Li không qui ước, hình thuyền trên mặt trống, người thể điệu hóa cùng cực hình móc nước dương, dóng sấm hình thoi…).

Nhưng nó giúp nhiều dữ kiện quí giá như giúp ta kiểm chứng, xác thực lại những qui luật, hệ luận về nhóm trống cóc/ếch sấm mưa. Nó giúp ta kiểm chứng thấy rất đúng hình người thật với trang phục đầu thường cho là hình chim hay hình người đã thể điệu hóa tối đa trên các trống là những người tộc nước, mặt trời nước, sấm mưa, không hoàn toàn là “người hóa trang thành người chim” như các nhà khảo cổ học hiện cho là vậy. Nó giúp ta xác thực các “hình trâm” liên hệ ruột thịt với cò sấm mưa, với thuyền nước, chúng không phải là “hình trâm mà là dóng sấm, búa thiên lôi, dù nhiều khi đã thể điệu hóa cùng cực khó mà mường tượng ra được.

3. MỘT VÀI TRỐNG KHÁC NỮA.

Để vắt chỉ chỉ xin nói tới sự diễn tả khác nhau về hai đặc thù chính của nhóm trống sấm, mưa cóc/ếch Chấn/Cấn có mặt trời 12 nọc tia sáng có mang âm tính là dóng sấm và hình cò Lạc (nước, mưa, sấm mưa).

Trống  Bắc Lý.


Trống Bắc Lý (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Hình cò ở đây trên cánh có hai giọt nước dương Chấn hình hạnh nhân giống như trong hình thái tứ tượng (thường gọi nhầm là ‘họa tiết lông công’) ở các khoảng không gian giữa tia sáng trên các trống diễn tả  triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh trọn vẹn như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Chấn có một khuôn mặt là sấm mưa vậy con cò này là cò sấm mưa, cò Lạc.

Và còn vô số trống loại này nữa…

(tiếp theo).

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: