RÌU VIỆT Ở NAM MỸ CHÂU VÀ ĐA ĐẢO (2)

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

RÌU VIỆT Ở NAM MỸ CHÂU VÀ ĐA ĐẢO

(Phần 2)

Nguyễn Xuân Quang

 

 

Ta đã thấy rõ có sự tương đồng giữa cốt lõi văn hóa Vũ Trụ Tạo Sinh của người Mapuche và cổ Việt. Đặc biệt nhất là sự tương đồng giữa trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn và trống tế kultrun của người Mapuche. Trống tế là dạng nguyên sơ của trống đồng nòng nọc, âm dương diễn đạt Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo giống như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Người Mapuche chưa hề bị thống trị bởi một tộc nào, văn hóa của họ còn giữ được những nét chính thống của văn hóa cổ Đông Nam Á. Điểm này cho thấy rõ văn hóa của đại tộc Đông Sơn qua trống đồng nòng nọc, âm dương là văn hóa bản địa ở Đông Nam Á không phải của Trung Hoa.

Văn hóa người Mapuche thuộc tộc lên núi, con của Nữ Thần Đất Sinh Tạo Mắn Sinh Tren Tren ứng với khuôn mặt của Mẹ Tổ Âu Cơ…

Bây giờ chúng ta hãy nói tới một chứng sử  qua khảo cổ học rất quan trọng là chiếc rìu Việt có mặt trong văn hóa của người Mapuche.

Trước hết xin hãy tìm hiểu chiếc rìu Việt như thế nào.

RÌU VIỆT

Qua bài viết Việt là Gì? Ta đã biết Việt có một nghĩa chính là một vật nhọn, sắc, một thứ Rìu. Việt biến âm với vọt (roi), vớt (con dao lớn cán dài dùng làm vũ khí).

Rìu Việt phải hiểu theo một nghĩa biểu tượng là một tộc biểu, vương biểu, khí biểu. Chúng ta thuộc họ Việt Mặt trời rạng ngời, Mặt trời thái dương dòng thần mặt trời Viêm Đế ngành nọc (vật nhọn, mặt trời) nên các vị vua cổ của chúng ta đều là những Lang (chàng, đục, đực, con trai, dương, mặt trời), đều có những vật, thú biểu  có ý nghĩa biểu tượng cho  Vật Nhọn, Nọc, Đực, Hùng, Dương, Mặt trời thái dương. Trong đó rìu Việt  là vật biểu thiêng liêng của Đại Tộc Việt  Mặt trời thái dương. Ta thấy rõ rìu có một khuôn mặt là Việt biểu qua câu chế riễu người Việt ở vùng quê hãy còn mang hình bóng thuần cổ Việt là “bọn răng đen mã tấu”. Mã tấu (một loại dao, khí giới, một vật sắc nhọn) họ hàng với cây vớt  và răng đen (là nét đặc thù của tộc Việt ngành âm nước Lạc Việt, mầu đen là mầu nước thái âm) là hai nét đặc thù của của  người Việt cổ.

Như thế từ Việt bắt buộc phải hiểu, phải lấy theo nghĩa gốc là vật nhọn (dao Vớt, Rìu).  Điểm chính yếu là ta phải hiểu Việt, Vớt, Rìu là vật biểu, tế biểu của Đại Tộc Việt và phải hiểu theo nghĩa biểu tượng của vật nhọn. Vật nhọn biểu tượng cho đực, nọc, dương, mặt trời. Tên của một dân tộc, một nước bắt buộc phải chọn nghĩa biểu tượng thích hợp nhất là mặt trời. Việt phải hiểu theo ý nghĩa biểu tượng chính yếu và đúng nhất là mặt trời thái dương.

Việt là một loại rìu thờ thiêng liêng rất đặc biệt có hình dáng đặc thù và mang tính cách biểu tượng cho một đại tộc. Đại Tộc Việt được gọi tên theo khí biểu (khí giới biểu tượng) chiếc rìu thờ Việt này.

Rìu Việt như thế nào?

.Rìu Việt Ở Phần Đất Trung Hoa Ngày Nay

Dấu tích lâu đời nhất của rìu Việt gọi là yue theo một tài liệu Trung Hoa là chiếc rìu yue Việt làm bằng ngọc thạch với mục đích trang trí tìm thấy ở Liangzhu cổ  khoàng 5.000 năm (vào thời Tân Thạch). Theo khảo cứu thì rìu yue Việt biểu tượng cho vinh quang (glory). http://edu.ocac.gov.tw/culture/chinese/cul_kungfu/e/5122-5.htm

Hình ảnh đặc biệt của rìu yue Việt còn thấy trong chữ Hán cổ thường gọi là chữ khoa đẩu có hình con lăng quăng (là di duệ của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que của tôi). Chữ này còn ghi khắc trên mai rùa, trên xương gọi là giáp cốt văn. Rìu Yue được diễn tả bằng một chiếc rìu có lưỡi hình vòng tròn có cán dài.

Chữ yuè khắc trên giáp cốt và kim văn có hình rìu lưỡi tròn cong (Wang Hongyuan).

Chữ này thấy vào thời nhà Thương (Shang 1523-1028 BC), cổ hơn ba ngàn năm.

Theo các tài liệu của Hán thư cổ thì rìu Việt Yuè là thứ rìu thờ mang tính biểu tượng. Trong Sử Kí (Shih Ji) của Tư Mã Thiên (Sihma Cian) thì vua Đường (Tang) của nhà Thương cầm rìu Việt và tuyên bố khởi binh đi đánh vua Jie nhà Hạ (Sia). Vua Wu nhà Châu (Jhou) cũng cầm yuè, khi triệu tập các chư hầu ở Muye khởi chiến với vua Châu (Jhou) của Triều Đại nhà Thương. Khi Vương Mãng (Wang Mang) thoán quyền nhà Hán, những lực lượng chống đối nổi lên khắp nơi trong nước. Vương Mãng sai tướng Wang Syun đem quân trấn giữ Luoyang. Syun đánh mất chiếc rìu yue. Một nhà tiên tri cảnh báo cho Syun biết đây là điềm không tốt phải đề phòng cẩn thận. Ngay sau đó Syun bị giết. Những điều này cho thấy nguyên thủy rìu Việt mang tính chất biểu tượng.

Về sau rìu Việt mới dùng làm khí giới. Điểm này cho thấy Đại Tộc Việt dùng chiếc rìu Việt này làm tên gọi cho tộc, cho quốc gia mình là điều dễ hiểu. Thứ rìu dùng làm tên Việt này là rìu mang nghĩa biểu tượng chinh.

Từ dạng hình tròn cong nguyên sơ mang tính cách biểu tượng thuần tùy thấy trên giáp cốt văn này về sau khi dùng thêm công dụng của một rìu chiến thì hình dáng của lưỡi rìu Việt có biến đổi đi thành hình lưỡi bán nguyệt hay tròn cong có móc như chiếc câu liêm (liềm), hình sừng hay hình con dao rựa cong có móc (ngày nay con dao rựa này còn thấy ở miền Trung  và ở các tộc Tây Nguyên).

.Rìu Việt Trên Đất Việt

Rìu Việt là tế vật, vật thờ, vật thiêng liêng của Đại Tộc Việt vì thế khảo cổ học đào thấy rất nhiều rìu thờ trên đất Việt. Chứng tích thờ rìu còn thấy qua những chiếc rìu thờ bằng đá hay bằng đồng Đông Sơn.

Theo Bình Nguyên Lộc các dân tộc người Thượng Việt Nam và Mường ngày nay vẫn còn gọi rìu là cây việt. Tác giả so sánh chữ Việt nguyên thủy đời nhà Thương có hình bán nguyệt với chiếc rìu đào được ở Quốc Oai đã tái tạo lại cái cán bằng cành cây của viện Viễn Đông Bác Cổ. Cả hai có hình giống hệt nhau (Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam tr.156).

 

Nhưng chứng tích cụ thể và vững chãi nhất là hình ảnh rìu Việt thấy trong các loại rìu Đông Sơn.

Các loại rìu thờ Đông Sơn (ảnh của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử Hà Nội).

Ví dụ đặc biệt nhất là chiếc rìu đồng Đông Sơn đã thấy hình ở phần đầu bài mà tôi gọi là rìu Hồng Bàng thế gian.  Chiếc rìu khắc hình giao long, hươu sủa gạc hai mấu và sói lang. Nếu nhìn chung, đây là Rìu Tam Thế (Cõi Trên-Gió-Lang Trời, Cõi Giữa- Đất-Hươu Cọc và Cõi Dưới-Nước-Giao Long), nếu nhìn dưới diện họ Mặt Trời thái dương thì đây là Rìu Hồng Bàng thế gian: Kì Dương Vương-Hươu Cọc, Lạc Long Quân-Giao Long và Hùng Vương thế gian-Lang Trời  (xem thêm Hình Tiêu Biểu Tháng 3, 2010).

Trong các loại rìu Việt thấy khắp nơi, thì rìu Việt Đông Sơn là loại còn ghi khắc lại nhiều biểu tượng của Đại Tộc Việt nhất.

Về sử`liệu thì tên Việt vương Câu Tiễn thời Xuân Thu cũng có thể liên hệ với rìu Việt. Các nhà sử học dựa vào “chữ”, “chữ thánh hiền” có thể giải thích tên Câu Tiễn theo một nghĩa bác học đầy ý nghĩa bóng bẩy nào đó nhưng vì vua Câu Tiễn là người Việt, nếu giải thích theo nghĩa ngang của người Việt thì Câu là cái móc cong như lưỡi câu, cái liềm (câu liêm), Tiễn là Cắt như tiễn mía, là Tiện (cắt) như thợ tiện. Tiễn là vật nhọn như mũi tên như hỏa tiễn (tên lửa). Câu Tiễn là vật sắt bén để cắt chặt hình móc câu. Câu Tiễn có nghĩa ngang là Rìu Việt cong như chiếc Câu Liêm, vị vua này lấy biểu tượng Rìu Việt Câu Tiễn làm bản mệnh.

Ta cũng thấy rõ tại sao “Việt cùng họ với Sở”. Sở biến âm với Sỏ (sọ) với Sừng (sừng sỏ). Sừng là vật  cong, cứng, nhọn, một nghĩa của Việt. Có loại sừng cong nhọn giống câu liêm.

.Rìu Việt Trên Đất Bách Việt Cũ

Dĩ nhiên dấu tích rìu Việt cũng phải còn tìm thấy trong địa bàn của Đại Tộc Việt cũ, nhiều nhất phải còn thấy ở vùng Bách Việt . Thật vậy trong các khảo vật đào tìm thấy ở Nam Trung Hoa có mặt rất nhiều những chiếc rìu Việt Yue. Những rìu yue này hiện đang được trưng bầy ở Viện Bảo Tàng Thành Phố Côn Minh.

Rìu Việt dùng như rìu chiến ở Nam Trung Hoa hiện trưng bầy tại Viện Bảo Tàng Thành Phố Côn Minh (Gary Todd’s galery, http://picasaweb.google.com/lh/photo/i_j6ueMKAPHo9elbzbMOHQ)

Lưu ý hình hai con chim nông hay chim cốc trên hai chiếc rìu ở dưới cho thấy rìu Việt này là rìu biểu tượng. Chim nông, chim cốc thuộc loài chi nước, là chim biểu của ngành nòng, nước của Đại Tộc Việt sống ở vùng sông nước, không phải là chim biểu của văn hóa du mục Trung Hoa. Điều này cho thấy rìu Việt thuộc văn hóa Bách Việt sông biển, lúa nước  (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

……

Tóm lại rìu Việt có những đặc tình như sau:

-nguyên thủy lưỡi có hình chiếc quạt mo hay con nòng nọc mang ý nghĩa thuần túy biểu tượng liên hệ với nòng nọc, âm dương, Vũ Trụ Tạo Sinh, vũ trụ quan của Việt cổ, là vật biểu của một tộc, một quốc gia thuộc Đại Tộc Việt, của Tổ Hùng.

-theo duy dương biểu tượng cho Việt mặt trời thái dương Hùng Vương ngành thần mặt trời Viêm Đế.

-về sau có thêm công dụng làm khí giới, dùng như một khí biểu cho dũng cảm, chiến thằng, vinh quang cho một  người cầm binh, tướng lãnh. Lúc này hình dạng lưỡi có thể biến đổi cho thích hợp với khí giới, lưỡi vòng tròn mở ra thành hình nửa vòng tròn, bán nguyệt, câu liêm, hình sừng, con dao rựa… nhưng vẫn giữ hình cong mang âm tính để rìu vẫn mang biểu tượng cho nòng nọc, âm dương, vũ trụ, càn khôn.

-Rìu Việt là tộc biểu của Đại Tộc Việt, của Tổ Hùng mặt trời-không gian, vũ trụ, tạo hóa, là quốc biểu của Văn Lang, là vương biểu của Hùng Vương.

Rìu Thờ Toki Của Người Mapuche

Qua nguồn gốc từ Đông Nam Á, qua sự tương đồng văn hóa giữa người Mapuche và Việt cổ ta thấy chiếc rìu Việt có mặt ở Nam Mỹ Châu dĩ nhiên là chuyện hợp lý.

Những người Tây Ban Nha đầu tiên khi tiếp xúc với người Mapuche nhận thấy các tù trường cầm một chiếc rìu đá tròn, cong (clava de piedra) như một thứ khí biểu thiêng liêng (sacred ceremonial weapon) tương đương với quyền trượng (scepters), biểu tượng cho oai quyền, quyền lực, sức mạnh, lãnh đạo.

Người Mapuche gọi rìu là toki. Các thủ lãnh chiến đấu (tương đương với tướng lãnh) người Mahuche cũng được gọi là toki có nghĩa là “người cầm rìu” và biểu tượng của cấp bậc của giới chiến sĩ là một sợi dây đeo cổ bằng đá hình cái rìu gọi là tokikura. Vào thời người Tây Ban Nha  tiến chiếm lãnh thổ của Mapuche, tất cả các tộc Mapuche thống nhất lại để đương đầu với người Tây Ban Nha và  bầu ra một vị tổng tư lệnh cầm rìu (cầm trịch), vị này cũng được gọi là Toki. Về sau các tộc trưởng, tù trưởng cũng được gọi là toki.

Ở đây ta thấy rất rõ  là những lãnh tụ chiến đấu, những anh hùng được gọi là Rìu Toki thì một tộc thiện chiến, anh hùng, dũng mãnh như chúng ta được gọi là Rìu là Việt là chuyện đương nhiên. Rìu Việt là biểu tượng tuyệt hảo của Đại Tộc Việt.

Người Đa Đảo cũng gọi rìu là toki (xem dưới). Từ toki liên hệ với ngôn ngữ Đa Đảo dĩ nhiên ruột thịt với Việt ngữ. Chúng ta có con chim có mỏ rất lớn trông như chiếc rìu nên dân dã gọi là con chim rìu tức con chim cắt, Anh ngữ gọi chim này là hornbill, tên khoa học là Rhinoplax vigil, (Forst., Bucerotidae). Người Kelantan, Mã Lai gọi  chim cắt là chim torok. Chim Torok, là chim Rìu, chim Đục và  cái mỏ rìu của loài chim này được giải thích qua câu chuyện cổ tích «torok, burong tebang rumah bapok mentua (Torok, con chim bổ sập nhà bố vợ) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Từ torok có tok = tọc=  thọc = thục = đọc = đục. Chim rìu là chim đục (vật nhọn). Theo đ=n, đọc = nọc, vật nhọn (như đọc ong = nọc ong). Lộc Tục = Lộc Đục (nói tục là nói chuyện đục) =  Hươu Đực, Hươu Nọc. Hiển nhiên Việt ngữ tục, đục ruột thịt với Kelantan ngữ tok, torok, Mapuche ngữ tori. Con chim rìu, chim đục là con chim torok, là con chim (có) tori. Chim cắt là chim rìu, chim nọc, chim tori là chim Việt, chim biểu của họ Nọc Việt Mặt trời thái dương Viêm Đế.

Như đã thấy ở trên, ngay cả tên Mapuchi có thể chuyển qua Việt ngữ có nghĩa là Người của Đất (Núi) thì tori của người Mapuche và Đa Đảo biến âm với Việt ngữ tục, tọc, thục, thọc, đọc, đục (chàng) là chuyện hữu lý.  Ngoài ra  các nhà ngôn ngữ học còn thấy rất nhiều từ Mapuche liên hệ với Đa Đảo (xem dưới).

Như thế qua ngôn ngữ ta thấy ngôn ngữ Mapuche có liên hệ với Đa Đảo, Việt ngữ thì chiếc rìu thờ  thiêng liêng toki hình cong có thể liên hệ với rìu Việt cổ yue là chuyện hữu lý.

Rìu Mapuche có hình dáng giống rìu Việt

-Lưỡi hình tròn mang ý nghĩa biểu tượng vũ trụ quan nguyên thủy của rìu Việt .

Người Mapuche có chiếc rìu thờ thiêng liêng tiêu biểu nhất là chiếc rìu toki có lưỡi hình vòng tròn, hình cái quạt mo tròn giống như chiếc vợt đánh bóng bàn. Đến Chile, du khách thấy hình bóng chiếc rìu hình quạt mo này khắp nơi trong các biểu tượng văn hóa  Mapuche, kỷ vật, đồ trang sức… Tác giả đã đến Bảo Tàng Viện Museo Chileno de Arte Pre-Colombo, ở Santiago, thủ đô Chile để chiêm ngưỡng và chụp hình chiếc rìu này.

Chiếc toki  Clava de Piedra (văn hóa tiền-Colombus, 1300-1500 DC) (Hình của tác giả chụp tại Museo Chileno de Arte Pre-Colombo, Santiago, Chile).

Lưu ý đây là chiếc rìu tiêu biểu nhất của người Mapuche và có hình chiếc quạt mo giống hệt như chiêc rìu Việt Yuè khắc trên giáp cốt. Đây là dạng nguyên thủy của rìu Việt mang ý nghĩa thuần túy biểu tượng. Vì thế chiếc rìu này có trang trí hình mặt trời, hiển nhiên không phải chỉ có mục đích dùng làm vũ khí.

Lưỡi rìu nhìn dưới diện chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thì lưỡi rìu có hình vòng tròn nòng O và con mắt chim là chấm nọc (.) nghĩa là chữ vòng tròn có chầm (chấm vòng tròn mang tính sinh tạo, tạo hóa, mặt trời- không gian, vũ trụ) biểu tượng cho tổ Hùng sinh ra từ cái bọc trứng vòng tròn nòng O và toàn con trai nọc, đực là chấm nọc (.) dưới dạng sinh tạo nguyên khởi.

Ta cũng thấy rìu có hình đầu chim há mỏ, có con mắt là đĩa tròn nhỏ ở tâm. Đây là Rìu con chim mặt trời tức chim biểu tượng cho mặt trời. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là con chim Việt mặt trời thái dương tương đương với chim rìu, chim cắt tức chim Việt, là chim biểu tượng cho của Đại Tộc Việt mặt trời thái dương có các vua Hùng, con cháu thần mặt trời Viêm Đế có họ Khương, sừng (vật nhọn cong như rìu Việt).

Rìu Việt này trông giống hình chiếc quạt mo biểu tượng cho sinh tạo, bầu vũ trụ, bầu trời, khí, gió. Theo biến âm qu = v (quấn = vấn), ta có Việt ngữ quạt = Phạn ngữ vát, quạt (động tứ), với vâta, gió. Theo v=m, Phạn ngữ vát (quạt) = vâta (gió) = Việt ngữ mát. Quạt thì mát, có gió thì mát. Như thế quạt có một khuôn mặt biểu tượng cho Hùng Vương. Xin nhắc lại Hùng Vương phải được hiểu và nhìn dưới mọi góc cạnh của lăng kính Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Nếu nhìn dưới dạng nhất thể, thái cực,  sinh tạo, tạo hóa, lúc này nọc còn dưới dạng sinh tạo là chấm nọc (.)  thì rìu Việt quạt mo nòng nọc, âm dương, dưới dạng nhất thể biểu tượng cho Tổ Hùng với khuôn mặt Sinh Tạo, Tạo Hóa ứng với Thái Cực, Trứng Vũ Trụ (có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là vòng tròn có chấm). Ở tầng lưỡng nghi, nọc ở dạng trưởng thành hình que (I), nhìn theo diện thiếu âm (IO) nguyên thể của gió ứng với khuôn mặt bầu trời thế gian thì quạt mo đọc theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, đọc từ dưới lên, ta có cán là nọc (I), mặt quạt tròn nòng (O), ta có IO, thiếu âm, lúc này quạt mo biểu tượng cho khuôn mặt thế gian của Hùng Vương là bầu trời, khí gió. Nếu nhìn theo diện duy dương của dòng nọc thần mặt trời Viêm Đế của các Lang Hùng thì lúc này quạt là quạt giấy có 18 chiếc nan hình rẽ quạt biểu tượng cho Hùng Vương với khuôn mặt mặt trời mọc, mới sinh ra từ bọc Trứng Vũ Trụ.

.Lưỡi hình bán nguyệt hay hình câu liêm giống rìu Việt.

Khi dùng thêm làm khí giới chiếc rìu thiêng thuần túy biểu tượng này của người Mapuche cũng có những biến dạng trông như cái liềm, chiếc sừng hay con dao rựa có mũi cong hình móc như rìu Việt.

Rìu thờ cong hình câu liêm, hình sừng hay con dao rựa đầu có móc cong (ảnh của tác giả chụp tại Museo Chileno de Arte Pre-Colombo, Santiago, Chile).

Rìu toki biểu tượng cho mặt trời giống Rìu Việt

Như đã biết Rìu Việt phải hiểu theo nghĩa biểu tượng linh thiêng của một đại tộc nghĩa là rìu, một vật nhọn có một khuôn mặt biểu tượng mặt trời. Điểm này ta cũng thấy rất rõ rìu thờ Mapuche cũng có một khuôn mắt biểu tượng cho mặt trời như thấy rõ hình mặt trời còn ghi khắc lại trên rìu toki của người Mapuche.

1. Ở hình rìu đá toki Clava de Piedra hình quạt mo ở trên ta thấy rõ rìu có hình đĩa tròn mặt trời trong có hình mặt trời có tia sáng thái dương hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) giống như hình mặt trời thái dương trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

2. Ngoài ra cũng thấy một chiếc rìu có hình như móc câu, câu liêm, hình sừng hay như con dao rựa (dao đực) trên có chạm hình con mắt.

Rìu toki người Mapuche hình câu liêm, hình sừng hay con dao rựa của miền Trung hay Tây Nguyên Việt Nam.

(Hình trích trong The Mapuches of Neuquén, Art and Culture in the Argentine Patagonia, vì quá vội tôi quên lấy tên tác giả).

Như đã biết con mắt biểu tượng cho mặt trời như thấy trong Ai Cập cổ.

3. Rìu hình chim “Rìu”

Như đã thấy chiếc rìu hình quạt mo ở trên diễn tả hình đầu chim mặt trời. Hiện thực hơn là chiếc rìu toki tìm thấy ở Laguna Purailla làm bằng đá andesite đen chà bóng có hình đầu chim. Chiếc rìu này đã bị ăn cắp vào năm 1990. May mắn còn lại hình phác họa đăng trong Archaeological Journal of La Serena.

Rìu toki có hình đầu chim tìm thấy ở Laguna Purailla.

(www.lagotodoslossantos.net/en/lake.htm).

Mỏ chim rất lớn, rất vững và có “phụ đề” các răng như răng của hai gọng kìm mang đầy dương tính cho thấy đây là giống chim biểu tượng cho nọc, dương, mặt trời. Với mỏ cứng nhọn, sắc như chiếc kìm, con chim này mang hình bóng của chim rìu, chim Việt, chim cắt, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế.

Như vậy ta thấy rõ như dưới ánh sáng mặt trời là rìu toki của người Mapuche có một khuôn mặt là rìu biểu của mặt trời, của tộc mặt trời. Điểm này hỗ trợ, kiểm chứng lại cho thấy Rìu Việt có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời, là rìu biểu của Đại Tộc Việt mặt trời thái dương con cháu thần mặt trời Viêm Đế đúng như đinh đóng cột.  Việt là mặt trời thái dương đúng trăm phần trăm.

Qua sự kiện rìu thờ toki Mapuche liên hệ với mặt trời, sự thờ phượng mặt trời thì Mapuche liên hệ với tộc Đại Tộc Việt Mặt Trời thái dương, trong đó có người Đông Sơn. Người của đại tộc Đông Sơn thuộc Đại Tộc Việt Mặt Trời thái dương thấy rõ qua sự hiện diện của  mặt trời ở trên mặt  bất cứ một trống đồng nào.

Tóm lại rìu thờ toki của người Mapuche có những đặc tính của rìu Việt:

-theo nghĩa thuần túy biểu tượng, rìu Việt biểu tượng cho sinh tạo, tạo hóa  theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp, rìu có hình con nòng nọc hay quạt mo.

-theo nghĩa biểu tượng cho mặt trời giáo, thì rìu có trang trí những biểu tượng cho mặt trời, rìu Việt là rìu biểu của tộc mặt trời thái dương.

-nếu dùng như rìu chiến, thì rìu Việt có thêm ý nghĩa biểu tượng cho dũng khí, anh hùng, chiến thắng, vinh quang…

Rìu toki người Mapuche mang hình dáng và ý nghĩa giống hệt như  rìu Việt của Đại Tộc Việt.

Kết Luận

Sự hiện diện của rìu Việt ở Nam Mỹ châu nói lên những điểm thiết yếu sau đây:

-người Mapuche từ Đông Nam Á, địa bàn của Đại Tộc Việt, đi qua Mỹ châu đúng như khảo cứu DNA đã cho biết.

-văn hóa người Mapuche tương đồng với văn hóa cổ Việt.

– rìu toki của người Mapuche còn ghi khắc lại rành rành cho thấy có một khuôn mặt liên hệ với sự thờ phương mặt trời, là rìu biểu của mặt trời. Điểm này hỗ trợ, xác thực cho những điều tôi đã viết là Việt có gốc nghĩa là rìu thì phải hiểu Việt theo nghĩa biểu tượng là Việt mặt trời thái dương, dòng thần mặt trời Viêm Đế, còn hiểu nghĩa Việt theo các nghĩa khác của chữ Hán chỉ là những nghĩa phụ đã muộn hay theo suy diễn. Với bằng chứng cụ thể qua rìu Việt mặt trời, thờ phương mặt trời của người Mapuche này mà các nhà làm văn hóa Việt chưa tin những điều tôi viết về tên Việt của Đại Tộc Việt, của Việt Nam thì tôi xin… chào thua.

……

Tuy nhiên còn một hai câu hỏi cần phải trả lời là: rìu Việt Yue có mặt trong văn hóa cổ Trung Hoa như thế người Trung Hoa và các tác giả tôn thờ văn hóa Trung Hoa có thể đòi quyền sở hữu chủ cho rằng rìu yue là của Trung Hoa được không? Rìu Việt toki của người Mapuche có cùng tên gọi toki với rìu lưỡi cong Việt thấy ở Đa Đảo, như thế rìu toki của người Mapuche có phải đến từ Đa Đảo hay không? Người Mapuche đến Nam Mỹ châu qua ngả đường từ ĐôngNam Á đi xuống Nam Hải rồi tới Chile? Để trả lời, ta hãy tìm hiểu về rìu toki của Đa Đảo.

(còn tiếp).


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: