ĐẠO MẶT TRỜI CỦA BÁCH VIỆT (PHẦN 1).

ĐẠO THỜ MẶT TRỜI CỦA BÁCH VIỆT.

(phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

Qua nhiều vài biết của tôi, chúng ta đã biết Đại Tộc Việt là Người Mặt Trời thái dương rạng ngời. Như thế hiển nhiên Bách Việt thờ phượng mặt trời. Xin tóm tắt nhắc lại vài điểm chính về Đại Tộc Việt Người Mặt Trời và đạo thờ mặt trời của Bách Việt đã viết.

-Về ngôn ngữ học:

Từ Việt biến âm với vọt (roi, nọc, que). Vọt có nghĩa phụ là vượt qua (dùng roi vọt đánh cho con vật đi nhanh vượt qua ‘qua mặt’ nên có từ vọt nhanh, vọt lẹ, dọt nhanh, dọt lẹ, máy xe rất vọt…), vượt qua chướng  ngại vật, vượt hơn lên (siêu Việt). Ta thấy nghĩa vọt, vượt của Hán Việt  Việt chỉ là nghĩa phụ có gốc từ Việt-vọt (roi, nọc).

Việt có một nghĩa là rìu. Với nghĩa ày Việt biến âm với vớt, con dào dài dùng làm khí giới. Vớt ruột thịt với vọt vì khí giới khởi thủy là một vật nhọn.

Tóm lại Việt có gốc ở từ thuần Việt vọt, vớt chỉ chung nọc, vật nhọn. Như thế Việt là Nọc mang trọn vẹn tất cả ý nghĩa của chữ Nọc Que (I), một trong hai chữ cái của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que. Nọc có gốc nguyên thủy từ bộ phận sinh dục nam (Việt Là Gì?).

Vì thế Việt là vọt, vớt có tất cả các nghĩa của chữ nọc que hay liên hệ với chữ nọc que phát gốc từ bộ phận sinh dục nam bao gồm các nghĩa: đực, dương, nam giới, vật nhọn, nọc, cọc, que, vọt, roi, cột, trụ, chầy, lao, giáo, mác, đòng nhọn, dao, búa, rìu, sừng, trống (nghĩa tổng quát), đường thẳng hay có góc cạnh, (ngành) nội, nét nhỏ, tinh tế, góc nhọn, đỉnh nhọn, góc vuông, chấm đặc, đôi khi là chấm hay vòng tròn trắng (với nghĩa trắng là ánh sánh, dương), số 1, số lẻ, mặt trời rạng sáng, mặt trời có nọc tia sáng, sáng (ngược với tối), chim có dương tính (cắt, cò, công, ó, ưng,  diều hâu…), thú có dương tính, thú có sừng, núi đỉnh nhọn (nổng, lĩnh), mầu đỏ, lửa, mặt trời (dương)…

Vì từ Việt dùng chỉ một đại tộc, một đất nước, một quốc gia, một liên bang thì bắt buộc phải có nghĩa theo triết thuyết vũ trụ quan, nhân sinh quan, tín ngưỡng nghĩa là Việt phải có nghĩa là mặt trời hay liên hệ với mặt trời. Đại Tộc Việt là Người Mặt Trời.

Điểm này cũng được tác giả Đỗ Ngọc Thành, trong bài viết giải thích về ý nghĩa của từ Việt, cũng chứng minh cho thấy có rất nhiều từ Việt trong Hán Việt. Tất cả các từ Việt này đều có nghĩa là mặt trời hay liên hệ với mặt trời (nhannamphi.com).

-Về văn hóa

Truyền thuyết và cổ sử Việt ghi rõ:

.Viêm Việt là dòng thần mặt trời Viêm Đế.

.Lang (Hùng) là con trai, trai tráng mặt trời.

.Hùng Vương là vua mặt trời dòng thần mặt trời Viêm Đế  tương tự như các vua Pharaohs Ai Cập cổ.

.Vật tổ của Đại Tộc Việt đều có nghĩa là nọc,Việt, mặt trời như chim mỏ rìu, chim cắt, chim khướng (chim mũ sừng  hornbill), chim chàng, chim lang (mling, mlang, Mê Linh) chim Việt; hươu sừng (Lộc Tục, Kì Dương), hươu Việt; rắn sừng, rắn Việt; cá cọc (cá sấu), cá Việt….

-Trang phục: nón thúng mặt trời cổ truyền của phụ nữ Việt và Ao-Naga, hình hoa thị, hoa cúc mặt trời nữ trên trang phục của Hai Bà Trưng, bà Triệu.

Bà Triệu với hình hoa thị, hoa cúc mặt trời thái dương nữ trên trang phục đầu, trên ngực và trên dải áo trên người voi (tranh dân gian).

Hoa thị, hoa cúc biểu tượng cho mặt trời thái dương nữ thấy ở các nữ vương, nữ thần dòng mặt trời cũng thấy ở Cận Đông, Ai Cập cổ, Nhật Bản… ví dụ:

Hoàng hậu Ramesses Meryetanum, Thebes có hình hoa cúc mặt trời nữ trên vú mang nghĩa dòng mặt trời thái dương nữ.

Hình hoa cúc 16 cánh biểu tượng cho thái dương thần nữ Amaterasu Nhật Bản.

Lưu ý số 16 cánh hoa tương ứng với 16 tia sáng đầu tròn mang âm tính của dòng nòng nữ. Đây là biểu tượng của mặt trời nữ thái dương (hoa biểu tượng cho cho nữ). Số 16 là số Khôn OOO tầng 3 ( 0,8,16) tức tầng nước thế gian có một khuôn mặt là  Nòng O thái âm OO Nước, theo duy dương là mặt trời Nàng Nước. Mặt trời Nàng Nước ứng với Vụ Tiên, Chim Le Le Nàng Nước, Mặt Trời Nữ Nước, mẹ tổ cõi trời thế gian của người Việt Nam. Thái dương thần nữ Ameraterasu của Nhật có một khuôn mặt mẹ tổ cõi trời thế gian của Nhật Bản  tương tự Vụ Tiên. Đây là lý do hoa thị hoa cúc cũng là biểu tượng cho thái dương thần nữ, mẹ tổ Âu Cơ , nữ vương (Bà Trưng), nữ tướng  (Triệu Ẩu) dòng mặt trời Hùng Vương, Viêm Đế.

-Tế thực

Những tế thực liên hệ với sự thờ phượng mặt trời của người Việt như tiết canh, xôi gấc, bánh dầy, bánh đa… (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

-Về khảo cổ học

Đồ đồng Đông Sơn có rất nhiều chứng tích của đạo mặt trời, thờ phượng mặt trời của Đại Tộc Việt:

.Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn luôn luôn có hình mặt trời nọc tia sáng rạng ngời ở tâm mặt trống có một khuôn mặt là trống biểu của ngành Viêm Việt Viêm Đế, của họ Hồng Bàng mặt trời, của Hùng Vương mặt trời…

.Người mặt trời ở trống Quảng Xương xem hình ở dưới).

.Lang (sói) mặt trời trống Miếu Môn I.

.Nhà mặt trời trên trống Quảng Xương.

.Những người thể hiện sự thờ phượng mặt trời trong những ngôi nhà nọc mặt trời trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống họ hàng.

Hai người đưa hai tay ra trước mặt tôn vinh mặt trời trong một giáo vụ tế lễ mặt trời trong một ngôi nhà mặt trời trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ.

Rõ hơn là ở thạp đồng Hợp Minh chỉ có một người ngồi đưa hai tay ra phía trước tôn vinh, cầu nguyện mặt trời, vũ trụ (nên không thể nói như một số tác giả cho rằng hai người trong ngôi nhà ở trên đang chơi trò “trồng hoa trồng nụ”).

Một người đang tôn vinh, cầu nguyện mặt trời, vũ trụ trên thạp đồng Hợp Minh.

.Chim Việt chim cắt biểu tượng cho mặt trời trên trống Duy Tiên và Ngọc Lũ I, trên vật đựng vỏ sò Điền Việt.

.Rìu Việt của Điền Việt (Nghệ Thuật Đồ Đồng Cổ của Vương quốc Điền).

Và còn nhiều nữa…

Bài viết này xác thực vững chắc thêm một lần nữa Đại Tộc Việt là Người Mặt Trời, thờ phượng mặt trời, theo đạo mặt trời. Cảnh thờ phượng mặt trời của Lạc Việt cổ còn vẽ lại rành rành trên vách đá Hoa Sơn (Huashan) ở Quảng Tây, Trung Quốc cách đây hơn 2.500 năm cùng thời với trống đồng nòng nọc, âm dương Ngọc Lũ I.

Phần đất nam Trung Hoa thuộc địa bàn cũ của Bách Việt có rất nhiều những hình vẽ trên đá (rock painting). Những hình vẽ này có từ Thời Tân Thạch ví dụ như ở Vân Nam tại hai tỉnh Mengsheng và Menglai, quận Canyuan, tỉnh Lincang có những hình vẽ cổ từ khoảng 3.000 năm trước đây. Hình vẽ thường diễn tả cảnh săn bắn, gặt hái cũng như những hình người nhẩy múa và đánh nhau…

Hình vẽ trên đá tại Mengsheng và Menglai (Memories of Mankind, Cultural Heritage of Yunnan, Ethic Acient Literature, Yunnan Fine Art Publishing House, 2005).

Lưu ý trong hình nhỏ ở góc trên trái có một hình người ở góc phải phía trên tay giơ cao mang hình ảnh đang tôn vinh mặt trời (xem dưới).

Nhưng hình vẽ được các học giả Trung Quốc cho là phần quan trọng nhất trong nghệ thuật vẽ trên đá của Trung Hoa (sic) và cả thế giới là ở trên vách đá Hoa Sơn bên bờ tây sông  Mingjiang, tỉnh Yaoda, quận Ningming. Hình vẽ ở Hoa Sơn là hình vẽ trên đá lớn nhất và nổi tiếng nhất trên thế giới.

Những hình vẽ này của người Lạc Việt cổ thuộc tộc Tráng (Zhuang), hiện ở  vùng đất tự trị của tộc Tráng ở Quảng Tây. Vùng nổi tiếng nhất là khu vách đá ở nhánh sông Zuo. Nổi tiếng về tính cách vĩ đại và có nhiều hình ảnh đầy nghệ thuật. Đây là tác phẩm bất tử về hội họa của tộc Lạc Việt Tráng cổ.

Hoa sơn còn được gọi là núi Thiên Nhân (Xianren) và người Tráng gọi là Laiz với nghĩa là núi với mầu sắc đẹp tuyệt vời. Cũng cần phân biệt Hoa Sơn ở đây khác với Hoa Sơn trong Ngũ Nhạc của Trung Hoa. Có giả thuyết cho rằng Hoa Sơn ở đây vốn gốc là Họa Sơn (núi có hình vẽ) về sau nói sai thành Hoa Sơn.

Từ Nam Ninh, chúng tôi dùng xe hơi tới Tuolong cách  Nam Ninh khoảng 110km rồi từ đó phải dùng thuyền đi ngược dòng  sông Zuo lên Hoa Sơn.

Ngược dòng sông Zuo (ảnh Michelle Mai Nguyễn).

Hình vẽ ở khu vục bên sông Zuo này rộng hơn 170 mét, cao hơn 40 mét trên vách đá dựng đứng bên dòng sông.

Có hơn 1800 hình vẽ nhìn thấy rõ và được chia ra 110 nhóm.

 

Hình vẽ trên vách đá ở bờ sông Zuo (ảnh của tác giả).

Hình vẽ bằng quặng đất có sắt hematite trộn với chất giao và máu có mầu đỏ máu. Hình phần lớn được nhìn từ một bên. Đa số người ở tư thế đầu gối khuỵu xuống, chân bẹt ra như đang ở tư thế đứng tấn trong võ thuật, hai tay giơ cao, hay đưa ra trước mặt (giống các người ngồi trong nhà mặt trời ở trống Ngọc Lũ I đã thấy ở trên đang tôn vinh, cầu xin mặt trời), bàn tay thường xòe ra thấy rõ năm ngón, chân đi đất, đeo gậy, đeo dao dài hay ngắn, rìu hay kiếm cùng với những hình thú vật như ngựa, chó, thuyền, chập chõa (timbales) và nhất là mặt trời.

Ở giữa hay phía trên mỗi nhóm có một người to lớn đeo dao hay kiếm, rìu ở ngang thắt lưng và có cả yên ngựa, mang vóc dáng của người lãnh đạo. Đám đông nhẩy múa,  vui chơi, hội hè tưng bừng…

Những hình vẽ cao trên vách đá cheo leo, hiểm trở này còn là một thắc mắc, một câu hỏi chưa tìm ra câu trả lời của các nhà khảo cứu là người Lạc Việt cổ làm cách nào mà họ có thể thể hiện được những hình vẽ này. Để vẽ, họ đã dùng dây đu tòng teng xuống vách đá? Họ làm giàn dưới sông? hay trên thuyền? Hay thuở đó con sông còn cách xa vách đá? vân vân…

Hình vẽ ở núi Hoa Sơn và vách núi bên sông Zuo do nhiều thời đại tích tụ lại, kể từ thời Chiến Quốc qua Tây Hán, Đông Hán (1.800-2.500 năm). Hình vẽ mỗi thời có một nét đặc trưng khác nhau. Những hình này ghi lại lịch sử của các tộc Bách Việt ở Nam Trung Hoa. Nhìn lên những  hình vẽ trên đá vĩ đại này con cháu Lạc Việt không những chỉ cảm nhận thấy được đời sống xã hội sống động của người Lạc Việt cổ mà còn đánh giá được đời sống tâm linh và quan niệm nghệ thuật của Lạc Việt Tráng cổ.

Những hình vẽ nầy cung cấp những chứng cứ rõ ràng và xác thực về lịch sử của Lạc Việt cổ đã biến mất. Bách Việt và Lạc Việt ở phía nam Ngũ Lĩnh đã tạo dựng nên một nền văn hóa huy hoàng và trở thành một phần quan trọng của văn minh Trung Hoa.

Hình vẻ trên đá ở Hoa Sơn đã ảnh hưởng quan trọng lên sự hình thành và phát triển đức tin, tín ngưỡng dân gian Trung Hoa. Chúng vẽ lại một cách sống động cảnh hiến tế của người Lạc Việt, diễn tả sự thờ phượng, lòng tin và ước vọng ….

(http://whc.unesco.org/en/tentativelists/5340/)

Phong thái các hình vẽ giống như các hình trang trí trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Có hình mặt trời trống giống trống đồng. Nếu đúng thì có sự hiện diện của trống đồng, của văn hóa của đại tộc Đông Sơn.

Hình trông giống trống đồng.

Chắc chắn không còn gì nghi ngờ nữa chúng được sáng tác bởi cùng một nền văn hóa của người Lạc Việt trong đó có tộc Tráng. Một vài khí giới Thời Đồ Đồng cũng đã đào tìm được ở đây. Người Tráng có rất nhiều trống đồng (sẽ có bài viết riêng về tộc Lạc Việt Tráng này).

http://www.roughguides.com/travel/asia/china/guangxi-and-guizhou/nanning/hua-shan-cliff-paintings.asp

Những hình vẽ này diễn tả lễ hội, tín ngưỡng, văn hóa mà các học giả Trung Quốc hiện nay cho là lễ hiến tế (sacrificial activity) nhưng họ không nói rõ là hiến tế người hay thú vật. Có lẽ họ không hiểu hay cố ý né tránh, không dám nói ra sự thật đây là cảnh tế lễ mặt trời của Đại Tộc Việt, Người Mặt Trời.

Theo tôi, đây đích thực là lễ thờ phượng mặt trời. Dù cho rằng đây là lễ hiến tế, kể cả hiến tế người đi nữa, thì lễ hiến tế cũng vẫn là một khuôn mặt chủ yếu của sự thờ phượng mặt trời. Ví dụ điển hình thấy rất rõ ở người Aztec Mỹ châu chẳng hạn. Đây là một chứng tích hùng hồn và kiên cố cho thấy người Lạc Việt thờ mặt trời và nói cho biết rõ Đại Tộc Việt thờ mặt trời.

Tôi xin giải đọc (decipher)  cảnh tế lễ thờ mặt trời trên vách đá Hoa Sơn này của Lạc Việt Tráng.

-Mặt trời

Hiển nhiên trong các hình vẽ này ta thấy rõ có sự hiện diện của mặt trời riêng lẻ hay một nhóm mặt trời. Các hình mặt trời này có vòng tròn bao quanh mang sắc thái của hình mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Thường có những nhóm người nhẩy múa bao quanh một hình mặt trời. Có khi nhóm người nhẩy quanh hình một mặt trời:

Nhóm người nhẩy vòng quanh hình vẽ một mặt trời.

hay quanh một nhóm nhiều mặt trời.

Nhóm người nhẩy vòng quanh tảng đá ở giữa có vẽ một nhóm nhiều mặt trời.

 

Lưu ý

.Dựa vào dáng của những người ở phía trước xoay ngang hướng về phía bên tay phải cho thấy nhóm người di chuyển theo chiều dương tức theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời. Họ đang nhẩy vũ điệu mặt trời. Cảnh này giống như những nhóm người nhẩy múa quanh mặt trời, theo chiều mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Có tác giả cho rằng trong các hình mặt trời này có hình là mặt trống đồng, tức có sự hiện diện của trống đồng.

.Nhóm mặt trời có hình mặt trời lớn chủ yếu nằm ở giữa.  Mặt trời này có tia sáng nằm trong vòng tròn và lại được bao quanh bởi một vòng tròn lớn ở ngoài. Ta thấy rõ vòng tròn lớn là không gian. Mặt trời lớn là mặt trời-không gian, vũ trụ, tạo sinh, tạo hóa, nòng nọc, âm dương. Các măt trời nhỏ gồm các tia sáng tỏa rạng mang tính nọc thái dương nằm trong vòng tròn cho thấy đây là loại mặt trời thái dương thuộc ngành nòng, không gian ứng với ngành nòng, khôn, Thần Nông. Mặt trời nòng âm thái dương này ăn khớp với tộc Lạc Việt (trong đó có tộc Tráng) thuộc ngành nòng Khôn Thần Nông, Lạc Long Quân.  Mặt trời vũ trụ và các mặt trời nhỏ (8  mặt trời nhỏ) xung quanh diễn tả một họ, một ngành mặt trời gồm mặt trời tổ và các mặt trời con cháu ứng với thần tổ mặt trời Viêm Đế, với Tổ Hùng  đội lốt thần tổ mặt trời Viêm Đế và các Hùng Vương truyền thuyết hay lịch sử (xem dưới).

Hiển nhiên không còn chối cãi gì được nữa với sự hiện diện của nhiều mặt trời này trong lễ hiến tế thì bắt buộc đây là một lễ hội hiến tế của người Lạc Việt cổ. Sự thờ phượng mặt trời này ăn khớp trăm phần trăm với sự thờ phượng trống đồng nòng nọc, âm dương có chủ thể mặt trời ở tâm trống của đại tộc Đông Sơn. Ngày nay một tộc cũng có trống đồng là tộc Yi ở Vân Nam vẫn còn giữ tục thờ mặt trời.


Hình biểu tượng mặt trời nhất thể, vũ trụ, thái cực của tộc Yi tại ngôi làng văn hóa sắc tộc ở Thẩm Quyến (ảnh của tác giả).

Mặt trời thái cực, vũ trụ của người Yi này diễn tả đúng trăm phần trăm chủ thể mặt trời (trụ) nằm trong vỏ không gian (vũ) ở tâm mặt trống nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

-Người mặt trời

Người mặt trời rạng ngời như đã thấy ở trên trống Quảng Xương:

Người mặt trời, trên trống Quảng Xương (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Người mặt trời cũng được ghi khắc lại trên đá ở bãi đá có khắc chữ cổ ở Sapa:

 

 

 

 

Người mặt trời nòng âm ở giữa hai chân có hình nòng hai vòng tròn có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Nhìn dưới diện Vũ Trụ Tạo Sinh thì đây là thần mặt trời nòng âm, nữ (nguồn: Lê Trọng Khánh, Phát Hiện Hệ Thống Chữ Khoa Đẩu Thuộc Văn Hóa Đông Sơn).

Người mặt trời nọc dương ở giữa hai chân có hình nọc cong mang hình ảnh một thứ rìu Việt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Nhìn dưới diện Vũ Trụ Tạo Sinh thì đây là thần mặt trời nọc dương, nam (nguồn: Lê Trọng Khánh).

Hai hình người  hay thần mặt trời này cho thấy họ mặt trời trong văn hóa Bách Việt chia ra làm hai ngành nòng nọc, âm dương. Vì thế khi nghiên cứu về văn hóa Bách Việt lúc nào ta cũng phải nhìn dưới lăng kính nòng nọc, âm dương tức Dịch lý. Ngoài ra ở đây cũng cho thấy rõ hai chữ cái vòng tròn Nòng và que Nọc trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que phát gốc từ bộ phận sinh dục nữ và nam.

Người hay thần mặt trời có mặt trời ba vòng tròn Khôn ở giữa háng liên hệ tới sinh tạo, mắn sinh ở Mường Hoa.

Những chứng tích này cho thấy Đại Tộc Việt là Người Mặt Trời, thờ phương mặt trời nên người Lạc Việt cổ Tráng thờ mặt trời là chuyện tất nhiên. Những hình người đứng ở tư thế đứng tấn trong võ thuật giơ hai tay lên cao mang hình ảnh cung nghinh, chào đón, tôn vinh, cầu nguyện mặt trời, thần mặt trời (xem dưới).

(còn tiếp)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: