GỐC CHỮ TRONG TIẾNG VIỆT.

(Bài hội luận tại Buổi Họp Mặt Văn Hóa Phong Châu Mở Hội Tiên Rồng tại San José, Bắc Cali, Hoa Kỳ Ngày 11 Tháng 9, 2010).

GỐC CHỮ TRONG TIẾNG VIỆT

Nguyễn Xuân Quang

 

Học ngoại ngữ ta thấy có nhiều ngôn ngữ có những gốc chữ (roots). Nhiều từ cùng xuất phát ra từ một gốc ví dụ như gốc Hy Lạp ngữ trong các danh từ y hoc Anh Pháp chẳng hạn, các từ như keratitis (sưng giác mạc, sưng màng sừng mắt), keratine (chất sừng), keratomy (cắt giác mạc), vân vân đều có cùng một gốc ‘ker-‘, sừng. Pháp ngữ “cerf’ là con vật có sừng tức con hươu cũng phát xuất từ gốc ‘cer-‘, ‘ker-‘, sừng. Con hươu đực được gọi tên theo chiếc sừng. Việt ngữ hươu, hưu, hiêu biến âm với hèo (cây que, cây roi như “nọc ra đánh cho năm mươi hèo”, hai từ “nọc ra” cũng cho thấy đánh bằng nọc, bằng hèo), Mường ngữ “hẻo” có nghĩa là húc (bằng sừng). Anh ngữ hươu đực (hươu đực hầu hết đều có sừng ngoại trừ nai cái reindeer có sừng) gọi là “hart”. Theo biến âm h=g (hồi = gồi),” hart” biến âm với “gạc”, sừng. Thoạt khởi thủy ngôn ngữ loài người chỉ giới hạn vào sự truyền thông dựa trên những nhu cầu căn bản của con người sau đó loài người tiến bộ, ngôn ngữ nẩy nở theo đòi hỏi của những nhu cầu mới. Những từ mới dĩ nhiên phát triển từ cái vốn ngôn ngữ cũ (hay vay mượn từ ngôn ngữ khác). Những ngôn ngữ cũ coi như là những gốc chữ. Nói cho cùng nếu chấp nhận con người tiến hóa từ loài đười (hominid) thì ngôn ngữ loài đười chỉ giới hạn vào những tiếng kêu, tiếng gọi tiếng hú. Từ những ngôn ngữ loài thú nguyên sơ này sau đó tiến hóa thành ngôn ngữ loài người. Thoạt khỏi thủy vì thế ngôn ngữ loài người cũng rất đơn sơ và giản dị. Như thế thì ngôn ngữ nào cũng có gốc chữ. Tiếng Việt cũng vậy.

Xin đưa ra một vài ví dụ :

.Gốc KE/QUE

-Ke:

bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhode, Từ Điển Việt-Bồ-La). Theo k=c=qu như kẽo kẹt = quẽo quẹt, ta có ke = que. Que, nọc (heo nọc), cọc (“Quân tử có thương thì đóng cọc, Xin đừng mân mó nhựa ra tay”, hay “Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không”, Hồ Xuân Hương), nói chung là vật nhọn biểu tượng cho bộ phận sinh dục phái nam, ví dụ Anh ngữ “penis” (dương vật) có pen-, bút, viết. Bút biến âm với bót, vót. Viết biến âm với vót, là cây que vót nhọn để vạch, để viết và với vọt là cây que.

-Kè:

cây que, cây cọc đóng ở bờ nước. Sau này đổ đá gọi là kè đá. Theo e=u như me = mụ, ta có kè = cừ. Đóng cừ là đóng kè. Đọc thêm hơi vào ta có cừ = chừ, chử. Hán Việt chử là bờ nước, bến sông, Chử Đồng Tử là cậu bé sống ở ven sông, Chử Xá là làng ở ven sông. Cây cọc, cây kè đóng ở bờ nước để cột thuyền, sau chỗ có cắm cọc cột thuyền trở thành bến nước, bến thuyền, Pháp ngữ “quai”, Anh ngữ “quay” bờ nước, bờ sông có cùng gốc kè của Việt ngữ. Anh ngữ “key”, vùng biển Caribean gọi là “cay” “caya” (vẫn phát âm là “ki”), cù lao, hòn đảo nhỏ, bến nước như Key West, Coco Cay ở Florida chẳng hạn cũng vậy.

-Kè:

Kè thấy trong từ đôi cò kè như “cò kè bớt một thêm hai”, ngày xưa đếm bằng cây que có khắc vạch. Que có khắc vạch coi như là các con số. Trả giá bằng các que khắc nên mới có câu cò kè bớt một thêm hai. “Cò kè” là từ ghép điệp nghĩa: “cò” cũng có nghĩa là “kè”. Con cò là con kè, con que, con nọc, con cọc, biểu tượng cho bộ giống phái nam.

-Kèo:

kèo nhà là cây cọc nhỏ có gốc kẻ, que. Giao kèo: ngày xưa giao ước bằng cách bẻ đôi một cây que có khắc đánh dấu mỗi người giữ một nửa để làm tin gọi là giao kèo.

-Kì:

Kì biến âm với kè, kèo. Núi Kì là núi Trụ chống trời, núi Trụ thế gian. Kì Lân có Kì là que, nọc tức con đực. Kì có cốt (host) là con Cọc tức con hươu sủa sừng hai mấu nhọn munjac (mang gạc) ((Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc); Lân biến âm từ “nang”, cái bọc, cái túi chỉ con cái (Nguyễn Xuân Quang, KQKTCSHV, 1999). Kì kèo giống như cò kè.

-Kè (palm)

Kè là loại cây có thân như cây que, cây cột thẳng đứng không có cành nhánh.

-Tre:

Tre cũng là loại cây thẳng tuột như cây que không có cành (chỉ có nhánh nhỏ). Theo tr= qu, như trái = quả, ta có tre = que.

-Kẻ:

kèo nhỏ (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị).

-Kẻ:

gạch bằng một cây que thẳng. Cây que dùng làm thước để gạch gọi là thước kẻ.

-Khẻ:

gõ bằng que gọi là khẻ như khẻ tay. Ngày xưa thầy cô thường dùng thước kẻ khẻ tay học trò.

-Kẻ:

là người như kẻ đó, chỗ ở như Kẻ Sặt, Kẻ Nhoi, Kẻ Trọng…

Đồn rằng Kẻ Trọng lắm cau,

Kẻ Cát lắm lúa, Kẻ Mau lắm tiền.

Kẻ biến âm với Kì có nghĩa là núi vì núi có hình trụ, là trụ chống trời. Cổ ngữ Việt nổng là núi biến âm với nống, que chống đỡ. Kẻ là tộc người ở vùng núi, vùng cao, tộc hươu (Nguyễn Xuân Quang, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, 1999).

-Ké:

cổ ngữ ké là gà như “trói thúc ké” là trói ghịt cánh gà.

-Kê:

Hán Việt kê là gà liên hệ với Việt ngữ ké, qué, gà.

-Ghè

đánh bằng que ví dụ ghè cho một trận. Theo gh=k như ghế = kê (vật để ngồi như như cái đòn kê), ta có ghè = kè, kẻ, que.

-Ghẹ:

ghẹ liên hệ với  kẻ, ke que, nọc: gà mái ghẹ là gà mái đến thời chịu nọc, chịu đực.

Anh ngữ con “hen” (gà mái) đến tuổi “ghẹ” là con “hen” đến thời chịu “cọc” chịu “cock”. Con ghẹ là con cua xanh có hai gai nhọn như hai cây que nhọn ở hai bên mai.

-Qué:

Theo k=c=qu, ta có ké = qué. Qué là gà như thấy qua từ ghép điệp nghĩa gà qué (xem Tiếng Láy và Tiếng Ghép Trong Tiếng Việt).

-Què:

người phải chống que, chống gậy, chống nạng mà đi.

-Quẻ:

cây que thăm.

-Vẽ:

theo qu = v như quấn = vấn, ta có que, quẻ = vẽ, khởi thủy dùng cây que vạch hình, ký hiệu,  hình sau gọi là vẽ. Vẽ có gốc que.

Pháp ngữ cerf, hươu sừng, Hy Lạp ker-, sừng, Pháp ngữ quai, bờ sông, bến nước, Anh ngữ key, Caribean cay đảo nhỏ dùng làm bờ nước, bến nước liên hệ với gốc ke, kè, kẻ, que của Việt ngữ.

. . . . . .

.Gốc CHỐC/ĐẦU

-Chốc: đầu

Chốc có nghĩa là đầu như thấy trong câu:

Ăn thì cúi chốc,

Kéo nốc thì than. (tục ngữ)

có nghĩa là khi ăn thì cắm cúi đầu xuống ăn, khi kéo thuyền (nốc là thuyền) thì than.

-Chốc, trốc:

trên, trước tiên, đầu tiên, đứng đầu:

Chốc có nghĩa là trên, trước tiên, hàng đầu ví dụ “ăn trên ngồi trốc” là ăn trên ngồi đầu, ngồi trước tiên.

-Trốt:

người Huế nói chốc là trốt.

-Chốc (favus): cứt trâu trên đầu.Chứng nấm mọc trên đầu trẻ gọi là chốc đầu, trông giống như cứt trâu nên dân dã cũng gọi là cứt trâu.

-Cốc, cộc:

dùng tay gõ lên đầu gọi cốc đầu hay cộc đầu. Với h câm ta có chốc = cốc. Người Bắc nói cốc đầu hay cộc đầu, Trung Nam gọi là cú đầu. Từ cú của miền Trung Nam liên hệ mật thiết với Phạn ngữ “kuta”, đầu, với Sumerian ngữ “gú” ‘head, forehead’ (c=g: cú = gú).

-Cốc:

Người Bắc cũng gọi vật dùng uống nước là cốc, Trung Nam gọi là ly. Có người cho là “cốc” do Anh ngữ “cup” mà ra. Ta thấy rõ cốc là do chốc (đầu) và “cup” là do “cap” (đầu). Thời thượng cổ con người thường dùng sọ làm vật đựng nước, uống nước. Phật giáo Tây Tạng La-Ma dùng những cốc bằng sọ người dâng vật cúng lễ. Ta có thể kiểm chứng thấy trong Trung cổ Thượng Nhật Nhĩ Man ngữ (Middle High German) “koft”, ‘drinking cup’, tuy nhiên vài khi cũng có nghĩa là sọ, đầu (hence sometime ‘skull, head’) (REW 8682).

-Tróc:

có nghĩa gốc là đầu: trúng ngay tróc, ngay chóc tức trúng ngay đầu.

Tróc nóc là phần đầu nóc nhà bị lật lên hay bay mất.

-Trọc:

Đầu không có tóc. Trọc lóc như câu “đầu trọc lóc bình vôi”. Lóc là gọt như lóc mía. Trọc lóc là đầu gọt hết tóc.

-Nóc:

phần trên đầu mái nhà. Theo ch = n như chũm = nũm, núm (cau), ta có chốc = nóc.

-Chóp:

trên đỉnh, trên đầu cùng chóp bu. Chóp biến âm của chốc.

-Chỏm:

phần đỉnh cao, đầu cao của núi, cây như chỏm núi, chỏm cây. Hiển nhiên có gốc liên hệ với đầu, chốc.

-Chòm:

phần đầu cây: chòm cây. Chòm biến âm với chỏm.

-Chùm, trùm:

phủ, che kín đầu như chùm, trùm khăn, mền.

Hiển nhiên trùm, chùm biến âm với chòm.

-Trùm:

đứng đầu như ông trùm xóm đạo, tên trùm tướng cướp.

Như trên.

-Chũm

phần chóp đầu trái cau gọi là chũm cau:

Vú em nhu nhú chũm cau,

Để anh bóp thử có đau không nào?

(ca dao).

Chũm biến âm với chùm, trùm.

-Chụp

phủ lên đầu, đội lên đầu như chụp mũ.

. . . . . .

.Gốc NA/NƯỚC

-Nã, lã:

nước ngọt.

-Nà:

ruộng nước.

-Nê:

bùn nước.

-Nác:

Cổ ngữ Việt nác là nước:

Trăm rác lấy nác làm sạch

(tục ngữ).

Người Huế còn dùng từ nác.

-Nắc:

Mường ngữ nắc là ruộng nước để gieo mạ:

Tháng tư vãi mạ xuống nắc,

Rắc mạ xuống nà.

(Hoàng Anh Nhân, t. I, tr. 157).

-Nát:

Trạng thái nhũn ra vì nhiều nước: ví dụ nấu cơm nhiều nước sẽ bị nát: “trên sống dưới khê, tứ bề nát bét”. Tan nát: cho vào nước tan ra.

-Nầm:

vú, mẹ, người cung cấp sữa. Nước là Mẹ của sự sống, cũng tiêu biểu và đồng hóa với mẹ, nữ, âm. Nước vì thế có giống cái. Rõ nhất qua anh ngữ các từ liên hệ với nước có giống cái ví dụ ship (tàu thuyền), nation (nước, quốc gia)… Nầm liên hệ với Thái ngữ “nàm” là nước như “nàm pla” là nước mắm.

-Nậm:

vật đựng nước, rượu.

-Nấm:

loài thực vật mọc ở chỗ ẩm ướt.

-Nấu:

đun chín thức ăn với nước như nấu cơm. Miền Trung dùng từ nấu cùng chung với từ luộc như “khoai nấu” là khoai luộc. Phần nhiều nấu có cho thêm các thực phẩm phụ vào. Nấu ngược với nướng.

-Nốc:

thuyền nhỏ, vật di chuyển trên nước.

-Nuốt:

tên gọi một loài sứa, thân gần như hoàn toàn nước.

-Nước:

chất lỏng, nguồn gốc của sự sống. Nước biến âm với Pháp ngữ nue, nuage (mây).

-Nước:

chỉ một quốc gia, chính phủ như nước Việt Nam. Một quốc gia có nguồn gốc nguyên thủy từ một bờ nước, một bến nước. Khi còn sống từng bầy, từng bộ lạc, con người thường phải tìm đến sống bên một nguồn nước. Rồi nếu tiện lợi, định cư lại luôn, lập thành xóm làng và bảo vệ vùng đất đó thành một quốc gia vì thế mà tên quốc gia gọi là nước. Tất cả những nền văn minh lớn của nhân loại đều xuất phát từ những dòng sông lớn. Anh Mỹ Pháp gọi nước là “nation” có gốc “na-“ nat-” , Đại Hàn ngữ nara là quốc gia, nước (nation), tất cả  liên hệ với Việt ngữ nã (nước), nát (tan, liên hệ với nước), có gốc na-, nước.

Gốc na/nước là một gốc thấy hầu hết trong ngôn ngữ của loài người vì sữa là một thứ nước dinh dưỡng đầu tiên của loài có vú . Nước là nguồn gốc của sự sống, là Mẹ của sự sống.  Ấn-Âu ngữ có gốc na- là nước như Phạn ngữ naus là tầu bè, Anh Pháp ngữ  ‘nation’, nước, quốc gia, nautic, thuộc về nước, navigation, thủy hành, navy, hải quân, Pháp ngữ nager, navir; Ainu ngữ gốc nai chỉ nước, dòng nước, Ai Cập có nahar, sông, có con sông chính là sông Nile (Nai)…

Biến âm n= d như năm = dăm.

Ta có nầm, nậm = dầm

Dầm:

Ngâm nước, chất lỏng.

Biến âm n= đ như này = đây

ta có. Nác = đác

-Đác:

cổ ngữ Việt có nghĩa là nước liên hệ với tiếng Mon “dak”, nước. Darlac chỉ chỗ ở bên hồ nước. Dak Tô: Nước Vú tức sữa. Theo n=đ ta có nác = đác.

-Đước:

loài cây mọc dưới nước. Theo đ=n, ta có đước = nước.

-Đà:

Đà cũng có nghĩa là nước. Sông Đà, Đà Rằng có thể hiểu là sông Nước. Đà Nẵng có từ Đà có nghĩa là nước. Danube cũng có nghĩa dòng nước.

-Đá:

nước đông cứng lại.

-Đê:

vật ngăn nước tràn ra.

-Đầm:

vùng đất thấp có nước.

-Đầm:

ngâm trong nước như trâu đầm.

-Đầm đìa:

nhiều nước.

-Đẫm

sũng nước.

-Đập:

vật chặn nước.

Biến âm n=l nòng = lòng (súng).

Ta có nã = lã.

-Lã:

nước ngọt.

-Lác:

cỏ mọc dưới nước dùng đan giỏ, dệt chiếu. Theo n=l, ta có nác = lác.

-Lác:

chứng nấm mọc ở chỗ da ẩm ướt như lác đồng tiền.

-Lạc:

ruộng nước, lạc điền. Dân làm ruộng nước gọi là Lạc dân. Lạc Long Quân: Vua Rồng Nước của dân Việt ruộng nước Lạc Việt. Lạc có nghĩa là nước dương, nước lửa (xem Giống Đực, Giống Cái Trong Tiếng Việt).

-Lạc:

đậu phọng. Đậu ép ra nước đốt đèn. Dầu lạc là một thứ “nước lửa”.

-Lác đác

mưa lác đác là mưa lưa thưa vài hạt. Lác liên hệ với nước và đác là nước.

-Lạt, nhạt:

do có nhiều nước.

-Luộc:

Nấu thức ăn với nước không cho thêm gì cả. Luộc biến âm với nước (l=n).

Biến âm n=ng như nơm nớp = ngơm ngớp (lo).

Ta có nậm =  ngâm.

Ngâm: dìm mình xuống nước.

Biến âm n=t như nâng niu = tâng tiu.

Ta có nát = tát.

-Tát

đem nước vào ruộng hay làm cạn nước ao đầm.

-Tạt:

hất nước vào như tạt nước vào ai, mưa tạt vào nhà.

-Tắm

nhúng người vào nước.

. . . . . .

Tôi xin dừng lại ở đây, nếu muốn viết hết thì phải viết một cuốn từ điển về gốc chữ Việt mới đủ.

Qua những hiện tượng đặc thù  về Biến Âm Lịch Sử và Chữ Câm, ngôn ngữ Việt có thể chuyển hóa qua tất cả các nguyên âm và phụ âm, như thế  ngôn ngữ Việt từ một gốc chính có thể chuyển hóa qua nhiều gốc phụ. Nói một cách tổng quát cho dễ hiểu là nếu Việt ngữ có bao nhiêu âm, bao nhiều vần, vận, bao nhiêu dấu giọng, bao nhiêu mẫu tự thì có bấy nhiều gốc cùng một nghĩa. Ví dụ nếu cho rằng Việt ngữ có khoảng trên dưới 24 chữ cái (mẫu tự) và nếu nói về nước thì sẽ có khoảng chừng trên dưới 24 gốc nước như sau:

-Gốc a- (ă, â-) là nước hay liên hệ với nước như ách là tiếng nước kêu (óc ách);  ảng là vật đựng nước; ao là hồ nước nhỏ; át là ướt (ướt át); ẩm là có nước; ấm là vật nấu nước…. . .

-Gốc ba- (bă-, bâ-, be-. . .) là nước hay liên hệ với nước như bả nguyên thủy là loài cây đập dập bỏ xuống nước bắt cá; là phần còn lại sau khi vắt hết nước; bát là vật đựng nước; bập bềnh (sóng); be là vật đựng nước, là vật dùng đi trên sông; bến là bờ nước. . .

-Gốc ca- (că-, câ-, ke-. . .), cha- (chă-, châ-. . ., tra- (tră-, trâ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như là loài động vật sống dưới nước; cạn là hết nước, canh là món ăn có nước; cần là loài rau mọc dưới nước, trà (chè) là nước uống nấu bằng cây cỏ, chà là chỗ nuôi cá, chài là lưới đánh cá. . .

-Gốc da- (dă-, dâ-. . .) hay gia-, ya-. . . là nước hay liên hệ với nước như dạt là trôi (bèo dạt mây trôi);  dầm là ngâm nước; dòng (nước, sông); dọt, giọt (hạt nước); dột (nước thấm qua mái nhà). . .

-Gốc đa- (đă-, đâ-, đe-. . .) là nước hay liên hệ với nước như đã nói ở trên.

-Gốc e-, ê-, i- là nước như é là hạt rau húng quế dùng làm nước giải khát, ếch là loài vật sống dưới nước (trong khi cóc chỉ sống được trên bờ). . .

-Gốc ga- (gă-, gâ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như gáo là vật múc nước, gạo là hạt của loài cỏ mọc dưới nước; gầu là vật để tát nước, gội là rửa tóc. . .

-Gốc ha- (hă-, hâ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như hắt, hất là tạt nước, nước bắn tung; hến là loài nhuyễn thể sống dưới nước; húp là ăn chất lỏng; hút là uống bằng ống. . .

-Gốc ka- (kă-, kâ-, ke-. . .), kha-(khă-, khâ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như  Mường ngữ kha là bẫy cá, khảo là bánh làm bằng bột gạo nếp; khau là gầu; khát là thèm nước, khe là lạch nước…

-Gốc la- (lă-, lâ-. . .)  như đã nói ở trên.

-Gốc ma- (mă-, mâ- . . .) là nước hay liên hệ với nước như  ma, má, mẹ. . . thuộc dòng nước, âm; mưa; móc là sương; mương là rãnh nước. . .

-Gốc na- (nă-, nâ-.. .) đã nói ở trên. Gốc nga- (ngă-, ngâ-. . .)  như ngâm (dầm nước), ngao,  nghêu loài nhuyễn thể sống dưới nước. . . Gốc nha- (nhă-, nhâ-. . .) như nhão là  có nhiều nước, nhạt là lạt; nhúng là cho vào nước. . .

-Gốc o, ô là nước hay liên hệ với nước như ồ ồ tiếng nước chẩy; là bị hoen bẩn vì nước; ốc là loài nhuyễn thể sống dưới nước, óc là phần cơ thể nằm trong nước, Khả Lá Vàng óc là nước (theo Bình Nguyên Lộc Khả Lá Vàng là một tộc dân Lạc Việt). Hiển nhiên ngay cái tên Khả cũng đã nói rọ họ là một tộc Lạc.  Khả biến âm vớ Sà, Xà là rắn tức là tộc Rắn Rồng con cháu Lạc Long Quân như chúng ta.  Người Khả, Khmu còn có tên là Xá. Chữ Xá với Xà một vần. Hiển nhiên các tộc Khả, Khmu liên hệ với Rắn Rồng Lạc Việt.

-Gốc p, pha- (phă-, phâ-) là nước hay liên hệ với nước như  pha là cho nước vào như pha trà; phá là vùng đầm nước ven biển như phá Tam Giang;  phễu là vật dùng rót chất lỏng. . .

-Gốc q, qua- (quă-, quâ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như quặng là  cái phễu, quấy, quậy là khuấy nước…

-Gốc ra- (ră-, râ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như rạch là lạch nước, rót là đổ nước vào; róc rách là tiếng nước chẩy, ròng ròng là nước chảy thành dòng như nước mắt chảy ròng ròng, khóc ròng. . .

-Gốc sa- (să-, sâ-. . .) hay xa-. . . là nước hay liên hệ với nước như chim sả là  chim bói cá, chim thằng chài; sả (lemon grass) là loài cỏ dùng đun nước là trà, tắm gội và làm gia vị; sả là xối nước như  sả nước, mưa sối sả; sen là loài hoa mọc dưới nước. . .

-Gốc ta- (tă-, tâ-. . .); tha- (thă-. thâ-. . .); tra- (tră-, trâ-. . .) như đã nói ở trên.

-Gốc u, ư là nước hay liên hệ với nước như uống; ứa là rỉ ra nước; ướt. . .

-Gốc va- (vă-, vâ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như và là nước (mắm và rau là mắm nước rau); cỏ là cỏ mọc bên bờ nước; là chẩy ra nhiều nước (vã mồ hôi ra như tắm), là hất nước như vã nước lên mặt; vại, ve là vật đựng nước. . .

Như thế  ta thấy từ một gốc tổ một từ nẩy sinh ra những gốc phụ theo nhu cầu phát triển của ngôn ngữ. Có hơn hai chục gốc nước trong ngôn ngữ Việt. Gốc nào là gốc tổ có cội nguồn cao nhất? Ta biết ngôn ngữ loài người có thể bắt gốc từ ngôn ngữ (tiếng kêu) loài đười và ngôn ngữ loài đười bắt nguồn từ những tiếng kêu đơn giản nhất thường là nguyên âm (xem Ngôn Ngữ Việ và Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người). Như thế những gốc chữ bằng nguyên âm có thể là những gốc tổ tối cao nhất. Gốc nước bằng  nguyên âm a (ă, â) như ách, át hay e (ê) như é hay o (ô, ơ) như ồ ồ hay u (ư) như  ú (giản lược của vú, uống), uống. . . có thể là gốc tổ nguyên khởi của nước.

Từ những gốc nước này có thể đẻ ra những từ rắn vì con rắn mang hình ảnh của dòng nước, trông giống hệt dòng nước chẩy. Ta cũng có những từ rắn hay liên hệ tới rắn tương ứng với những gốc nước:

.B: bọp tiếng Việt cổ chỉ con bóp tức con trăn (constrictor boa), ngày nay gọi là con vọp. Anh ngự ‘boa’ liên hệ với Việt ngữ bọp, bóp. Từ boa ruột thịt với bọp, bóp.

.C: chăn, chạch

Lươn ngắn mà chê chạch dài,

Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm

(Ca dao)

.D: rắn, dòng, dồng.

.G: giun

.K: khú, Mường ngữ Khú là sú, sấu (cá).

.L: lươn, liu điu (rắn nước), lăn.

.M: mang là rắn như mang gầm, mang ghì, hổ mang.

.N:  ngo ngoe (như rắn), Thái Lan ngữ ngoo là rắn; ngoằn ngoèo.

.R: rắn, rồng.

.S: sà, sâu, sú, sấu (cá).

.T: trăn, thằn lằn, thuồng luồng, thìu điu (cùng nghĩa với liu điu), trùn (cùng nghĩa với giun), trườn.

.U: uốn éo. Uốn biến âm với Anh ngữ worm, con sâu (w = uu). Từ worm trong nhiều ngôn ngữ cổ Ấn-Âu cũng có nghĩa là rắn vì con sâu là những con rắn tí hon, bằng chứng là sâu có gốc sa- cùng với sà, rắn.

.V: vọp cùng nghĩa với bọp; vặn vẹo: vẹo biến âm với Pháp ngữ vers, con sâu.

.X: xà; xà nẹo, đi vặn mình như con rắn.

Nếu nhìn qua ngôn ngữ loài người hiển nhiên những từ gốc nước của chúng ta cũng có mặt trong những tộc nhóm ngôn ngữ nhất là những chi liên hệ ruột thịt hay tiếp xúc với chúng ta:

-A-: gốc Phạn aka-, nước, Ấn-Âu ngữ aqua-, nước.

-Ba-: Pháp ngữ bateau, tầu thuyền, Anh ngữ bay, vịnh, barque, thuyền; Ouoloft (Soudan) bat, vật lõm, vật đựng. . .

-Ca-: thổ dân Mỹ châu canoe, thuyền, Anh Pháp canal, kênh, cataract (e), thác.

-D-: Ouoloft dan, rắn, mẫu tự Ai Cập Dj , dj có hình con rắn.

-Đ-: Mon ngữ dak, nước, Anh ngữ dam, đập, các tộc Tây nguyên Việt Nam có các tên địa danh mang nghĩa nước Dak Tô (Nước Vú, Sữa) Dak Suk, Darlac, Đa Nhim;  Đáp Nông. . .; Ba Tư ngữ darya, biển . .

-Ea-: Lượng Hà có Thần Mẫu, Thần Nước EA, Chàm cũng vậy; Pháp ngữ eau, nước. . .

-Ga-: Ouolof: gal, thuyền; Phi Luật Tân Tagalog: gay, thuyền; Ấn có sông Hằng Ganges. . .

-Ha-: Hán ngữ hà, sông, há, con tôn, hào, con nghêu.

-Ka-: Ba Tư ngữ kar, cá; Thổ dân Mỹ Châu kayak, một loại thuyền.

-La-: Anh ngữ lake, Pháp ngữ lac, Ý lago, hồ; Pháp ngữ lait, sữa; Mã Lai laut, nước.

-Ma-: Tây Ban Nha ngữ mar, biển, Pháp marais, Anh marsh, đầm. . .

-Na-: Ainu ngữ gốc nai là sông nước; Ai Cập nahar, sông, có sông Nile;  các tộc bị ảnh hương Ấn giáo có naga, một thứ rồng. . .

-Oa-: Nữ Oa, người đàn bà nguyên khởi của Bách Việt và Trung Hoa có đuôi rắn; Oannes, Người Ở Dưới Nước (thuyền) vùng Lưỡng Hà cổ; Hán Việt oan ương là chim le le, loài chim nước;  oasis,  đảo nước ở sa mạc. . .

-Pa-: Mã ngữ paulau, đảo; Anh ngữ pail, thùng xách nước, paddle, tay chèo. . .

-Ra-: Anh ngữ rain, mưa, ravine, khe nước, rãnh; Hy Lạp rana, ếch…

-Sa-: gốc Phạn sa-, sara-, nước, rắn.

-Ta-: gốc Phạn ngữ tar-, tầu bè, Hán ngữ tầu, thuyền.

-Va-, Wa-:Thụy Điển ngữ vater, nước; Gothic vasser, nước; Anh ngữ  vase, bình, vat, thùng lớn, water, nước.. .

-Xa-: Hán ngữ xà, rắn.

-Ya-: yacht, du thuyền.

Như thế từ một nhóm từ căn bản, từ những từ gốc theo các hiện tượng chữ câm và  biến âm sinh sôi nẩy nở ra  những dòng từ mới. Qua Việt ngữ ta thấy từ một gốc nước “na-“, nếu chấp nhận có 24 mẫu tự trong Việt ngữ thì sẽ có 24 từ chỉ nước và 24 từ chỉ vật thể nước (water body) như ao, bể, biển, bầu, chuôm, dạch, đầm, ghềnh, hồ, khe, kênh, lạch, mương, ngòi, sông, thác, vũng… rồi 24 từ chỉ rắn, con vật có hình như dòng nước chẩy vân vân. . . và cứ như thế sinh sôi nầy nở mãi. Theo đà tiến hóa của con người những từ mới theo nhu cầu sinh ra thành những gốc mới ví dụ thời nguyên thủy con người dùng các hiện vật có trong thiên nhiên như  cành cây chẳng hạn, sau dùng cây để đào lấy củ gọi là cậy,  đâm xuống đất trồng cây gọi là  cấy, dùng khúc cây để xới đất gọi là cầy, dùng cây để đuổi thú, đánh nhau gọi là gậy, khoét khúc cây rỗng dùng để nghiền giã thức ăn gọi là cối,  dùng làm thuyền gọi là nốc, đốc, gay (Phi Luật Tân Tagalog gay là thuyền); đến khi có sự tôn thờ, sùng bái, cây trở thành gậy thờ cây nêu. . .

Tóm lại trong ngôn ngữ nào cũng có gốc chữ, tiếng Việt cũng vậy. Trong Việt ngữ  ta phải dựa vào gốc chữ để tìm hiểu căn cội của một từ, cần để tầm nguyên nghĩa ngữ một từ. Tôi chưa thấy có một quyển từ điển chữ Việt nào xếp chữ theo gốc chữ, giải nghĩa theo gốc chữ. Nếu có thì giờ, tôi sẽ viết một cuốn từ điển Việt ngữ theo gốc chữ. Cần phải học và dạy chữ Việt theo gốc chữ mới hiểu thấu đáo được tiếng Việt.

Nhưng điểm quan trọng nhất là nhờ vào gốc chữ ta có thể mò tìm ra được ngồn gốc ngôn ngữ loài người. Tôi dựa vào gốc chữ trong Việt ngữ mò tìm nguồn gốc ngôn ngữ loài người (xem Ngôn Ngữ Việt Và Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người).

(Trích trong Tiếng Việt Huyền Diệu).

 


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: