TRỐNG ĐỒNG LÀ TRỐNG BIỂU CỦA HÙNG VƯƠNG (2)

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

 

TRỐNG ĐỒNG LÀ TRỐNG BIỂU CỦA HÙNG VƯƠNG

(Phần 2 và hết).

 

Nguyễn Xuân Quang

 

(Bài Nói Chuyện tại Buổi Họp Mặt Văn Hóa Phong Châu Mở Hội Tiên Rồng tại San José, Bắc Cali, Hoa Kỳ Ngày 12 Tháng 9, 2010).

Ta thấy rất rõ các chim, thú biểu của Đại Tộc Việt, của Hùng Vương đều là những loài sống trong địa bàn rừng mưa, vùng sông biển nhiệt đới Đông Nam Á mà ở địa bàn của người Trung Hoa cổ ở phương Bắc không có. Những chim thú ngành mặt trời này đều có tên hàm nghĩa là nọc, vật nhọn (Việt, mặt trời, có gốc từ nọc, cọc, bộ phận sinh dục nam) giống như danh xưng của tổ tiên Lang, Hùng, của nòi giống của Đại Tộc Việt, Người Mặt Trời thái dương dòng giống thần mặt trời Viêm Đế (cũng giống như người Inca con cháu thần mặt trời Inti).

 

Họ Hồng Bàng Thế Gian.

Theo duy dương họ Hồng Bàng  hiểu giản dị theo người ít chữ thánh hiền là Họ Đỏ, Họ Mặt Trời, Họ Người Mặt Trời Xích Quỉ dòng thần mặt trời Viêm Đế (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt) có chim biểu là chim Khướng (Mường ngữ gọi loài chim có mũ sừng tức chim cắt), Khướng biến âm với Hán Việt Khương là Sừng. Viêm Đế có họ Khương nên có chim biểu là chim Khướng, chim (mỏ có mũ) sừng, chim cắt, chim rìu, chim Việt. Chim Cắt tên “chữ” là chim Hồng Hoàng. Dòng giống Lạc Hồng là con cháu hai ngành chim Lạc, ngành nước Lạc Long Quân (con ngỗng) và con chim Hồng, ngành Lửa Mẹ Tổ Âu Cơ (chim cắt). Vì thế nếu hiểu họ Hồng Bàng theo chim biểu thì họ Hồng Bàng là Họ Chim Hồng (Hoàng), chim cắt, chim Khướng, chim Việt biểu tượng cho nhánh mặt trời Lửa thái dương. Như đã nói chim Cắt, chim Khướng, chim Việt còn thấy ghi khắc trong sử đồng trên trống Duy Tiên và ở đuôi thuyền trên trống đồng Ngọc Lũ I. Như thế theo duy dương họ Hồng Bàng có một khuôn mặt là Họ Đỏ, Họ Mặt Trời thuộc dòng thần mặt trời Viêm Đế.

Xích Quỉ

Họ Hồng Bàng theo duy dương là họ Mặt Trời của Người Việt Mặt Trời rạng ngời thuộc giống nòi thần mặt trời Viêm Đế. Đây chính là Người Mặt Trời Xích Quỉ con dân của vua thế gian đầu tiên Kì Dương Vương của họ Hồng Bàng  thế gian của Đại Tộc Việt, Người Mặt Trời thái dương .

Kì Dương Vương thế gian Lửa-Đất (dương thế) là vua đầu tiên của Đại Tộc Việt Xích Quỉ có cốt là con Hươu Đực Lộc Tục, là mặt trời thiên đỉnh (trên Trục Thế Giới). Xích Quỉ là Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời (Xích trong Xích Quỉ cùng nghĩa với Xích trong Xích Đạo, con đường tưởng tượng của quả đất trên đó mặt trời được cho là ở ngay trên đỉnh đầu, thiên đỉnh tức là mặt trời trên đỉnh Trục Thế Giới, Kì Dương Vương vua tổ của Người Mặt Trời Xích Quỉ) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Hình bóng Xích Quỉ còn thấy ghi lại trong sử đồng trên trống nòng nọc, âm dương Ngọc Lũ I. Ở hai bán viên âm dương của mặt trống này có hai nhóm người nhẩy múa. Cả hai nhóm đều có trang phục đầu giống nhau cho biết cùng một họ người. Trang phục đầu có hình chim có đường nét thẳng, có góc cạnh mang dương tính, mặt trời, trong có phụ đề chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình chấm vòng tròn. Theo duy dương chữ này có nghĩa là mặt trời sinh tạo.

Người nhẩy múa trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Đây là những Người Mặt Trời thái dương đội lốt chim (giống như thấy trong văn hóa Aztec, The People of the Sun). Nhóm 6  người là nhánh mặt trời âm thái dương (số 6 là số lão âm, âm thái dương) và nhóm 7 người là nhánh mặt trời dương thái dương (số 7 là số lão dương, dương thái dương). Những người này là Người Mặt Trời rạng ngời, thái dương có một khuôn mặt là Xích Quỉ Người Mặt Trời, tổ tiên Người Việt Mặt Trời  thái dương.

….

 

Kì Dương Vương

.Trống Kì Dương Vương  Phú Xuyên

Trống Phú Xuyên có bốn con mang gạc.

Trống Phú Xuyên là trống biểu của Kì Dương Vương hay của tộc người dòng Kì Dương Vương. Như đã nói trống có bốn con hươu sủa mang gạc, kì dương thú biểu của Kì Dương Vương. Xin lưu ý số 4 là số Cấn (đất âm) đi với hươu cọc là loài thú bốn chân sống trên mặt đất biểu tượng cho đất rất chí lý. Điểm này thấy rõ qua sự kiện là Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt Cấn đất non (núi âm), đem 50 con lên núi nên theo truyền thuyết Mường, Ngu Cơ có biểu tượng là con Hươu Sao cái.

Vành cò bay có 6 con.  Sau cổ cò có viết chữ nòng nọc vòng tròn-que là chữ nọc tam giác delta có một nghĩa là núi tháp Li, Núi Trụ Thế Gian Kì Dương Vương.

Hai vành ngoài biên là hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) trong có dấu chấm nọc dương cũng cho biết khuôn mặt núi đất dương thái dương mang tính chủ (xem thêm bài viết chi tiết về trống này).

Trong những trống muộn về sau này, trống biểu của Kì Dương Vương hay của các tộc dòng Kì Dương Vương  được diễn tả thể điệu hóa nhưng mộc mạc hơn ví dụ trên trống Thành Vân có những người thể điệu hóa thành người hươu nọc có trang phục đầu có hai sừng có chấm nọc dương:

Trống Thành Vân.

Người hươu cọc dĩ nhiên là tộc thuộc dòng Kì Dương Vương.

Những còn cò bay có thân hình núi tháp nhọn gồm hai chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) lồng vào nhau. Cánh và thân tạo thành hình chữ T mang hình ảnh Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian, Núi Kì. Những con cò này là cò núi, đất dương Kì Dương Vương.

Ở các trống thật muộn sau này thì giản dị và “bình dân học vụ” hơn nữa là trên mặt trống có hình tượng hươu nọc hai mấu mang gạc (thay vì có hình tượng cóc) như ở trống Mậu Dục:

Trống Mậu Dục

(xem thêm bài viết chi tiết về những trống này).

 

Lạc Long Quân

Ở cõi đất âm thế gian như đã biết Lạc Long Quân thế gian có một thú biểu là con Sấu Lạc, Sấu Dao, Sấu Việt như thấy trên trống Hòa Bình.

Trống Hòa Bình.

 

Trống Hòa Bình có mặt trời 12 nọc tia sáng. Số 12 là số Cấn tầng hai, thế gian (12=4+8). Cấn Mẹ Tổ Âu Cơ hôn phối với Cha Tổ Lạc Long Quân Chấn, có một khuôn mặt là Sấm (Chấn vi lôi), Mưa, Biển… Theo truyền thuyết thần Sấm có nhà ở đầu non tức Cấn. Lạc Long Quân sấm mưa có nhà ở đầu non, nơi Mẹ Tổ Âu Cơ ở. Có nhiều tác giả tán láo cho rằng Mẹ Tổ Âu Cơ và Cha Lạc Long Quân ly thân hay ly dị nên dân Việt bây giờ chia rẽ. Làm gì có chuyện Mẹ Tổ Âu Cơ và Lạc Long Quân ly thân ly dị. Hai người chia tay nhau đi hai ngả lên non xuống biển chỉ là một cách phân quyền để cai quản non sông đất nước liên bang Văn Lang của Đại Tộc Việt. Như đã thấy Lạc Long Quân thần sấm mưa có nhà ở đầu non. Ban ngày trời nắng, nước biển bốc hơi, chiều tối gặp lạnh hơi nước tụ lại thành mây bay về nhà đầu non. Chiều chiều Lạc Long Quân ở biển theo mây bay về với vợ Âu Cơ ở đầu non. Có đêm mây mưa với vợ. Sáng hôm sau, theo nước mưa đầu nguồn Lạc Long Quân lại đi ra biển. “Nước đi ra biển lại bay về nguồn” (Tản Đà). Non non nước nước…

Mặt trống có vành chủ yếu có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ hai vòng tròn đồng tâm (thái âm, nước) có chấm nọc dương có một nghĩa là nước dương, nước-lửa, nước chuyển động, ở cõi trời là mưa, mưa-chớp (sấm) ở cõi thế gian là nước dương, nước chuyển động như biển ứng với Lạc Long Quân.

……

Trống Hòa Bình là trống Lạc Long Quân hay của tộc người dòng Lạc Long Quân (xem thêm bài viết chi tiết về trống này).

 

 

Lang Hùng, Hùng Vương

Hùng Vương là di duệ của hai ngành nọc chim mẹ Âu Cơ Mặt Trời Viêm Đế và ngành nòng rắn cha Lạc Long Quân Không Gian Thần Nông nên mang dòng máu vũ trụ, tạo hóa, sinh tạo. Ở Cõi Trên có có chim biểu sinh tạo (nòng nọc, âm dương nhất thể) là con Cò. Hầu hết trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn đều có hình cò cho thấy trống đồng nòng nọc, âm dương là trống biểu của Hùng Vương. Liên bang Văn Lang có hai ngành nòng nọc, có nhiều đại tộc, tộc, chi tộc nên hình cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương khác nhau như đã thấy ở trên. Ví dụ con cò gió bờm phướn gió rất cách điệu thấy trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là con cò Gió, cò Lang chứ không phải là cò Lạc như các nhà khảo cổ học và các nhà làm văn hóa Việt Nam hiện nay gọi nhầm là như vậy.

 

Điển hình xin dưa ra một ví dụ là trống Lang Hùng Quảng Xương.

 

Xin văn tắt ở đây.

 

Trống có mặt trời có 8 nọc tia sáng.

 

.Trống Quảng Xương

Số 8 là số Khôn thế gian (trong 8 chuỗi hay 8 tầng của 64 quẻ của Dịch những số Khôn là 0, 8,16, 24, 32, 40, 48, 56. Những số Khôn trong Dịch có giá trị Khôn như nhau chỉ khác ở tính chất nòng nọc, âm dương sinh tạo tùy theo ở tầng nào của Dịch ví dụ 0=32 như ta thấy trong nhiệt học 0 độ bách phân Celcius = 32 độ Farenheit). Mặt trời có khối sáng không thấy đĩa tròn hình cầu gai Càn đi với 8 nọc tia sáng nọc mũi tên là mặt trời Càn-Khôn thế gian. Mặt trời ở đây mang tính Càn-Khôn, sinh tạo, tạo hóa.

Điểm này thấy rất rõ qua sự kiện là mặt trời nằm trong không gian có vỏ không gian là vòng tròn bao quanh đầu các nọc tia sáng. Vỏ này là một vành trống không mang nghĩa không gian Kkôn. Các khoảng không gian có sọc song song cũng mang nghĩa không gian Khôn. Vậy trống này là trống Càn-Khôn thái dương.

Đây chính là bọc trứng Lang Hùng, là khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, lưỡng hợp của Lang Hùng ở ngành dương. Nếu hiểu theo duy dương họ mặt trời thì là mặt trời sinh tạo, tạo hóa. Chữ chấm vòng tròn chính là linh tự Ra của Ai Cập cổ có một nghĩa là mặt trời tạo hóa (Sun as Creator). Hùng Vương thế gian, lịch sử đội lốt Tổ Hùng tạo hóa.

Ở Cõi Giữa, Trung Thế, trống này có mặt trời 8 nọc tia sáng là trống thế gian nên vành 3 chủ đạo diễn tả cảnh sinh hoạt của cõi người trên mặt đất.

.Người

Giữa hai ngôi nhà mỗi bên có hai nhóm người nhẩy múa. Cả hai nhóm người đều có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ chấm-vòng tròn ở một bên mặt trông như con mắt. Theo duy dương chữ này có một nghĩa là mặt trời sinh tạo (ăn khớp với Lang, Hùng Vương) . Lưu ý ta thấy rõ một số chữ mặt trời này có những tia sáng tỏa ra.

Người Mặt Trời Rạng Ngời có chữ chấm vòng tròn mặt trời có ánh sáng tỏa ra rạng ngời trên mặt.

Do đó trăm phần trăm những người này là những Người Mặt Trời rạng ngời. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt những Người Mặt Trời rạng ngời  này là những Lang, những Hùng Vương mặt trời, tổ tiên của Xích Quỉ, Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời, Người Việt Mặt Trời Rạng Ngời.

Thật vậy, những người này trông rất trai tráng, trẻ trung với thân hình vạm vỡ mang hình ành của các Lang, các Hùng trai trẻ. Ta thấy rõ có hai chi tộc người. Một tộc người ở trần truồng và tộc người kia có mặc váy.

Chi tộc trần truồng thuộc tộc nước, tộc rắn (ở trần truồng là tộc nước, thuộc phía âm nước cũng thấy ở hai con thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I).  Giải dài buông xuống phía sau trang phục đầu hình dòng nước chẩy giữa hai viền bờ tô đậm trông rất kiên cố như cản không cho nước tràn ra, trông như một dòng nước từ trên cao, trên trời, trên núi, trên nguồn chẩy xuống thành suối thành sông chảy ra biển. Phần trên trang phuc đầu có thể là hình đầu rắn có sừng.

Tộc người Rắn, Nước, Mặt Trời-Nước.

Cả trang phục đầu có thể diễn tả hình rắn nọc (có sừng) tiếng cổ gọi là con dải (rắn trông như dải dây) thể điệu hóa biểu tượng cho nước dương, mặt trời-nước. Dù gì đi nữa thì duy chỉ yếu tố ở trần truồng cũng đủ cho biết đây là tộc nước, tộc mặt trời-nước.

Tộc người mặc váy tỏa ra hai bên hình cánh chim, đầu đội trang phục đầu hình đầu chim có mỏ và có mũ sừng giống chim cắt, chim rìu, chim Việt,  thuộc tộc lửa, đất, vùng đất cao, tộc chim.

Tộc người Chim, Lửa, Mặt Trời-Lửa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, tộc người nước trai tráng vạm vỡ là nhánh 50 Lang theo Cha Lạc Long Quân Rắn-Nước ngành Thần Nông xuống biển. Tộc người Lửa-Chim cắt có mũ sừng là nhánh 50 Lang theo Mẹ Tổ Âu Cơ Chim Lửa ngành Viêm Đế lên núi.

Thêm vào đó tên những người này cũng được “xâm” lên người. Ta thấy rõ trên người có những chữ nọc que (ở những người nước trần truồng chữ được viết trên lưng hay ở bên cạnh sườn tức phía âm, trong khi ở những người chim, chữ nọc được viết ở trước ngực tức phía dương). Nọc que là bộ phận sinh dục nam, đực (Hùng), con trai (Lang), dương (có một nghĩa là mặt trời), vật nhọn (Việt).

Như thế người trên trống Quảng Xương là Lang, Hùng, Đại Tộc Việt, Người Mặt Trời rạng ngời thuộc hai nhánh chim-rắn, Tiên Rồng.

.Nhà

Trống chỉ có hai căn nhà nọc, nhà mặt trời. Nhà này là nhà nọc truyền thống đầu mái có mũi đao, cọc nhọn. Không có nhà nòng. Như thế trống này là trống biểu của phía nọc nam. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây rõ như ban ngày là trống biểu của 100 Lang Hùng (bọc trứng chỉ sinh ra một trăm con trai, chỉ nói về phía nọc dương, di thể chim trong bọc trứng chim mang tính chủ) không có con gái Mẹ Nàng nên không có nhà nòng mái vòm không gian như thường thấy trên các trống khác có cả hai loại nhà nòng nọc, âm dương.

Xin lưu ý

Một lần nữa sử đồng ở đây cho thấy ta phải hiểu và diễn dịch bọc trứng của Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra toàn con trai Lang là các Lang ứng với tròng đỏ mặt trời của Trứng Vũ Trụ. Phải hiểu ngầm phần còn lại là cái bọc tròng trắng không gian của Trứng Vũ Trụ ứng với các mẹ nàng. Truyền thuyết bọc trứng chim nở ra toàn là Lang Hùng phải hiểu là chỉ nói tới ngành chim, theo duy dương di thể chim trong bọc trứng chim mang tính chủ.

Nhà nọc ở đây có hình ‘hình trụ’ ứng với các nọc Lang, bốn đầu mái cong mũi đao, hình nọc nhọn, có hình mặt trời. Bốn hình mặt trời ở bốn góc mái nhà biểu tượng cho Bốn Tộc Người Mặt Trời. Đây là nhà diễn tả nhà nọc, nhà mặt trời, đền tổ mặt trời của họ mặt trời có bốn đại tộc (tứ dân ở bốn phương) người mặt trời  ứng với Mặt Trời  Ánh Sáng Đế Minh, Mặt Trời Đất Kì Dương Vương, Mặt Trời  Nước Lạc Long Quân và Mặt Trời  Gió Hùng Vương của Đại Tộc Việt mặt trời của họ thần mặt trời Viêm Đế.

Điểm này được xác thực đúng một trăm phần trăm là nhà ở trống này có hình mặt trời ở hai bên cửa mà các ngôi nhà nọc trên những trống đồng âm dương khác không thấy có mặt trời.

Một ngôi nhà nọc hai bên cửa có hai hình mặt trời.

Ở đây hiển nhiên trăm phần trăm ngôi nhà nọc là nhà mặt trời, thờ phượng mặt trời.

Đi ngược dòng thời gian trở lên, hai căn nhà Nọc mặt trời này cho thấy rõ những căn nhà nọc trên những trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn cổ đại hơn trống Quảng Xương mặc dù không có hình mặt trời cũng là những ngôi nhà mặt trời, thờ phương mặt trời.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là những ngôi nhà nọc, nhà mặt trời, thờ phượng thần mặt trời Viêm Đế, thờ phượng Hùng Vương, vua mặt trời của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời. Nhà mặt trời này có di duệ là nhà Lang, nhà đình, nhà phái nam trăm phần trăm của chúng ta ngày nay. Xin hãy trả lại ý nghĩa nguồn cội mặt trời cho các ngôi nhà Lang, nhà đình của chúng ta ngày nay. Sử đồng còn khắc ghi rõ rành rành ở đây.

 

Tóm lại nhà trên trống Quảng Xương nói chung là nhà nọc mặt trời của đại tộc Việt Người Mặt Trời thái dương, con cháu của các Lang, Hùng Vương Mặt Trời.

Những trống chỉ có nhà nọc như trống Quảng Xương này chỉ là trống biểu của một ngành và những trống đồng có đủ cả nhà nòng và nhà nọc như trống Hoàng Hạ (có mặt trời 16 nọc tia sáng cùng nhóm trống Càn-Khôn với trống Quảng Xương), Ngọc Lũ I… là những trống đồng mang ý nghĩa biểu tượng lưỡng hợp âm dương (cho dù là lưỡng hợp âm dương theo duy dương) biểu tượng cho cả họ.

Xin Lưu Tâm

Điểm quan trọng nhất và quí giá nhất ở đây là sự hiện diện của những hình mặt trời rạng ngời ánh sáng ở hai bên cửa ngôi nhà. Sự có mặt của những hình mặt trời ở các căn nhà nọc trên trống này xác quyết rằng những ngôi nhà nọc trên trống đồng âm dương là những Ngôi Nhà Mặt Trời, là những ngôi nhà thờ phượng mặt trời. Đây là nguyên thể của các đền thờ Mặt trời sau này. Những ngôi nhà nọc có hình mặt trời này cung cấp một dữ kiện kiên cố, nếu đi ngược dòng thời gian lên, ta có thể vững tin là những ngôi nhà nọc, nhà dương trên trống đồng âm dương là những ngôi nhà thờ phượng mặt trời của ngành nọc. Những người ở trong loại nhà này là những người đang thực hiện những giáo vụ liên hệ tới mặt trời, thờ phương mặt trời, không có chuyện đang chơi trò trẻ con “trồng nụ trồng hoa” gì đó như một số tác giả suy diễn ra. Bên cạnh đó những ngôi nhà nòng, nhà âm là những ngôi nhà thờ phượng không gian hay mặt trời nòng của ngành nòng của họ mặt trời thái dương.

 

Những ngôi nhà mặt trời này cũng xác quyết rằng những người có xâm chữ nọc que trên người là những Người Mặt Trời (The People of the Sun), những người Việt Mặt Trời thái dương.

.Chim

Vành 4 của trống Quảng Xương là vành 6 chim bay. Đây là trống thế gian nên vành cò bay biểu tượng cho bầu trời thế gian. Ta đã biết cò là chim biểu của khí gió, bầu trời thế gian, một khuôn mặt biểu tượng sinh tạo của Hùng Vương có một khuôn mặt bầu trời thế gian, đội lốt bầu vũ trụ tạo hóa, sinh tạo.

Sáu con cò với số 6 là số Tốn gió âm tầng 1 vũ trụ, bầu trời. Số 6 là lão âm, sinh tạo, số thành. Số 6 Tốn cũng hôn phối với Chấn số 9 ứng với Mẹ Tổ Âu Cơ Tốn 6 hôn phối với Lạc Long Quân Chấn 9  đẻ ra Hùng Vương  có bản thể khí gió, bầu vũ trụ, bầu trời ứng với Khí gió dương Đoài vũ trụ số 3. Ta đã biết ma phương có số trục 3, 6, 9 đều có tổng số các chi số là 18, mã số DNA của Hùng Vương (xem bài viết Mã Số DNA của Hùng Vương).

Như thế 6 con cò bay mang trọn biểu tượng cho Hùng Lang, Hùng Vương.

Thật vậy cò có mỏ thon dài thanh tao mang tính dương của âm tức thiếu âm khí gió. Bờm thẳng hàng với mỏ gợi hình mũi tên bay trong gió, lướt gió. Cánh có những sọc ngang không gian và các chấm nọc dương tức Khôn dương khí gió.

Tóm lại 6 cò bay cho biết trống thuộc đại tộc Cò Gió thế gian thuộc đại tộc cò bầu trời sinh tạo thế gian Hùng Vương ứng với các tên Bạch Hạc, Hạc Trì của Hùng Vương.

 

.Vùng Nước Tang Trống

Có sáu hình thuyền.

Thuyền trên trống Quảng Xương (Nguyễn Văn Huyên).

Rất tiếc chỉ có hình vẽ chi tiết một chiếc thuyền, còn năm thuyền kia không biết ra sao. Theo hình vẽ này, thuyền đã thể điệu hóa cùng cực (extremely stylized). Thuyền hình rắn nước. Đầu thuyền hình đầu rắn nước có bờm chim. Tôi gọi là rắn-chim nhất thể.

Dạng Rắn-Chim nhất thể ở đây là dạng thể điệu hóa, thần thoại hóa của dạng lưỡng hợp Chim-Rắn còn ở dạng  riêng rẽ là chim dương, lửa mỏ rìu nằm trong miệng rắn nước thấy ở các đầu thuyền trên Ngọc Lũ I và các trống họ hàng. Ở đây, chim bây giờ thể điệu hóa chỉ còn hình bờm chim gắn vào đầu rắn nước. Đầu linh thú nước có bờm chim ở đầu thuyền ở đây cũng mang biểu tượng Lưỡng Hợp Chim-Rắn Âu Cơ-Lạc Long Quân, nhưng nòng nọc, âm dương rằn-chim còn quyện vào nhau dưới dạng Trứng Vũ Trụ, Thái Cực, bọc trứng Lang Hùng.

Đây chính là hình ảnh Rắn-Lông Chim Quetzal Coatl của Aztec và Kukucan của Maya. Cũng xin nhắc lại Aztec có nghĩa là Người Cò (Heron People). Ta thấy rất rõ Người Cò Aztec liên hệ với người Việt con cháu của Hùng Vương có một khuôn mặt biểu tượng Cò mà sử đồng của đại tộc Đông Sơn còn cho thấy hầu hết trên các trống đều có hình cò bay. Truyền thuyết của người Aztec cũng có một vị thần tổ là một người già râu dài khi chia tay thần hẹn sẽ trở về cứu giúp họ khi họ gặp nguy khốn. Truyền thuyết này cũng giống như truyền thuyết Lạc Long Quân của chúng ta. Đế quốc Aztec vì truyền thuyết này mà bị sụp đổ vào tay viễn chinh Tây Ban Nha Hernandez Cortes, dưới tay ông ta chỉ có mấy chục người (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Aztec là tộc Cò thiếu âm còn Maya là tộc thái âm (Maya có một nghĩa là Không, Mẹ). DNA đã chứng minh Maya có cùng nhóm di thể với người Việt (xem Sự Tương Đồng Giữa Cổ Việt và Maya). Hình Rắn-Chim (Rồng Tiên) Lạc Long Quân-Âu Cơ ở đây sẽ giúp cho các nhà Aztec, Maya học hiểu rõ thêm và diễn giải đúng đắn hơn về Rắn Lông Chim Quetzal Coatl và Kukucan. Hiện nay hai vật tổ này đều được giải thích chưa tới và sai lệch. Ta thấy rõ người Cò Aztec có vật tổ Rắn-Lông Chim Quetzal Coatl ứng với  Rắn-Chim Rồng-Tiên Lạc Long Quân-Âu Cơ. Người Việt Nam con cháu Hùng Vương có biểu tượng Cò còn ghi khắc trên hầu hết các trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Hùng Vương  thuộc dòng giống Rắn-Chim Rồng-Tiên Lạc Long Quân-Âu Cơ thấy rõ qua hình Chim-Rắn Tiên Rồng ở đầu mũi thuyền ở trống Lang Hùng Quảng Xuyên này.

Người có mặt hình lục giác biểu tượng cho hư không, không gian sinh tạo giống như các trống hình lục giác để trên trụ cao biểu tượng cho Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) (hình lục giác là khuôn mặt sinh tạo dương của O, số 6 là số thành, sinh thành). Giữa mặt không gian lục giác có chữ chấm-vòng tròn mặt trời giống như con mắt. Người này có mặt là mặt trời-không gian, vũ trụ sinh tạo ứng với Lang Hùng.

Những người ở thuyền này mặc váy hình hai cánh chim xòe ra và trang phục đầu hình đầu chim cắt có mũ sừng thể điệu hóa thuộc tộc Lửa-Chim Âu Cơ. Đặc biệt là những người tộc chim này trên người có đánh dấu các chấm nọc  dương, lửa, mặt trời  thay vì chữ nọc que cho biết rõ họ là người tộc lửa, mặt trời sinh tạo (chấm nọc là dạng nguyên tạo của nọc que) ứng với các Lang Hùng có một khuôn mặt sinh tạo.

Có thể ở các con thuyền khác có những người trần truồng thuộc tộc Nước-Rằn Lạc Long Quân (rất tiếc không có hình vẽ).

Những người mặt trời trên thuyền này tay cầm những vật biểu có hình rắn thể điệu hóa có thân uốn cong chữ S (hình bên trái của người đứng ở phía đuôi giống hình đầu rắn-chim ở mũi thuyền) và hình chim thể điệu hóa (hình bên phải). Đây là những vật biểu Chim-Rắn Tiên Rồng. Trăm phần trăm những người trên thuyền có mũi thuyền Rắn-Chim Rồng-Tiên này là con Rồng cháu Tiên.

Tóm lại thuyền lưỡng hợp chim-rắn, người mặt trời-không gian, hình vật biểu chim rắn mà  hai người đang cầm ăn khớp hoàn toàn với các Lang, Hùng Vương, với ngưới Việt con Rồng cháu Tiên.

Tóm lại trống Quảng Xương là một trang sử đồng ghi khắc lại truyền thuyết Lang Hùng.

(xem thêm bài viết chi tiết về trống này).

 

Kết Luận

Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh, là trống biểu của Vũ Trụ giáo, là Việt Dịch đồng nòng nọc, là bộ Dịch đồng diễn tả bằng hình ảnh duy nhất của nhân loại, là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt, là trống biểu của Hùng Vương.

Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn tuyệt nhiên không phải là trống có nguồn gốc Trung Hoa.

 

 

Phụ Ghi

 

Chữ Việt

Trong buổi họp mặt văn hóa Phong Châu Mở Hội Tiên Rồng này có diễn giả Đỗ Ngọc Thành nhà nghiên cứu chữ Nôm cổ Việt (Nôm hiểu theo nghĩa là tiếng của người phương Nam của Đại Tộc Việt) đã góp ý cho biết là Việt trong tiếng Nôm cổ của Bách Việt có gốc là rực, sáng, mặt trời. Xin xem trong: http://newvietart.com/index4.667.html

 

Điều này hỗ trợ vững chắc thêm cho những bài viết của tôi như Việt Là Gì?, như trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á… đã chứng minh Việt là Mặt Trời thái dương, Đại Tộc Việt là đại tộc Người Mặt Trời thái dương rạng ngời. Trống đồng của đại tộc Đông Sơn có mặt trời rực sáng ở tâm mặt trống (trống đồng nào không có mặt trời không phải là trống đồng của đại tộc Đông Sơn) là trống biểu của Người Việt Mặt Trời Rạng Ngời, rực sáng, con cháu của Hùng Vương, Vua Mặt Trời dòng thần Mặt Trời Viêm Đế (đây là lý do tôi gọi là Hừng Việt có nghĩa là Việt hừng rạng, hừng sáng nên mới đặt tên tác phẩm viết dựa vào tài liệu trong sử sách là Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Tài Liệu Tham Khảo

1.Nguyễn Xuân Quang

bacsinguyenxuanquang.wordpress.com, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Tiếng Việt Huyền Diệu, Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc.

2.Salomon Frank, Introductory Essay: The Huarochiri Manuscript. In The Huarochiri Manuscript: A Testament of Ancient and Colonial Andean Religion,1991:20.

Frank Salomon, annotations and introductory essay. George 1.

Urioste, trans. Pp. 1-40. Austin: University of Texas Press.

3.Zuidema, Reiner Tom

The Inca Kinship System: A New Theoretical View. In Andean

Kinship and Marriage. Ralph Bolton and Enrique Mayer

eds. Pp. 240-288. Washington, DC: American Anthropological

Society. Special publication, 7, 1977:256 ).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: