GIẢI ĐỌC NHÓM TRỐNG ĐỒNG CÓC/ẾCH (4): TRỐNG HỮU CHUNG

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

GIẢI ĐỌC NHÓM TRỐNG ĐỒNG CÓC/ẾCH.

(phần 4)

Nguyễn Xuân Quang

A. GIẢI ĐỌC VÀI TRỐNG CÓC SẦM MƯA TIÊU BIỂU.

Xin giải đọc vài một trống tiêu biểu trong nhóm trống cóc sấm mưa.

.TRỐNG HỮU CHUNG.

Trống tìm thấy ở bờ sông Luộc, thuộc địa phận thôn Hữu Chung, xã Hòa Thành, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương năm 1961.

Tổng quát

Trống Hữu Chung (nguồn: Nguyễn Văn Huyên)

.Họ: trống Hữu Chung thuộc họ mặt trời hừng rạng, rạng ngời có tia sáng nọc mũi mác.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là trống biểu của họ Hồng Bàng có một khuôn mặt là họ mặt trời thái dương. Theo duy dương, họ Hồng Bàng có một nghĩa là Họ Đỏ, Họ Mặt Trời. Họ Hồng Bàng thế gian kể từ Kì Dương Vương trở xuống, nhìn theo diện nòng nọc, âm dương chỉ gồm có Kì Dương Vương (Kì Việt thuộc ngành mặt trời Viêm Đế và Lạc Long Quân thuộc ngành không gian Thần Nông.

Còn Hùng Vương ở đây trong họ Hồng Bàng thế gian có thể coi là có một khuôn mặt lịch sử là chính. Hùng Vương lịch sử đội lốt Tổ Hùng tạo hóa, sinh tạo. Các Hùng Lang là con của Âu Cơ ngành Lửa Kì Việt, Viêm Đế và Lạc Long Quân ngành Nước Lạc Việt, Thần Nông nên có bản thể (có gene) mặt trời-không gian, vũ trụ, lữa-nước, chim-rắn, Tiên-Rồng.

Đế Minh là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế thì Kì Dương Vương và Lạc Long Quân cũng thuộc dòng mặt trời Viêm Đế hiển nhiên họ Hồng Bàng trăm phần trăm có một khuôn mặt là Họ Mặt Trời.

.Ngành: hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) ở biên trống cho biết trống thuộc ngành âm Khôn thái dương, khác với trống đồng âm dương Vienna (Khai Hóa),  Đồng Cẩu cũng là trống có mặt trời 12 nọc tia sáng nhưng thuộc ngành dương thái dương vì có sự hiện diện của hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ở biên trống.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là ngành mặt trời âm thái dương phía Thần Nông thị, Lạc Long Quân.

.Nhánh: mặt trời có tia sáng hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) nhọn, sắc ứng với nhánh nọc, lửa, nọc nhọn, rìu nhọn tức nhánh rạng ngời.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là nhánh Việt mặt trời rạng ngời (Việt có một nghĩa là vọt, vớt, rìu tức là một thứ vật nhọn, nọc lửa, nọc dương, mặt trời).

.Đại tộc: khối lửa mặt trời hình cầu gai chói lọi không thấy đĩa tròn ứng với đại tộc thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là đại tộc Việt thái dương ngành âm.

.Dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương thấy qua sự kiện là trống hở đáy, mặt trời-không gian ở tâm trống và tia sáng số chẵn âm đi với mặt trời dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, lửa-nước ứng với Chim-Rắn, Viêm Đế-Thần Nông, Đế Minh-Long Vương, Kì Dương Vương-Thần Long, Lạc Long Quân-Âu Cơ, Tiên-Rồng, Hùng Lang, Hùng Vương lưỡng hợp hai ngành núi-biển…

.Trống Nấm Vũ Trụ: trống có hình Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I)

Trống có hình trống  cây nấm là trống Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) gồm đủ cả ba cõi, Tam Thế mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ luận.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống này theo chính thống phải mang trọn vẹn cốt lõi văn hóa Việt dựa trên nòng nọc, âm dương nền tảng của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

Mặt trống

Nhìn tổng thể, mặt trống “mát lạnh” mang âm tính của nhánh nọc âm thái dương. Các vành giới hạn là các vành trng không Khôn và nhiều vành đường ry hay hình các thanh thang đng (răng lược) cho thấy có một khuôn mặt nòng âm Khôn mang tính chủ.

Trống có 9 vành bên ngoài bọc vũ trụ mặt trời-không gian nên trống có một khuôn mặt là trng Chn (số 9 là số Chấn (tầng 2) ăn khớp với một trong những khuôn mặt chính của nhóm trống thiếu dương này.

  1. Cõi Trên, Thượng Thế

Thượng Thế, theo nguyên tắc, là phần ở tâm trống biểu tượng cho cõi trên chiếu xuống tâm trống hay là phần cõi trên đập dẹp xuống để làm mặt trống. Tâm trống ở đây có vỏ hư vô là vòng tròn bao quanh đầu tia nọc ánh sáng mặt trời. Vỏ không gian to, đậm nét mang nhiều âm tính nghiêng về Khôn âm thái dương Chấn, cũng cho biết là mặt trời 12 nọc tia sáng mang âm tính. Vỏ này cho biết bọc Trứng Vũ Trụ và cũng là bọc Trứng Thế Gian sinh tạo thuộc ngành Khôn âm thái dương ứng với Lạc Long Quân, Thần Nông.

Cõi trên Thượng Thế chia ra bốn tầng: vô cực, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng/tứ hành.

  1. Vô Cực

Như đã nói ở trên, vành bao quanh đầu tia sáng là vỏ không gian. Vỏ này cũng là vỏ hư không. Vỏ diễn tả bằng vòng tròn to, đậm nét mang âm tính nên hư vô trung tính ngả về Khôn âm trước, vô cực chuyển qua âm, thái âm trước.

Trống này nghiêng về nhánh nọc âm thái dương.

.Thái Cực: Bọc Trứng Vũ Trụ.

Thái cực gồm mặt trời 12 nọc tia sáng và không gian. Như vừa nói, vỏ Trứng Vũ Trụ trùng với vỏ Hư Vô là một vòng tròn to, đậm nét mang âm tính nước. Vỏ này cũng cho biết không gian, Trứng Vũ Trụ có một khuôn mặt Khôn thái âm mang tính chủ.

.Lưỡng Nghi

-Cực dương:

Mặt trời thuộc họ mặt trời rạng ngời, ngành nọc chói chang, đại tộc thái dương. Mặt trời có khối lửa cầu gai chói chang và nọc tia sáng thuộc nhóm nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) là mặt trời nọc thái dương nhưng nọc tia sáng không có góc cạnh dương thái dương mà thuôn tròn mang âm tính và nhọn đỉnh mang dương tính tức nọc tia sáng thái dương âm cho biết mặt trời là mặt trời thái dương âm nam trông như búp hoa sen.Tôi gọi mặt trời cánh hoa sen đầu kim nhọn này là mt tri nc tia sáng búp hoa sen (hoa sen mọc dưới nước và mặt trời ở trống này có một khuôn mặt là Mặt Trời chi Nước của nhóm trống thiếu dương).

Thượng thế/bầu vũ trụ trên trống Hữu Chung có vỏ không gian to, đậm nét mang âm tính cho biết không gian nghiêng về Khôn âm thái âm nước. Mặt trời 12 tia sáng có nọc tia sáng thon tròn mang âm tính và nhọn đỉnh mang dương tính trông như búp hoa sen nhọn đỉnh cho biết mặt trời là mặt trời âm nam thái dương.

Mặt trời có 12 nọc tia sáng. Số 12 là số Cấn tầng hai thế gian (4, 12) có một nghĩa là Núi.  Cấn OOI là Nàng Đất, Nàng O thiếu dương OI, âm O thiếu dương OI. Trống Hữu Chung có mặt trời 12 nọc tia sáng thuộc nhóm trống nọc thiếu dương ngành nọc thái dương. Xin nhắc lại Cấn hôn phối với Chấn (Âu Cơ Cấn Non hôn phối với Chấn Biển Lạc Long Quân) và cũng hôn phối với Đoài (Hoàng Hậu Hùng Vương Cấn hôn phối với Hùng Vương Đoài vũ trụ khí gió). Ngoài ra Cấn non, đất âm có Li đất dương, đất lửa là đại diện. Ta thấy rõ qua thứ tự các con số 11-12-13, Cấn 12 bước thêm một bước nữa về phía tay phải, dương là số 13, Li và lùi một bước về phía tay trái, âm là số 11, Đoài. Tóm lại nhóm trống nọc thiếu dương mặt trời 12 nọc tia sáng có ba khuôn mt chính là Chn, Đoài, Li. Trong nhóm trống này có những trống diễn tả dịch theo một trong ba khuôn mặt đó mang tính chủ. Ở đây, trng Hu Chung này din t khôn mt Chn mang tính ch thuc nhánh nc âm thái dương [diễn tả bằng hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) ở biên trống] (xem dưới).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, theo hôn phối Chấn-Cấn thì đây là trống Chấn-Cấn Lạc Long Quân. Ở cõi trời thế gian Lạc Long Quân có một khuôn mặt là Chấn sấm (Chấn vi lôi). Trống là Trống Chấn sấm ở trên núi Cấn. Điều này trăm phần trắm đúng với truyền thuyết nói rằng ông thần sấm có nhà ở đầu non. Thần Sấm Lạc Long Quân có nhà (nhà có một nghĩa là là vợ, nhà tôi) ở đầu non Âu Cơ. Ở cõi lịch sử nhân sinh  Lạc Long Quân có khuôn mặt nước dương biển và Âu Cơ là núi, non. Vì thế Âu Cơ đem năm mươi con lên núi, lên non và Lạc Long Quân đem năm mươi con xuống biển.

-Cực âm:

.Không gian

Cực âm là không gian chứa mặt trời. Như đã nói vỏ không gian (cùng chung với vỏ Trứng Vũ Trụ) ở đây là một vòng tròn to, đậm mang âm tính nghiêng về thái âm nước. Vỏ này cho biết bọc không gian, Trứng Vũ Trụ có một khuôn mặt không gian mang tính thái âm.

Bản chất không gian thường được diễn tả bởi các hình thái ở các khoảng không gian giữa các tia sáng. Các chữ viết, các hình ngữ nòng nọc vòng tròn-que trong khoảng không gian chỉ cho biết nghĩa gì của không gian theo vũ trụ luận. Những chữ nòng nọc, hình ngữ này mang ý nghĩa chính của khoảng không gian.

Ở đây khoảng không gian có hình thái hn hp lưỡng ngành biểu tượng cho hai ngành nòng nọc, âm dương din t t tượng nhưng không còn gi dng chính thng là hình thái t tượng (hiện gọi lầm là lông công). (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Khoảng không gian kết hợp hai ngành nòng nọc, âm dương  trên trống  Hữu Chung.

Ta thấy dạng ngành nọc Càn Li có hình thái lông chim gồm có hình các nọc nhọn mũi mác (^) lửa vũ trụ Càn lồng vào nhau. Nếu đếm các nọc mũi mác ta có 8 nọc, số 8 là số Khôn hôn phối với Càn xác định các nọc mũi mác biểu tượng cho Càn ứng với khuôn mặt lửa Viêm của Viêm Đế. Một nọc que (gân lông chim) nối xuyên qua các đỉnh nọc nhọn mũi mác biểu tượng cho nọc, trụ lửa thế gian Li. Nọc lửa thế gian Li này mang hình ảnh Núi Trụ Thế Gian ứng với Đế (có một nghĩa là là cây trụ chống) của Viêm Đế.

Các khoảng không gian ngành nọc Càn-Li này xen kẽ với khoảng không gian ngành nòng âm gồm hình hai giọt nước hình hạnh nhân Chấn ứng với Thần của Thần Nông và bờm hay tua rèm gió Đoài ứng với Nông của Thần Nông. Như thế cả hai hình thái khoảng không gian nhập lại có mang đủ cả tứ tượng.

Trống này mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh nhưng diễn tả bằng dạng hai ngành nòng nọc (âm dương) hỗn hợp.

Lưu ý vì vỏ không gian to đậm mang âm tính nên ngành Thần Nông mang tính chủ ở trống này.

Ta thấy rõ Thượng Thế ở tâm trống là mt tri Chn-Cn mang tính ch.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Thượng Thế diễn tả mặt trời Chấn thái dương (sấm, biển) Lạc Long Quân-Cấn núi Âu Cơ có một khuôn mặt sinh tạo đội lốt Thần Nông.

c- Những Vành Sinh Tạo

Trước hết hai vành bên ngoài bao các vành sinh tạo là hai vành giới hạn. Hai vành này là hai vành trống không mang tính âm. Hai vành giới hạn âm này cho biết tứ hành chuyển hành nằm bên trong hai vành này mang âm tính chủ. Chúng cho biết trống Hữu Chung có một khuôn mặt là trống âm thái dương (sự hiện diện của vành hình đường rầy, hình các thanh thang đứng ‘răng lược’ ở biên trống xác thực như vậy).

Tiếp đến là ba vành “hoa văn” chữ viết nòng nọc vòng tròn-que bao quanh vành mặt trời-không gian. Ba vành này ở dạng chuyển động theo vòng tròn mang tính vận hành, sinh động tức sinh tạo. Ở trống này ba vành sinh tạo này diễn tả tứ tượng, tứ hành trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh. Tứ tượng ở các khoảng không gian giữa tia sáng còn mang ý nghĩa biểu tượng, tĩnh tại chưa phải là sinh tạo thực sự. Ở vùng này tứ tượng trở thành tứ hành dưới dạng sinh tạo hoạt động năng động, vận hành, chuyển hành mãi mãi không ngừng, vô cùng vô tận, vô thủy vô chung, không đầu không đuôi vì thế dược diễn tả bằng những chữ nòng nọc chuyển động theo vòng tròn. Vùng tứ hành chuyển hành bao gồm bốn hành, thường hành ứng với khuôn mặt chủ của trống được khắc trong cùng nhất, gần mặt trời nhất nghĩa là ở vị trí hàng đầu gần sát mặt trời.

Những vành sinh tạo vận hành.

.Vành 1

Trên trống Hữu Chung này ta thấy rõ vành 1 sát thượng thế bọc vũ trụ mặt trời-không gian gồm: ở giữa làhai chui sóng gy do hai nc mũi mác nh nét chồng lên nhau tạo thành hình rặng núi tháp chuyển hành diễn tả Li vận hành, sinh tạo. Hai bên sóng núi tháp Li là hai vành nhỏ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) hình tam giác đặc (đen) biểu tượng lửa thái dương Càn.

Như thế vành này diễn tả Li Càn vận hành.

.Vành 2

Vành hình sóng hai nòng vòng tròn đồng tâm có chm nc tâm vi hai tiếp tuyến. Chuyển động hình sóng có một nghĩa giản dị là sinh tạo sinh động. Hai tiếp tuyế nlà hai nọc thái dương. Hai vòng tròn là hai nòng, hai âm, thái âm có một khuôn mặt là nước. Chấm nọc mang dương tính lửa. Như thế vành sóng hai vòng tròn đồng tâm có tiếp tuyến kép có chấm nọc lửa mang nghĩa sóng nước dương, nước chuyển động sinh động ứng với hành nước Chn ngành thái dương .

.Vành 3

Vành 3 là vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược), theo duy dương, mang nghĩa không gian dương khí gió ứng với hành gió Đoài.

Vậy ba vành sinh tạo này biểu tượng Li, Càn, Chấn, Đoài vũ trụ dưới dạng tứ hành vận hành. Tuy vùng tứ hành này diễn tả khác với ở trống Ngọc Lũ I nhưng vẫn có một khuôn mặt mang trọn vẹn ý nghĩa triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh.

Mặt trời Chấn/Cấn-có không gian tứ tượng, tứ hành sinh tạo cho thấy trống này có một nghĩa sinh tạo, tạo hóa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là trống Lạc Long Quân-Âu Cơ thế gian sấm-núi có một khôn mặt sinh tạo đội lốt Thần Nông-Viêm Đế ở cõi tạo hóa.

  1. Cõi Giữa, Trung Thế.

Trung Thế là cõi giữa nhân thế gồm có vùng đất và vùng nước. Vùng đất là phần mặt trống còn lại và vùng nước là tang trống.

-Vùng Đất.

Trung Thế là cõi giữa nhân thế gồm có vùng đất và vùng nước. Vùng đất là phần mặt trống còn lại và vùng nước là tang trống.

-Vùng Đất.

  1. Đất dương

.Vành 4

Vành này là vành hình sóng mũi nhn, mũi tên chuyển động diễn tả nước thái dương Chấn vận hành.

Vành sóng này có 12 hình sóng nhọn đầu. Số 12 là số Cấn tầng 2. Ta thấy rõ có khuôn mặt hôn phối Cấn-Chấn ở đây.

.Vành 5

Trống này có mặt trời 12 nọc tia sáng là trống thế gian nên vành 5 diễn tả cảnh người thể điệu hóa. Lưu ý số 5 là số Li, Lửa thế gian biểu tượng cho vùng đất dương thế gian nên vành 5 có hình người rất chí lý.

Người trên trống Hữu Chung.

Người trên các trống muộn ở dưới dạng thể điệu hóa. Các nhà khảo cổ học hiện này thường cho là người hình chim, tức là người mặt trời.

Phía trước trang phuc đầu có hình nọc thẳng đứng cong đầu diễn tả nọc âm thái dương. Phần chính trang phục đầu ở đây trông giống hình chữ S tức hình sóng nước, hình con rắn. Các sọc nghiêng ngang diễn tả nước ở cõi bằng thế gian, các chấm nọc lửa cho thấy đây là lửa nước Chấn. Tng cng có 39 người. Số 39 là số Càn tầng 5 (7, 15, 23, 31, 39). Con mắt vòng tròn có chấm cũng có một nghĩa là mặt trời ăn khớp với lửa Càn. Như vậy người chim ở đây là người chim thái dương Càn-thái âm Chấn ở dạng lưỡng hợp thái dương thái âm đại vũ trụ. Điểm này cũng thấy rõ qua hình chữ S. Như đã nói ở trên, theo duy âm, sóng chữ S nước thái âm chuyển hành. Theo duy dương sóng chữ S là tia chớp lửa thái dương Càn. Nước thái âm (mưa) Chấn liên tác với lửa thái dương (chớp) Càn tạo ra sấm. Sấm có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa.

Ch S trong Trng Vũ Tr hay Đĩa Thái Cc.

Nghĩa của hình chữ S này thấy rõ qua hình chữ S trong đĩa thái cực chuyển vận hòa hợp hai yếu tố âm dương đối nghịch. Mặt phía đen âm, S là sóng nước. Mặt phía trắng, dương, S là sóng lửa chớp. Chữ S này mang tính nòng nọc (âm dương) sinh tạo, sinh động. Vì thế chữ S này được coi là một biểu tượng của nước-lửa, chớp mưa, của sấm (Williams C.A.S). Chữ S trong đĩa thái cực có thể coi là sấm big bang do nòng nọc, âm dương, nước-lửa liên tác lúc khai thiên lập địa. Nếu nhìn dưới khía cạnh này, những người thể điệu hóa ở đây có hình chữ S rất cường điệu ở trang phục đầu có thêm một khuôn mặt nước lửa nguyên thể của Sấm. Những người này có mt khuôn mt người tc sm-mưa ứng với Chấn Lạc Long Quân.

Nhìn kỹ cổ người nghiêng nghiêng cũng mang âm tính ngả về phía cổ rắn cong.

Phía sau đầu có hình chiếc sừng hình hơi gợn sóng chữ S nằm. Chiếc sừng mang nghĩa thái dương âm.

Tóm lại người thể điệu hóa ở trống Hữu Chung này mang khuôn mặt Chấn thái dương rắn sừng (rắn Việt) ngành lửa thái dương. Nhìn dưới dạng nhất thể là lửa vũ trụ-nước vũ trụ, là chớp-mưa, là sấm, là người tộc sấm mưa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là người của đại tộc mặt trời nước Lạc Long Quân Quân-Âu Cơ, Rồng-Tiên có một khuôn mặt sấm mưa.

Có s hin din ca người tc sm mưa thì trng này là trng sm mưa mt trăm phn trăm.

.Vành 6

Vành này là vành hỗn hợp có 10 hình cò bay và 2 hình dóng sm, búa thiên lôi thường gọi sai là ‘hình trâm’ (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

.Cò

Ta đã biết cò có mỏ dài mang dương tính và sống ở bờ nước mang âm tính, tức dương của âm, tức thiếu âm nguyên thể của khí, gió. Vì thế cò là chim biểu tượng cho khí gió (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt cò bay là chim biểu Cò Lang của liên bang Hùng Vương có một khuôn mặt sinh tạo là bầu trời, gió thế gian sinh ra từ bọc trứng thế gian. Cò Lang Gió thuộc đại tộc Cò Gió Bạch Hạc, Phong Châu, Hùng Vương (xem Chim Lạc Hay Cò Lang?).

Cò bay theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời liên hệ với mặt trời, vua mặt trời (Hùng Vương). Đây là trống mặt trời thế gian có 12 nọc tia sáng nên cò bay có một khuôn mặt biểu tượng cho bầu trời thế gian.

Xin nhắc lại cò là chim Việt biểu tượng cho bầu trời gió thế gian. Tất cả các vật tổ Việt đều có nghĩa là Việt (roi, vọt, nọc, vớt, rìu, búa, mặt trời có gốc nguyên thủy là nõ, cọc, bộ phận sinh dục nam) như chim Việt (chim rìu, mỏ cắt), Hươu Việt (hươu cọc, hươu sừng, mang gạc muntjac), cá sấu Việt [sấu dao gavial, gharial, cá gạc, (Hán Việt ngạc). Cò biến âm với cồ, cu, kì (con cò là co, cò kì, cò kèo, con cọc)]. Cò là chim Việt cõi trời thế gian.

Chỉ mới nhìn thoáng qua, trực giác cho ta biết ngay những con cò này bay cùng chung một vành với các hình dóng sấm, búa thiên lôi (thunderbolts) thì chúng phải có một khuôn mặt liên hệ với sấm.

Mười con cò bay xen kẽ với 2 hình dóng sm, búa thiên lôi (‘hình trâm’), mỗi nhóm 5 con. Số 10 là số Khảm, OIO, nước O thiếu âm IO. Khảm hôn phối với số 5 Li, IOI, lửa I thiếu dương OI (Kì Dương Vương, Li có vợ là Thần Long, Khảm). Lửa nước, chớp mưa tạo ra sấm. Như thế 10 con cò bay này có một khuôn mặt sấm cõi trời thế gian.

Bây giờ ta hãy mổ xẻ con cò trên trống này.

Cò có mỏ thon dài hơi cong lên mang âm tính nghiêng về cò nước.

Cò trên trống Hữu Chung.

Bờm cụp xuống che cổ như mũ che mưa. Mắt âm có hai vòng tròn thái âm nước. Cánh có những hình sóng nước gẫy là sóng dương, sóng động là nước chuyễn động, ở cõi trời là mưa. Hai đầu cánh có hai chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) > có một nghĩa là dương, hai chữ > là hai dương, là thái dương, lửa. Như thế cánh cò là lửa-nước, chớp mưa tức sấm.

Ở cổ có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình con diều hay con nòng nọc.

Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que sấm hình cánh diều hay con nòng nọc trên cổ cò ở trống Hữu Chung.

Đuôi nòng nọc cong vì hợp (accord) với đầu nước âm là nọc lửa, là tia chớp.

Hình con diều nòng nọc mang tính nòng nọc, âm dương sinh động này diễn tả sấm chuyển động bốn phương trời. Đây là một hình ngữ, một chữ viết nòng nọc vòng tròn-que diễn tả sấm. Thật vậy, khi so sánh với Hán tự dìan có nghĩa là chớp, điện,

Ta thấy rất rõ chữ dian, điện, chớp ruột thịt với hình chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ‘con diều hình con nòng nọc’ trên cổ cò. Chớp là phần dương của sấm. Về sau chữ diàn, chớp này cắt bỏ đuôi thành chữ đingộp với  (vũ, mưa) tạo thành chữ lei (lôi, sấm).

Như thế rõ như ban ngày con cò trng Hu Chug này trăm phn trăm là cò sm mưa. Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình con diều sấm mưa ở cổ cò chính là tên con cò.

Tóm lại 10 con cò bay trên trống này là cò sấm mưa cho biết trống là trống sấm mưa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, cò sấm là chim biểu của Lạc Long Quân có một khuôn mặt sấm mưa.

Đây là một loại cò Lc, con cò Lạc này có khuôn mặt sấm mưa.

Xin nhắc lại cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương có nhiều loại cò. Cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là Cò Lang, không phải là Cò Lạc. Các nhà làm văn hóa Việt Nam hiện nay lấy hình Cò Lang trên trống Ngọc Lũ I dùng là logo gọi là Chim Lạc là sai trăm phần trăm. Cò trên trống Hữu Chung thuộc chi cò Lạc tộc Lạc Việt Lạc Long Quân của đại tộc Cò Hùng Vương.

Có s hin din ca cò sm, trng Hu Chung trăm phn trăm là trng sm.

.Dóng sm, búa thiên lôi.

Cùng vành với cò có hình hai dóng sấm, búa thiên lôi, lưỡi tầm sét (Phạn ngữ vajras, thunderbolt), hiện nay các nhà khảo cổ học gọi lầm là ‘vật hình trâm’ (Dóng Sấm hay Búa Thiên Lôi).

hc-ds

   Dóng sm hay búa thiên lôi trên trng Hu Chung.

Dóng sấm này là loại thể điệu hóa có bốn hình vòng tròn kép nước có chấm nọc dương và có vòng các chấm nọc lửa vũ trụ bao quanh, gộp lại là nước-lửa sinh tạo vũ trụ có một nghĩa là sấm. Đây là dạng thể điệu hóa của dóng sấm kép chữ thập.

Búa thiên lôi chữ thập mang nghĩa bao hàm ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh năng động hàm chứa ý nghĩa liên hệ tới Tứ Tượng, Bốn Nguyên Sinh Động Lực Lớn, Tứ Phương trời, Bốn Hướng đất, sấm sét “chuyển động bốn phương trời” ăn khớp với con cóc nghiến răng chuyển động bốn phương trời.

Có s hin din ca dóng sm, búa thiên lôi, trng Hu Chung trăm phn trăm là trng sm mưa Chn.

  1. Đất âm

.Vành ch viết nòng nc vòng tròn-que biên trng.

Ngoài biên trống có ba vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (‘hoa văn’) 5, 6, 7 gồm hai vành 5 và 7 hình đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) nc âm thái dương kẹp vành 6 vòng tròn kép có chấm có tiếp tuyến kép ở giữa. Ở đây tiếp tuyến kép diễn tả hai nọc que tức thái dương. Vành này diễn tả nước Chấn ngành thái dương.

Vành 5 và 7 là vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) có một nghĩa là nọc âm thái dương.

Ba vành này cho biết trống có khuôn mặt Chn nhánh nc âm thái dương mang tính ch.

.Tượng loài lưỡng cư.

Mé trống có bốn hình tượng loài lưỡng cư cóc/ếch.

.Tượng loài lưỡng cư.

Mé trống có bốn hình tượng loài lưỡng cư cóc ếch.

Tượng cóc/ếch trên trống Hữu Chung.

Cóc ‘nghiến răng chuyển động bốn phương trời’, con cóc là ‘Cậu ông trời sấm sét Lạc Long Quân’. Con ếch kêu mưa (ch kêu uôm uôm, ao chuôm đy nước). Trống này là trống sấm mưa xác thực bởi cò sấm mưa, dóng sấm búa thiên lôi, vân vân…

Các con cóc/ếch ngoài nghĩa sấm mưa thấy qua chữ viết nòng nọc vòng tròn-que uốn khúc vuông góc sấm gầm tên đùi, còn mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh. Vì thế trống này mang thêm biểu tượng tín ngưỡng vũ trụ giáo không phải chỉ đơn thuần là liên hệ với sấm, mưa như thấy rõ qua hình thái tứ tượng và các vành tứ hành ở trên. Sấm mưa ở đây mang nghĩa sinh tạo không phải đơn thuần là trống mưa, trống ếch để cầu mưa làm ruộng. Trống Hữu Chung mang thêm khuôn mặt sinh tạo như đã thấy ở trên.

-Vùng nước

Vùng nước là phần phình tang trống (trông như một vật đựng nước).

Trống Hữu Chung, nhìn ngang (Nguyễn Văn Huyên).

Tang trống có những hoa văn chữ viết nòng nọc vòng tròn-que gồm 2 vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) nọc âm thái dương kẹp giữa hai vành vòng tròn kép có chấm có tiếp tuyến đơn lửa-nước, mặt trời nước Chấn vận hành. Ở đây cũng có sự biến thể là có thêm một vành Chấn vận hành vòng tròn kép có chấm có tiếp tuyến và tiếp tuyến là tiếp tuyến đơn, khác với ở biên trống.

Chủ điểm của tang trống là những hình thuyền.

Hình ba con thuyền trên trống Hữu Chung (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 Dưới các vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là 6 chiếc thuyền to nhỏ xen kẽ nhau (khác với các con thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có cùng một cỡ như nhau). Ta lại gặp lại con số 6 như phần lớn ở các trống thuộc nhóm trống Ngọc Lũ I. Số 6 là số lão âm gồm 2 (lưỡng nghi) + 4 (tứ tượng) mang nghĩa sinh tạo phía âm (thuyền, nước). Vậy 6 con thuyền này không phải là những con thuyền thế tục dùng chuyển vận. Thuyền na ná giống thuyền ở trống Quảng Xương (Một Chương Sử Đồng…) có đầu cong hơn đuôi. Đầu thuyền là hình một con vật sống dưới nước rất thể điệu hóa dưới dạng rắn có sừng (một thứ thuồng luồng, Rắn Việt). Ta biết rõ là con vật sống dưới nước vì có con mắt âm là vòng tròn kép đồng tâm có nghĩa là nòng nước. Con vật há miệng rộng. Trên đầu có sừng và hình bờm như hình trang phục đầu chim của những người trên mặt trống. Con vật này sống dưới nước và thân có hình thuyền là loài rắn nước khổng lồ (anaconda), theo duy dương (vì có sừng) là vật biểu của Chấn. Trước hết bờm chim cũng giống như ở thuyền Ngọc Lũ I cũng mang biểu tượng tứ hành: những hành chấm nhỏ là nọc lửa Càn, những sọc xéo song song là lửa nước chuyển động trong không gian Chấn, hình trụ thẳng trong có phụ đề các chấm nọc lửa là đá trụ chống trời Li và tua trên đầu trụ này là gió Đoài.

Ngoài ra bờm chim và rắn nước là dạng lưỡng hợp âm dương chim rắn Tiên-Rồng dưới dạng nhất thể.

Dạng rắn-chim nhất thể ở đây là dạng thể điệu hóa, thần thoại hóa của dạng lưỡng hợp Chim-Rắn tức là dạng muộn (trống Hữu Chung thuộc loại trống đã hơi muộn, loại C I 1 theo cách xếp loại của Việt Nam). Dạng này khác với dạng lưỡng hợp còn ở dạng riêng rẽ là chim dương, lửa mỏ rìu nằm trong miệng rắn nước thấy ở các đầu thuyền trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng.

Đầu thuyềnh chính là hình ảnh Rắn-Lông Chim Quetzal Coatl của Aztec và Kukucan của Maya. Tôi đã chứng minh là có sự tương đồng giữa truyền thuyết và cổ sử Việt với Aztec và Maya (xem các bài viết này).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, là dạng lưỡng hợp Âu Cơ-Lạc Long Quân, nhưng nòng nọc, âm dương rắn-chim còn quyện vào nhau dưới dạng Trứng Vũ Trụ, Thái Cực. Vì có mang di thể  kết hợp Trứng Vũ Trụ này mà Mẹ Tổ Âu Cơ đẻ ra bọc Trứng Thế Gian sinh tạo Lang Hùng.

Đuôi thuyền trống Hữu Chung.

Đuôi thuyền, phần đầu dưới tay chèo to mang khuôn mặt chủ có hình cánh chim có chữ vòng tròn kép đồng tâm là hai nòng, thái âm, nước (là “bồ” thái âm) và hai gạch (=)  là hai nọc dương, có nghĩa là lửa thái dương (là nọc, là bổ). Đọc gộp lại là dương của âm là thiếu âm, khí gió, bổ nông. Trên tay chèo còn có một đường các chấm nhỏ lửa và phía dưới có những sọc xéo không gian gió cũng cho biết tay chèo là tay chèo thiếu âm, bổ nông. Phần đầu trên tay chèo hình đầu chim mang dương tính vì có con mắt dương vòng tròn có chấm (mặt trời, lửa) và sừng hình túi sọc nước mang âm tính. Đây là đầu chim thiếu dương, lửa đất, bồ cắt. Đuôi thuyền có thêm tay lái phần dưới nằm sát đáy thuyền hình gẫy khúc. Đầu tay lái cũng có đầu là chim bồ cắt và phần dưới là đầu bổ nông. Ở đây ta lại gặp lại dạng kết hợp âm dương bổ nông bồ cắt như đã thấy ở đuôi thuyền trên trống Ngọc Lũ I.

Đầu thuyền lưỡng hợp chim lửa-rắn nước nhất thể thái dương-thái âm (đã bắt đầu thần thoại hóa) ở cõi đại vũ trụ và đuôi thuyền lưỡng hợp chim bồ cắt-chim bổ nông, thiếu dương-thiếu âm ở cõi tiểu vũ trụ, người mặt trời-không gian.

Như đã nói ở trên hình thuyền ở đây na ná giống hình thuyền trên trống Càn Khôn Quảng Xương. Hai điểm khác biệt mấu chốt là ở đây trống mặt trời có 12 nọc tia sáng có khuôn mặt Chấn mang tính chủ vì có các tượng cóc sấm mưa ở ngoài mé trống. Vì thế con mắt con vật rắn-chim khởi đầu của quá trình thần thoại thành linh vật ở đầu mũi thuyền là con mắt âm hai vòng tròn kép đồng tâm nòng nước trong khi ở trống Quảng Xương mặt trời 8 nọc ánh ánh Càn Khôn nên con mắt con vật thần thoại ở đầu mũi thuyền là con mắt dương vòng tròn có chấm.

Trên thuyền có những trang phục đầu hình rắn-chim thể điệu hóa như trên mặt trống. Những hình này xếp thành hai hàng ở vị thế một hàng người đứng và một hàng người ngồi. Theo hình vẽ ba con thuyền ở trên, một thuyền có 12 người, số 12 Cấn tương giao với Chấn (Lạc Long Quân Chấn với Âu Cơ Cấn núi thế gian); thuyền thứ hai có 14 người đứng và ngồi, số 14 là Tốn tương giao với Chấn (Lạc Long Quân  Chấn với Âu Cơ Tốn sinh tạo) và thuyền thứ ba có 15 người, hàng đứng 8, hàng ngồi 7, số 15 là Càn thế gian… Rất tiếc không có hình vẽ chi tiết của ba con thuyền còn lại. Dù sao thì ở đây ta cũng thấy mỗi con thuyền tiêu biểu cho một tộc, một diện trong Vũ Trụ giáo. Hai thuyền 12 và 14 người thuộc dòng Lạc Long Quân-Âu Cơ.

  1. HẠ THẾ

Chân trống có ba vòng tròn đường chỉ nhỏ. Ba vòng tròn là ba nòng OOO, Khôn, ở đây là Khôn cõi âm. Ngoài ra chân trống không có trang trí nào khác, nên còn giữ được chính thống.

  1. THÂN TRỐNG

Thân trống hay eo trống là Trục Thế Giới nối liền ba cõi.

Thân trống có những vành hoa văn thẳng đứng giống như ở tang trống chia trụ trống ra nhiều ô chữ nhật, bên trong có hình người chim-rắn thể điệu hóa như ở trên mặt trống, trên thuyền, xếp thành ba hàng. Thật vậy theo hai hình vẽ ở một ô, mỗi hàng có 5 người, 5 là Li; một ô mỗi hàng có 6 người. Sáu là Tốn tương giao với Chấn. Rất tiếc là không có hình vẽ ô thứ ba.

Hình người rắn-chim thể điệu hóa trê thân trống Hữu Chung (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Dưới cùng của thân trống là hai vành sóng hai vòng tròn đồng tâm có chấm nước-lửa  chuyển động nằm giữa hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) âm thái dương mang  nghĩa Chấn thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là mặt trời nước Chấn Lạc Long Quân.

Kết Luận

Đây là trống mặt trời Chấn-Cấn 12 nọc tia sáng nọc thiếu dương ngành nọc thái dương  thuộc nhóm trống cóc/ếch, có một khuôn mặt chủ là sấm mưa. Hình tượng cóc sấm có chữ viết nòng nọc vòng tròn que diễn tả trọn vẹn vũ trụ tạo sinh cho biết trống còn có thêm một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa nữa.

Trống đã hơi muộn vì đã thể điệu hóa nhưng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que vẫn còn giữ được ngữ pháp chính chuyên.

Ta rút ra được qui luật sau đây về nhóm trống sấm mưa trong nhóm trống cóc/ếch.  Thường thường trống sấm mưa phải có một vài trong các những yếu tố sau đây:

-/ Trống có mặt trời 12 tia sáng Chấn/Cấn. Chấn ở đây có một khuôn mặt là sấm (Chấn vi lôi). Cấn có một khuôn mặt là núi non. Ta thấy đúng theo truyền thuyết nói là ông thần sấm (Chấn) có nhà ở đầu non (Cấn) trăm phần trăm.

-/ Bốn tượng cóc có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que sấm gầm trên đùi có một khuôn mặt biểu tượng cho sấm.

– Hình dóng sấm, búa thiên lôi.

-/ Những con cò sấm mưa.

-/ Những người hóa trang thể điệu hóa rắn-chim, có một khuôn mặt sấm mưa, thuộc tộc Mặt Trời Nước, Thần Sấm Mưa ứng với Lạc Long Quân.

-/ Những vành chữ nòng nọc vòng tròn kép có chấm mang nghĩa Lửa (chấm) Nước (hai vòng tròn đồng tâm) có một nghĩa là sấm mưa.

Những trống như trống Hữu Chung có tất cả các yếu tố trên thì trăm phần trăm là trống sấm mưa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Nam đây là trống họ mặt trời Hồng Bàng ngành Thần Nông, nhánh Lạc Việt Lạc Long Quân với khuôn mặt Sấm mưa sinh tạo.

Ta có những hệ luận như sau:

-Trống có hình

.Dóng sấm, búa thiên lôi, 100% là trống sấm.

.Cò sấm mưa trăm phần trăm là trống sấm.

.Tượng cóc có chữ sấm gầm: 100% trống sấm mưa.

.Mặt trời Chấn/Cấn 12 nọc tia sáng, hơn 80% là trống sấm.

.Trống có tất cả các yếu tố trên CHẮC CHẮN trăm phần trăm là trống sấm mưa.

Nhìn từ xa, thấy một trống có tượng cóc ếch tôi có thể đoán chắc là trên 80% trống đó là trống có mặt trời 12 nọc tia sáng Chấn/Cấn, trống Sấm ở đầu Non (Lạc Long Quân Chấn có “nhà” Âu Cơ ở đầu Non).

Lưu Ý

Xin nhắn nhủ các bà các cô mặc áo trống đồng nên tránh hình mặt trời có 12 nọc tia sáng, nếu không, sẽ trở thàng một bà, một cô… thiên lôi!

TỔNG KẾT

Tống Hữu Chung là trống mặt trời 12 nọc tia sáng nọc thiếu dương Chấn/Cấn nhánh nọc âm thái dương, sấm mưa đầu non có một khuôn mặt sinh tạo.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống sấm mưa Lạc Long Quân ở đầu non Âu Cơ.

(tiếp theo)

About these ads

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: