BỐ MỸ (Truyện Ngắn)

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

BỐ MỸ

(Truyện ngắn trích trong Tình Thù).

Nguyễn  Xuân Quang

Họa sĩ, Nhà văn Võ Đình đã viết về  tuyển tập truyện ngắn Tình Thù:

Trong bối cảnh của những truyện tang thương tủi nhục, ông thường vẽ qua – nhưng với những nét rất sắc sảo, gần như tếu mà lại bàng hoàng một nỗi niềm ẩn kín – hình ảnh một cành hoa, một cây đào, một bụi dạ lý hương. Ở Nguyễn Xuân Quang, sự nuối tiếc nhớ thương không đậm nét và tôi cho đó là một thành công, cho bằng một sự trực diện với thực tại, một thực tại hàng ngày, tầm thường nhưng quái dị, ghê rợn, một thứ fantasme. Cách đây mấy năm tôi có viết một bài về Kuniyoshi, một họa sĩ Nhật-Mỹ bậc thầy. Ngày nay tôi tìm thấy lại, dầu chỉ một ít thôi, cái không gian ngỡ ngàng mà đột ngột, đắng cay mà bất thần đó…

(Đời Mới ngày 20-5-1982, trang 18).

*

Cuối cùng Nguyễn quyết định đi làm nghề giao báo vào buổi sáng sớm.

Nguyễn quyết định đi ném báo cho tờ Los Angeles Times buổi sáng sớm vì nhiều lý do. Điều thứ nhất ban ngày vợ đi làm, chàng phải ở nhà làm vú em giữ đứa con gái vừa mới sinh được vài tháng, ở nhà lo cơm nước, tối đến vợ ở nhà, chàng chui đầu vào đèn sách. Sáng sớm dậy đi giao báo nên rất thuận tiện. Ngoài ra cái nghề này nó cũng gần cận với cái thú viết lách của mình.

Sáng sáng tà tà đến đại lý báo giờ nào cũng được, không cần phải bấm giờ, miễn sao giao báo trước sáu giờ sáng là được. Bắt đầu từ nửa đêm về sáng, phân bộ ấn loát vùng đã cung cấp báo cho các đại lý, đến nơi Nguyễn chỉ việc lồng hai phần báo vào nhau, cho vào máy cột lại, quăng lên xe.  Phần ruột báo đã được in một tuần, nửa tháng trước còn phần vỏ in ngay chập tối hôm trước, gồm phần thời sự và các vấn đề cập nhật. Cột báo cũng cần phải có kinh nghiệm. Nếu chật quá chỉ sẽ cắt đứt báo, lỏng quá, khi ném, báo sẽ  tung ra bay như bươm bướm.

Khi tới đại lý, việc đầu tiên là xem tình hình thời tiết trong ngày, có những hôm nửa đêm trời quang mây tạnh, nhưng tới sáu, bẩy giờ sáng trời mới bắt đầu mưa. Trời mưa báo phải được lồng vào bao nylon cho khỏi ướt. Sau đó xem có những thân chủ nào mới đặt mua báo, có người nào thôi đặt báo nữa hoặc họ đi nghỉ hè không muốn mua báo trong những ngày vắng nhà…

Làm báo xong, lái xe tới vùng chỉ định, tà tà thẩy báo, cố gắng đừng giao báo quá trễ, có nhiều người già đêm ít ngủ, đứng chờ báo trong sương sớm hoặc những tay làm ăn hay đi chơi xa, ra khơi, lên rừng, lên núi, cần có báo sớm để đọc.

Ném báo là cả một nghệ thuật, tay phải cầm lái, tay trái quăng báo. Có nhiều nhà phải quăng báo qua nóc xe, phải quăng thế nào cho tờ báo rơi ngay trên lối đi hay trên sân nhà để xe tráng xi măng, nếu báo rơi trên cỏ đẫm sương đêm, báo sẽ ướt hoặc rơi xuống mương, nhà hàng xóm mở nước sớm tưới cỏ sẽ làm báo ướt sũng, người đọc sẽ gọi điện thoại đòi tờ khác. Báo ngày thứ năm và chủ nhật nặng cả kí lô. Báo thứ năm nặng vì có nhiều quảng cáo để cuối tuần bà con đi mua sắm. Sau một thời gian ném báo cánh tay trái khỏe và to không kém gì tay phải.

Điều khó khăn nhất là lúc khởi đầu vừa phải nhìn bản đồ tìm đường vừa phải tìm số nhà Mỹ trong đêm. Các số nhà in ở lề đường, nhiều khi xe đậu che khuất hoặc nhiều khi xe cập lề sát quá, lốp xe quẹt lem nhem không còn đọc được. Còn cái số nhà ở trên tường nhiều khi chỉ để làm cảnh không tài nào đọc được trong đêm, nhiều lúc phải dừng xe lại, bước xuống lấy đèn pin rọi tìm số nhà.

Khu bỏ báo thường là khu khá giả, giới có học vì phải có nhiều người đọc báo mới đủ số lượng để đại lý mướn một người đi bỏ báo.

Mặc dầu nhờ hiểu biết ít nhiều về lịch sử Mỹ, lịch sử của những kẻ di cư tới Hoa Kỳ, Nguyễn biết rằng tất cả những dân di cư tới đây đều phải khởi đầu bằng hai bàn tay trắng, khởi đầu từ mặt đất đi lên, nhưng những khi bỏ báo cho các nhà bác sĩ, nhìn hai chữ M. D. lòng cũng không khỏi xót xa. Nguyễn vẫn coi mình là một bác sĩ dù hiện tại đi ném báo vì bác sĩ y khoa là một tước vị quốc tế, trọn đời, bệnh tật là nhân bản, là con người, do đó người thầy thuốc không có biên giới dù là không gian hay thời gian.

Nguyễn cũng ngậm ngùi nhưng rất kiêu hãnh sáng sáng quăng tờ báo vào nhà người bảo trợ cũ giờ đã đổ vỡ vì cái bất đồng văn hóa. Dù sao thì gia đình họ cũng đã mở cửa đón nhận gia đình chàng. Có sớm mai, người bảo trợ đã trông thấy chàng quăng tờ báo lên hiên nhà. Trong sương mù chàng không đọc được gì trong đôi mắt sau khung cửa kính. Đôi mắt đóng khung trong sương mù sau ô kính.

Khu nhà khá giả, càng giầu, càng nuôi chó nhiều. Mỗi lần bước xuống xe đọc địa chỉ, chó sủa ran. Chó Mỹ sủa rất cộc cằn, thô lỗ, rất hỗn xược, có vẻ ta đây là chó cường quốc, có con kỳ thị ra mặt. Ngày xưa chàng thường nghe nói là người nào hay chào cờ Tây thường hay bị chó sủa dữ dằn, trường hợp Nguyễn, có lẽ là chó sủa áo rách. Khi còn ở quê nhà, mỗi lần về ấp thanh tra, những con chó ta chỉ dám lấp ló sau hàng rào khúm núm sủa. Phải thú thật là sau khi làm việc ở phòng chó dại ở viện Pasteur Saigon, Nguyễn là kẻ sợ chó nhất trần gian. Sợ bị chó cắn thì ít nhưng sợ nhất cái cảnh phải vén áo lên đưa cái bụng da non của mình ra nhận trên hai chục mũi thuốc ngừa  bệnh chó dại.

Bây giờ chàng lại sợ chủ nhà nghe chó sủa thức giấc trong đêm, trông mập mờ, thấy một tên thiểu số, sẽ cho mình là đạo tặc, xách súng ra cho chàng ăn kẹo đồng, nhà Mỹ nào mà chả có súng lớn, súng nhỏ, sống trong một nước chinh chiến chiếm hết một phần lớn đời người, đã từng vào sinh ra tử, bây giờ lại bị ăn đạn thì thật là lãng nhách, vì thế mỗi lần bước xuống xe xem số nhà, Nguyễn phải ôm theo một số lượng báo có dư  để sau khi bỏ xong chàng vẫn còn có  báo trên tay để nói cho những người giật mình thức giấc trong đêm biết là chàng đang đi hành nghề bỏ báo.

Chó Mỹ được nuôi nấng và tẩy nảo khác chó ta nhưng chó Mỹ cũng tưới cây giống chó ta.

Sau một thời gian ngắn, quen đường, nhớ nhà, công việc nhàn như kẻ lái xe đi dạo chơi lúc tinh sương. Nguyễn có thêm thì giờ học bài. Bài vở soạn thi lấy lại văn bằng Nguyễn đọc thâu vào băng, vừa ném báo vừa mở cassette học bài.

Những sáng sương mờ ẩn hiện, hư thực, những vườn cây cảnh tuyệt vời, chàng có cảm tưởng mình là một thi nhân lạc chốn thiên thai.

Giữa cảnh hoang lạnh của buổi sớm mai, một hình ảnh đập vào mắt chàng rất mạnh là một người già ngồi chồm hổm ở hiên nhà nhìn vu vơ sáng sáng. Người già ngồi theo kiểu hưởng thụ cái đệ tứ khoái rất ư là đồng ruộng Việt Nam. Chàng không nghĩ rằng cụ là một người già di tản vì khu gia cư này quá sang trừ phi cụ thuộc vào một trong bốn giai cấp trước đây là đĩ, cha, sư và tướng. Người già như có ý lẩn tránh, nhiều sáng Nguyễn cố ý cho xe sát vào lề, lấy hết sức ném tờ báo cả kí lô tới sát bên người già ngồi. Cụ vẫn bất động. Không hiểu sao dần dần chàng lại thấy gần cận với người già. Dường như có một cái gì của quê hương nơi người già, Nguyễn tự nhủ không biết chừng cụ là dân tị nạn được gia đình Mỹ này bảo trợ. Một sáng, chàng quyết định ngừng xe lại, bước xuống xe, giao báo tận tay người già. Nguyễn cố nói một câu tiếng Mỹ. Người già luống cuống rồi trả lời ngon lành “Ông cứ ném đó” bằng tiếng Việt.

-Ủa! Cụ là người Việt hả? Cháu cũng là Mít đây.

-Ủa! Cậu là người Việt hả? Tôi cũng là người Việt. Tôi cứ tưởng cậu là thằng Mễ.

-Cụ có căn nhà sang trọng quá.

-Nhà nào của tôi!

-Thế cụ ở đây với…

Nguyễn bỏ lửng câu nói, thăm dò.

-Với con gái tôi. Nhà này của thằng con rể Mỹ.

-Thì của con cái  hay của cụ cũng vậy.

-Ở Mỹ làm gì có chuyện cũng vậy!

Nguyễn lại tiếp tục hành nghề, sáng sáng ghé lại nói với người già năm ba câu. Một sớm người già đứng sẵn bên lề đường đón chàng, ra dấu cho chàng ngừng xe lại. Cụ ngỏ ý đi theo chàng ném báo trong vùng cho đỡ buồn.

Nguyễn từ chối nhưng người già năn nỉ, cuối cùng chàng cũng xuôi lòng vì cái lòng thầy thuốc thương người của mình.

Dần dà người già và Nguyễn trở thành hai người bạn thân thiết.

Có lần  đi gần khu nghĩa trang, cụ than thở đời sống ở đây còn thua cả thằng ăn mày ở quê nhà, chết chẳng có được một nấm đất như cái mả thằng ăn mày, nghĩa trang ở đây phẳng lì. Chàng cũng nhận ra cụ rất hận thù chó Mỹ. Mỗi lần quăng báo gây tiếng động, khiến chó sủa vang, cụ lại chửi chó mắng mèo:

-Mẹ kiếp, chủ nào tớ đó!

-Kệ nó cụ ạ, chó bên này có cái phong hóa khác chó ta.

-Cậu nghĩ coi, cái thân già này con thua cả con chó nữa.

-Sao cụ lại nghĩ vậy?

-Chúng nó coi con chó hơn bố nó!

-Ai vậy cụ ?

-Con tôi chứ ai.

-Làm gì có chuyện đó. Người và chó khác nhau, khác nhau là con người có văn hóa, mình có tới hơn bốn nghìn năm văn hiến, chó Mỹ giả dụ coi như là có văn hóa đi nữa thì cùng lắm cũng chỉ được hai trăm năm.

-Ấy thế mà tụi nó trọng chó hơn bố nó.

-Không có chuyện đó đâu cụ. Đồng ý cẩu quyền ở đây có khi còn cao hơn nhân quyền ở vài nơi như ở quê hương mình. Ở đây nhiều người sống cô đơn, không bố mẹ hay con cái, không bạn bè, đành chơi với chó, ăn nằm với chó… Nhưng không có chuyện con cái Việt Nam  lại coi con chó hơn bố mẹ…

-Chó nào thả ra mà chả ăn…

-Cái chuyện đó thì cháu không biết chó Mỹ có thèm khát hay không. Nhưng ở đây nếu mà cụ thí nghiệm, cụ sẽ bị hội bào vệ súc vật, hội bảo vệ cẩu quyền, thú quyền đưa cụ ra tòa ngay. Con chó bên này sống có người hầu kẻ hạ, chủ đi vắng có khách sạn, bệnh tật có bác sĩ, có nhà thương, chết có hòm, có xe tang, có vòng hoa, có tha ma, có người để tang…

-Nhiều lúc nghĩ tới những người ở lại quê nhà nhìn con chó mà rơi nước mắt.

-Đó là hai chuyện khác nhau, người ta quan niệm những kẻ khốn khổ, khốn nạn kia không đem lại hạnh phúc cho họ bằng con chó. Vả lại con cho nó không phản phúc như con người… Cụ cũng nghĩa như vậy chứ?

Người già như có một điều gì xung đột với con cái. Chàng muốn giúp cụ giải tỏa cái ẩn ức đó, nói ngọt không được chàng bèn hù:

-Chỗ quen biết, cháu nói cho cụ biết, cụ chửi chó mắng mèo vừa vừa thôi, lỡ người ta đưa cụ đi khám bệnh tâm trí, đọc báo thấy người ta bảo dân Mít tị nạn chiếm kỷ lục về bệnh tâm thần ở đây đấy. Bác sĩ sẽ định cho cụ một cái bệnh tâm thần như «ẩn ức lá mơ» hay «dồn nén củ riềng» rồi dùng phương pháp chó trị liệu để chữa cho cụ, tối ngày cụ phải làm bạn với chó…

-Nhưng cậu nghĩ xem…

-Sao cụ?

-Cậu nghĩ coi, hôm trước ngồi gậm xí quách, thấy con chó ngồi chầu, động lòng tôi quăng cho nó mấy cái xương. Thằng con rể Mỹ của tôi chửi toáng lên, con gái tôi cũng hùa theo chửi bố nó. Chúng nó bảo cho chó ăn xương hư răng hư lợi, cậu nghĩ coi, bố chúng nó chừng này tuổi đầu còn gậm xương có sao đâu. Mấy hôm sau chúng nó dắt con chó đi bác sĩ. Thằng bác sĩ chó má nào đó bảo rằng răng con chó bị lung lay, siêu vẹo phải đeo niềng răng, tốn tới mấy trăm đô.

-Cụ lo gì, các con chó nhà giầu có bảo hiểm sức khỏe, bên này mấy hãng bảo hiểm nhân đức và chu đáo lắm…

-Đâu có, con gái tôi nó đay nghiến tôi mãi, nó phải rút tiền trong quỹ tiết kiệm dùng để làm ma chay cho tôi. Cậu biết không? Răng tôi trước đây gậm xí quách có sao đâu, từ ngày giận chúng nó, cả hàm răng đâm ra ê ẩm, xô lệch.

-Chắc tại cụ nghiến răng trèo trẹo chứ gì?

-Đâu có, tại tôi  thấy con chó đeo niềng răng, hàm thiếc đâm ra cả hàm răng của tôi nó lung lay theo.

-Sao cụ không đi nha sĩ.

-Ấy chớ, hôm trước nha sĩ bảo tôi vặn hết hàm răng rồi mang hàm ếch.

-Ở Mỹ già mà không đeo răng giả không phải là một lão công dân tốt.

-Đeo răng giả rồi ăn bột à ! Còn gì cái thú gậm xương.

-Cháu cũng đồng ý với cụ là người Mỹ già và chó Mỹ không có cái thú gậm xương như mình. Nhưng mà thịt ê hề cần gì mà phải gậm xương.

-Nói cù nhầy như cậu tức bỏ mẹ.

Người già trầm ngâm một lúc, có vẻ lo ngại.

-Này cậu, con cái bên này chúng nó có quyền bỏ bố mẹ vào viện dưỡng lão hở cậu?

Nguyễn nhìn vào mắt người già.

-Vâng, nhưng đó là truyền thống văn hóa vì bố mẹ đã không nuôi con cái lúc chúng đã thành niên, nên có qua có lại.

-Tôi nghe nói nhiều người già phải sống bằng thực phẩm chó mèo trong khi con cái tỷ phú!

-Đó là văn hóa mà văn hóa nào cũng có những điểm không thể khen chê được cụ ạ.

Sau một thời gian Nguyễn đã chữa được cái bệnh căm thù chó Mỹ và con cái của người già. Nhiều lần cụ ngỏ ý mời chàng ghé lại nhà chơi…

-Này nói thật với cậu, tôi mến cậu lắm, cậu có vẻ có ăn có học, mặt mũi sáng sủa, sao không tiếp tục đi học, bằng cấp bên này đâu có khó lấy, tội gì đi làm cái thằng bán báo.

-…

-Tội gì, lãnh oen-phe ở nhà mà đi học.

-Tại cháu trót mang dòng máu ngông nghênh trong người.

-Nhiều lúc tôi nghĩ qua đây cuộc đời láo nháo như cháo trộn với cơm, chán thật.

-Cụ mà còn chán đời thì thiên hạ di tản biết thế nào nữa. Cụ có nhà cao cửa rộng, hưởng tiền trợ cấp, được làm ông ngoại, bố Mỹ. Cụ biết không? khi trước lúc quân Mỹ còn tham chiến ở Việt Nam, thấy con gái Việt Nam ăn khách Mỹ quá, cháu đã có lần mơ ước được làm bố Mỹ.

-Ô, mai mốt cậu được làm bố Mỹ như tôi rồi cậu sẽ biết. Các cụ nói « như bố vợ phải đấm », ở cái xứ này câu nói đó thật là thấm thía.

-Hồi đó cháu có làm mấy câu thơ để cháu đọc cụ nghe chơi:

Mìmh ơi,

-Gì ?

-Chiều anh tí đi,

May được con cái đĩ,

Lớn lên cho lấy Mỹ,

Chúng mình thiên hạ gọi:

“Bố Mẹ thằng Hoa Kỳ”!

Người già gật gù một lúc rồi cười khẩy:

-Cậu chửi bố tôi phải không?

-Đâu có cụ, bây giờ cháu cũng được làm bố Mỹ rồi. Các cụ ta bảo làm thơ nó vận vào người đấy.

Ánh đèn phía sau chiếu tới loang loáng, báo chất đầy xe, Nguyễn không thể nhìn qua kính chiếu hậu được. Người già thò đầu ra ngoài, sợ hãi:

-Xe cảnh sát.

-Mặc kệ nó cụ ạ, mình có làm gì phi pháp đâu mà sợ.

Chiếc xe qua mặt, viên cảnh sát ra dấu cho Nguyển ép sát vào lề, đậu lại.

-Chuyện gì vậy cậu?

-Chắc họ tỏ tình bạn dân với mình.

Viên cảnh sát xuống xe, tiến lại gần chàng, nói tiếng Mỹ lưu loát như tiếng mẹ đẻ, không cần biết hai người có hiểu gì không!

-Nó nói gì vậy cậu?

-Ông ta bảo là có người gọi điện thoại báo là cháu bắt cóc cụ.

-Mẹ kiếp, lại cái lũ chó má con tôi đó.

Không đủ ngôn ngữ, người già và Nguyễn lên xe cảnh sát, ung dung. Viên cảnh sát đưa hai người về nhà cụ già. Hai vợ chồng gia chủ, so le như đôi đũa lệch, đứng ở trước cửa nhà chờ sẵn.

Người đàn bà da vẫn còn mầu vàng đất sét, cái miệng và cái chỗ để ngồi trông có vẻ đã giống Mỹ. Người đàn bà mắng người già:

-Sao “đét” lại để nó dụ dỗ như thế, nó bắt cóc “đét” rồi đem đi hãm hiếp “đét” thì sao?

Người già, trước mặt Nguyễn, như muốn lấy lại oai quyền:

-Mày câm cái mồm chó của mày lại.

Người đàn bà giận dữ trút hết bực tức lên đầu Nguyễn:

-Ông có biết dụ dỗ bắt cóc người bên này nặng tội lắm không?

Nguyển im lặng, khinh mạn, nhìn xuống hai bàn chân người đàn bà tìm chân tướng. Hai bàn chân Giao Chỉ cổ lổ, bàn cuốc. Người đàn bà thấy nhột, quay lại góp chuyện cùng chồng và viên cảnh sát. Họ nói ríu rít. Có tiếng chó sủa nghẹn ngào sau hàng rào. Một thoáng sau, chàng mới sực nhớ ra con chó đang đeo niềng răng.

Kết quả cuộc đàm phán tay ba là viên cảnh sát bảo chàng lên xe. Nguyễn mang máng hiểu rằng người ta gán cho mình một cái tội gì đó liện hệ tới bắt cóc người.

Chiếc xe quẹo chữ U quay đầu lại, rồi lao vút đi. Trong một thoáng, Nguyễn thấy người già đưa tay áo lên quệt nước mắt.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: