HAI CHỮ NÒNG NỌC NGÀY NAY CÒN THẤY TRƯỚC MẮT HÀNG NGÀY

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

HAI CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE NGÀY NAY

CÒN THẤY TRƯỚC MẮT HÀNG

NGÀY.

Nguyễn Xuân Quang

Hai chữ nòng nọc vòng tròn-que ngày nay chúng ta còn thấy trước mắt hàng ngày là chữ nòng vòng tròn O và nọc tam giác Δ .

Trước hết xin mời đọc giả hãy vào “phòng nghỉ ngơi” (rest room) làm vệ sinh cho thoải mái rồi hãy đọc bài viết này. Nhưng hãy coi chừng, phải nhìn kỹ bảng hiệu kẻo không lại đi nhầm phòng mà mang họa. Phòng vệ sinh ở Hoa Kỳ hay một vài nơi trên thế giới thường có bảng hiệu chỉ rõ:

-Phòng vệ sinh nữ có bảng hiệu là vòng tròn đặc thường thấy nhất là trong có phụ đề thêm một hình người nữ mặc váy:

Cẩn thận hơn để tránh lầm lẫn và dùng cho người biết chữ Anh thì có phụ đề thêm chữ WOMEN ở dưới.

-Phòng vệ sinh nam có bảng hiệu là hình tam giác thuận đặc thường thấy nhất là trong có phụ đề một hình người nam, có hay không có phụ đề thêm chữ MEN:

-Phòng vệ sinh dành cho cả hai phái có bảng hiệu là hình tam giác nằm trong vòng tròn:

.thường thấy có phụ đề thêm hình người nữ/nam và chữ Women/Men:

.nhưng có trường hợp chỉ là hình tam giác nằm trong vòng tròn:

Phòng vệ sinh công cộng dành cho cả hai phái nam nữ tại một đường phố ở Hoa Kỳ có bảng hiệu hình tam giác thuận nằm trong vòng tròn. Đây là một nhà “vệ sinh siêu hiện đại”. Bồn cầu tự động rửa sạch, tẩy thuốc sát trùng, sấy khô, xịt hương thơm, rồi tự động gấp lại dấu kín vào trong tường.

Lưu ý khung trắng ở phía trên bảng hiệu tam giác/vòng tròn (nam/nữ) cho biết bên trong còn trống không, chưa có người, khi có người sẽ hiện lên chữ “occupied” (bận, có người).

Trong trường hợp chỉ có hình tam giác nằm trên/trong vòng tròn, không có phụ đề hình hay chữ này nhiều người không hiểu ý nghĩa của bảng hiệu, thấy người khác phái dùng chung rất ngại hay sợ hãi không dám dùng (sau khi đọc bài này sẽ không còn sợ nữa).

Qua các bảng hiệu này ta thấy vòng tròn biểu tượng cho phái nữ và hình tam giác thuận đỉnh chỉ thiên biểu tượng cho phái nam. Đây chính là hai chữ nòng nọc vòng tròn-que từ ngàn xưa còn lưu lại ngày nay: chữ vòng tròn nòng đặc và chữ nọc tam giác thuận đặc có hình nọc mũi mác (răng cưa, răng sói).

Chữ nòng vòng tròn đặc

Chữ nòng vòng tròn đặc ở đây phát gốc từ chữ Nòng O, một trong hai mẫu tự căn bản của chữ nòng nọc vòng tròn-que mang trọn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh của ngành nòng, âm. Vòng tròn biểu tượng chung cho nòng, âm như biểu tượng cho hư không, không gian âm, mặt trời nữ, mặt trăng nữ… Áp dụng riêng cho phái nữ, vòng tròn biểu tượng cho âm, cái, phái nữ, bộ phận sinh dục nữ, Việt ngữ O là cô, mụ (xem Chữ Viết Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

Tùy theo tính chất năng động trong sinh tạo và ở các tầng sinh tạo khác nhau, bộ phận sinh dục nữ có thể được diễn tả theo nhiều dạng phát gốc từ chữ nòng vòng tròn:

.Chữ nòng một vòng tròn có một khuôn mặt biểu tượng cho lỗ sinh dục nữ thấy qua hình linga-yoni của Ấn giáo có hình trụ nọc linga cắm trên một cái bệ tròn yoni như thấy trưng bầy ở Viện Cổ Chàm Đà Nẵng (xin nhắc lại là yoni nguyên thủy có hình lỗ tròn về sau dương hóa thành yoni có hình vuông) (xem chương Chữ Nòng Nọc Trong Giải Độc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á).

.Chữ nòng hai vòng tròn đồng tâm cũng biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ như thấy qua hình cái cối đá của người Dogong, Somali, châu Phi. Cối biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ diễn tả bằng hai hình vòng tròn đồng tâm.


 

Ngôi làng Dogong, Mali, Africa (Duly, Colin hình 3, tr.40).

Phía trái, âm có tảng đá dùng “nghiền dầu” biểu tượng bộ phận sinh dục nữ [Stone for oil crushing, (female genitalia)] có hình hai vòng tròn đồng tâm. Tảng đá “ép dầu” thật ra là một cái cối. Cối biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ này đối ứng với chiếc bàn thờ của làng hình dương vật [Village altar (male sex organ)] có thể coi như hình chiếc chầy biểu tượng bộ phận sinh dục nam ở phía tay phải, dương. Ngôi làng hình trứng này chuyên chở Vũ Trụ luận.

.Chữ nòng ba vòng tròn đồng tâm cũng biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ như thấy qua hình Thần Nữ Thiên Nhiên Lajjagauri của Ấn Độ có bộ phận sinh dục hình cái hoa có ba vòng tròn đồng tâm.


(Devidutt Pattanaik, Myth = Mithya, Penguin Books India, 2006).

.Vòng tròn đặc dĩ nhiên cũng biểu tượng lỗ sinh dục nữ. Điều này thấy rất rõ qua hình vòng tròn đặc trong có phụ đề bằng dấu Vệ Nữ Venus biểu tượng cho nữ:


.Vòng tròn là thiết diện của hình cầu tròn vì thế quả cầu tròn cũng có thể biểu tượng cho túi sinh dục nữ. Ví dụ hình thần Shiva lưỡng tính phái (ái nam ái nữ), tay phải cầm bộ phận sinh dục nam linga, tay trái cầm quả cầu tròn yoni biểu tượng cho “bầu” tròn sinh dục phái nữ (túi, bao âm đạo, dạ con).


Hình thần Shiva lưỡng tính phái tay phải cầm linga, tay trái cầm túi cầu tròn yoni (ảnh tác giả chụp tại một Viện Bảo Tàng ở Sydney, Úc).

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn những cái gọi là “hoa văn” vòng tròn đơn (hay có chấm, có tiếp tuyến), vòng tròn kép đồng tâm, ba vòng tròn đồng tâm là những chữ nòng của chữ nòng nọc vòng tròn-que (xem Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Do đó ở các bảng hiệu phòng vệ sinh, vòng tròn đặc dùng làm biểu tượng cho lỗ bộ phận sinh dục nữ chỉ phái nữ là chuyện tất nhiên.

-Chữ nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) đặc hay hình tam giác thuận.

Hình nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) đặc hay hình tam giác thuận ở đây phát gốc từ chữ Nọc que I. Hai nọc que kết hợp lại thành nọc mũi mác và ba nọc que kết hợp lại thành hình tam giác thuận. Nọc mũi mác, nọc tam giác có cùng một nghĩa như nọc que chỉ khác về tính chất năng động trong sinh tạo vì ở các tầng sinh tạo khác nhau.

Nọc que là một trong hai mẫu tự căn bản của chữ nòng nọc mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của ngành nọc dương. Ở tầng thứ nhất lưỡng nghi, phía cực dương, nọc có hình que, ở tầng thứ nhì nọc có hình mũi mác (răng cưa, răng sói) và ở tầng thứ ba Tứ Tượng nọc có hình tam giác thuận biểu tượng cho dương, đực, phái nam, bộ phận sinh dục nam, mặt trời nọc, tia sáng nọc thái dương hay siêu thái dương, Càn, không gian siêu dương, lửa vũ trụ, chữ A, Λ

(do ba hay hai nọc ghép lại) và tên các tổ phụ khởi đầu bằng chữ A mang dương tính thuộc ngành nọc, dương, mặt trời… (xem Chữ Viết Nòng Nọc).

Ở đây chữ viết nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) đặc hay hình tam giác thuận có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam nên dùng làm bảng hiệu chỉ phái nam.

Trong The Da Vinci Code, Dan Brown gọi nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) là blade (lưỡi sắc nhọn) và cho có nghĩa là hình bộ phận sinh dục nam nguyên sơ (rudimentary phallus).

Xin đưa ra một hai ví dụ tiêu biểu là hình tam giác biểu tượng cho dương, nam, lửa, mặt trời, thái dương, siêu thái dương, Càn.

.Trong phong thủy Trung Hoa, hình tam giác biểu tượng cho Lửa, vòng tròn biểu tượng cho hành kim loại (hàm ý khí, khí gió, không khí, không gian), hình sóng nước biểu tượng cho hành Nước.

(Lillian Too, Smart Feng Shui, Barnes & Noble Books, NY 2001).

Tiện đây cũng xin nhắc lại là ở đây cho thấy theo phong thủy, Dịch Trung Hoa “Circles link to the Metal Element” (vòng tròn liên kết với Hành Kim Loại). Kim loại lại dùng làm biểu tượng cho khí, không khí nên còn gọi là kim khí. Thật là gượng ép khi cho rằng vòng tròn biểu tượng cho kim loại. Đâu phải kim loại nào cũng tròn! Ta thấy rõ theo chữ viết nòng nọc, theo Dịch nòng nọc (Dịch của đại tộc Đông Sơn) rất chính thống và rất nguyên thủy là vòng tròn, chữ nòng vòng tròn O biểu tượng cho hư không, không gian tức khí, không khí vì thế khí, không khí mới có biểu tượng là vòng tròn. Trung Hoa vẫn giữ vòng tròn biểu tượng cho khí cùa Dịch nòng nọc nguyên thủy mà lại đem gán cho kim loại, kim khí!

Hình nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói), tam giác vạch trên đá (petrglyph)như của thổ dân Mỹ châu ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ có nghĩa là “ban mai”, “ngày” nghĩa là liên hệ với mặt trời tức dương (Rick Harris, Southwest American Indians ).

.Trên đồ đồng Đông Sơn.

Tia sáng mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có hình nọc mũi mác, mũi tên (răng cưa, răng sói) diễn tả mặt trời thái dương. Đây là mặt trời thái dương không phải là ngôi sao như một số người lầm tưởng. Trống có một nghĩa là đực (gà trống) là biểu tượng của ngành đực, dương, mặt trời. Trống thái mặt trời dương là trống biểu của Hùng Vương (Hùng có một nghĩa là Đực). Dương có một nghĩa là mặt trời, là nhật, là ngày trong khi đó sao chỉ xuất hiện về đêm, sao mang âm tính không thể có mặt trên trống biểu tượng cho ngành trống, ngành đực, mặt trời thái dương.

Tia sáng nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) của mặt trời trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Nọc mũi mác này có khi diễn tả bằng hình tam giác đặc mang ý nghĩa nọc thái dương ví dụ tia sáng diễn tả bằng nọc tam giác thấy ở hình mặt trời tại Trung Tâm Tế Lễ của Thổ Dân Tibes, Purto Rico.

Tác giả ngồi trên một tia sáng nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) hình tam giác của một di tích hình mặt trời ở đền thờ Thần Mặt Trời tại Trung Tâm Tế Lễ của Thổ Dân Tibes, gần Poncé, Puerto Rico.

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn hình tam giác biểu tượng cho nọc dương, nam, thái dương, lửa vũ trụ Càn như thấy ở trống lửa vũ trụ Càn Đông Sơn IV.

Trống lửa vũ trụ Càn Đông Sơn IV.

 

Trống có mặt trời tám nọc tia sáng mũi mác (răng cưa, răng sói) là trống Càn (Khôn). Hình cò Càn có đầu giống bộ phận sinh dục nam đang cương cứng trong có phụ đề chữ nọc que. Hai vành nọc mũi mác hay hình tam giác mang ý nghĩa thái dương, Càn. ai vành  nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) bên trong có phụ đề ba chấm nọc xếp theo hình tam giác, hình núi tháp (chấm nọc có một nghĩa là bụi đất, tức đất khô, dương) có nghĩa là thái dương, lửa, ở tầng Tứ Tượng là tượng lửa, núi lửa, đất thế gian dương ứng với Li (lửa thế gian).

Trên trống Làng Vạc II, h

 

Trống Làng Vạc II.

Kiểm chứng lại ta thấy rất rõ trống này là trống có mặt trời 10 tia sáng hình nọc mũi mác là trống Li/Khảm (số 10 là số Khảm nước thế gian hôn phối với Li, lửa thế gian).Những vành giới hạn có chấm nọc cũng mang dương tính. Các khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có hình 5 nọc mũi mác chồng lên nhau. Số 5 là số Li, lửa thế gian. Tất cả các chi tiết của trống đều mang dương tính nọc.

Rõ hơn nữa, trên trống Phú Xuyên (còn gọi là trống Stockhom vì hiện để tại đây), các con cò có chữ tam giác ở giữa hai cánh cho thấy cò mang tính lửa (cò lửa vũ trụ Càn hay cò lửa thế gian Li), thái dương.

Cò trên trống Phú Xuyên ở giữa hai cánh có hình nọc tam giác thuận.

 Kiểm chứng thêm ta cũng thấy trống còn có nhiều yếu tố nọc, dương, lửa, thái dương như vành cò có 6 con. Số sáu là số âm thái dương. Trống có hai vành nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) ở ngoài biên trong có phụ đề nọc chấm mang nghĩa nọc, dương, lửa, thái dương, ở tầng Tứ Tượng, hình tam giác biểu tượng cho lửa thế gian Li, đất dương núi tháp nhọn (núi lửa hình tháp có thiết diện đứng hình tam giác). Những vành giới hạn có chấm nọc cũng mang dương tính. Các khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có hình 5 nọc mũi mác chồng lên nhau. Số năm là số Li, lửa thế gian.

Vành chính yếu có bốn con thú có hai sừng đang há miệng sủa là con mang sủa (Cervulus muntjac, barking deer), Mã Lai ngữ gọi là kijang, chính là Việt ngữ Kì Dương. Con thú này là thú biểu của Đất dương Li (núi tháp, núi Kì) của Kì Dương Vương.

Tất cả các chi tiết của trống đều mang dương tính nọc. Con cò chữ nọc mũi  tên (mũi mác,răng cưa, răng sói), tam giác là con cò nọc lửa, mặt trời, thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống này là trống biểu của tộc Đất dương núi nhọn hình tháp, núi Kì theo hệ Kì Dương Vương (xem Thế Giới Loài Vật trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Trên thạp đồng Hợp Minh những con chim nước có mỏ hình nọc mũi mác, hình tam giác (có con bay phóng xuống nước, có con từ dưới nước bay lên ở giữa hai chiếc thuyền, có con bay từ dưới lên ở phía trên ở cảnh giã chầy cối và có các con đang đi) là những con chim nước mang dương tính. Đây chính là những con chim Bổ Nông (Bổ với dấu hỏi) (Bổ là búa, buồi, vật nhọn, mang dương tính, nọc I). Chim bổ nông biểu tượng cho dương ( bổI) của nòng âm (nông O), tức thiếu âm (IO) tức Khôn dương khí gió là chim biểu của đại tộc Nông của ngành Thần Nông của Đại Tộc Việt trong khi đó con Bồ nông (Bồ với dấu huyền, bồ là bầu, bao bọc, nòng O) biểu tượng cho âm (bồ O) của âm (nông O) là thái âm (OO) của đại tộc Nước, Thần. Bồ nông là chim biểu của đại tộc Thần của ngành Thần Nông (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

 

 

Chim bổ nông có đầu hình nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) hay tam giác bay từ mặt nước lên ở giữa hai chiếc thuyền trên thạp đồng Hợp Minh (Hà Văn Phùng, Di Tích Hợp Minh Yên Bái…, Khảo Cổ Học số 4-1995).

Tam Giác Ngược và Ngôi Sao Sáu Cánh

Vòng tròn biểu tượng cho nòng âm của ngành nòng âm trong khi tam giác ngược (đỉnh chỉ địa) biểu tượng cho âm ngược với tam giác thuận (biểu tượng cho dương) của ngành dương. Vì thế tam giác ngược mang âm tính biểu tượng cho âm thái dương, âm siêu dương. Hình tam giác ngược ai cũng biết cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Nổi tiếng nhất là cái hình tam giác ngược “vành ra ba góc da còn méo” tả cái quạt giấy xếp của Hồ Xuân Hương. Các bà có cái quạt Hồ Xuân Hương nên các bà nhất là các mệnh phụ phu nhân hay cầm quạt để khoe cái quạt đặc biệt của mình. Vì thế quạt hình tam giác ngược cũng là biểu tượng của phái nữ ở cả Đông lẫn Tây. Do đó quạt hình tam giác ngược Hồ Xuân Hương cũng được dùng làm bảng hiệu chỉ phòng vệ sinh phái nữ như thấy ở một nhà vệ sinh phái nữ trong lâu đài của dòng họ Serralles, chủ nhân hãng rượu Rum Don Q (Don Quichote) nổi tiếng, bây giờ lâu đài này dùng làm bảo tàng viện (El Museo Castillo Seralles) ở Poncé, Puerto Rico.

Thổ dân Mỹ châu ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ có hình khắc trên đá hình tam giác nghịch có nghĩa là “đêm” tức âm ngược với hình tam giác thuận có nghĩa là ngày đã nói ở trên.

Như thế ta phải hiểu là bộ phận sinh dục nữ khi nhìn phía bên ngoài được diễn tả bằng hình tam giác ngược thì thuộc ngành dương, thái dương, siêu dương cùng ngành với tam giác thuận dương, trong khi nòng vòng tròn O biểu tượng cho lỗ bộ phận sinh dục nữ thuộc ngành nòng âm đối ngược với ngành nọc que dương.

Hai tam giác thuận nghịch mang tính dương âm thấy rõ nhất qua hình ngôi sao sáu cánh do hai tam giác thuận và nghịch chồng lên nhau. Tam giác này cũng được gọi là cái “ấn của Solomon” (“Seal of Solomon”) hay “Magen David” được cho là có nguồn gốc tối cổ, theo tôi nguồn gốc có từ chữ viết nòng nọc. Nó đã thấy trong các nền văn hóa cổ đại như ở Lưỡng Hà Mesopotamia và là dấu biểu linh thiêng thấy ở các phế tích từ Maya ở Mexico, Guatemala cho tới Nepal và Tibet. Theo J.E. Cirlot biểu tượng này diễn tả sự hôn phối giữa Lửa, dương và Nước, âm trong linh hồn con người. Trong Ấn giáo và phái mật tông của Phật giáo sự kết hợp giữa hai tam giác này dùng làm biểu tượng cho sự hôn phối tình dục của hai nguyên lý nòng nọc, âm dương của vũ trụ. Ví dụ ngôi sao sáu cánh Ấn giáo:

Ngôi sao sáu cánh của Ấn giáo (hình tác giả chụp tại một ngôi đền ở Ấn Độ).

Hai hình tam giác thuận dương và nghịch âm chồng lên nhau tạo thành ngôi sao 6 cánh, biểu tượng cho giao phối hai cực nòng nọc, âm dương, giữa thần Shiva và nữ thần Shakti. Sự hôn phối nòng nọc, âm dương này tạo ra vũ trụ. Ba đỉnh của tam giác thuận trong ngôi sao biểu tượng cho ba vị thần nam Brahma, Shiva, Vishu

 

và ba đỉnh của tam giác nghịch biểu tượng cho ba vị thần nữ Saravasti, Shakti và Lakshmi.

Ngôi sao David của Do Thái giáo cũng có một nghĩa nòng nọc, âm dương giao phối. Quan niệm giao phối vũ trụ này thấy trong Jewish Kabbbala thần bí, được cho là Zivug ha Kadosh, sự hôn phối thiêng liêng giữa dương và âm của các biểu trưng của thượng đế.

Như thế hình ngôi sao sáu cánh diễn tả sự giao phối giữa nòng nọc, âm dương, càn khôn, trời đất, vũ và trụ.

Qua chữ tam giác ngược là khuôn mặt âm của tam giác thuận của ngành dương này ta rút ra một điểm rất quan trọng để so sánh Việt Dịch Nòng Nọc Đông Sơn và Dịch Trung Hoa.

Chữ nòng vòng tròn biểu tượng cho nòng âm, hào nòng trong Dịch nòng nọc trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là thuộc cực nòng âm O. Trong khi Trung Hoa đã dùng vạch (hào) que đứt đoạn biểu tượng cho âm, hào âm là khuôn mặt âm của nọc que hào dương, ngành dương. Ta thấy rất rõ âm dương trong Dịch Trung Hoa đều thuộc về cùng một ngành nọc que, dương. Dịch Trung Hoa là dương Dịch trong khi nòng nọc, âm dương của Dịch nòng nọc được diễn tả là hai hào nòng vòng tròn O và nọc que I thuộc về hai ngành, hai cực nòng nọc, âm dương khác nhau, đúng với hình ảnh bộ phận sinh dục nam nữ, đúng với nguyên lý nòng nọc, âm dương của Dịch hơn. Dịch Trung Hoa mang dương tính là Dịch muộn xuất hiện vào thời xã hội đã ngả về phụ quyền cực đoan, nòng nọc, âm dương không còn đề huề nữa. Bảng hiệu vòng tròn đặc ở phòng vệ sinh nữ cũng cho thấy hào âm vạch đứt đoạn trong Dịch Trung Hoa không nguyên thủy.

Tóm lại

Hình vòng tròn đặc và hình tam giác thuận đặc ngày nay dùng chỉ nữ, nam mà chúng ta thấy hàng ngày tại phòng vệ sinh là hai hình dấu, chữ viết nòng nọc nguyên thủy phát gốc từ chữ nòng vòng tròn O lấy từ hình ảnh lỗ sinh dục nữ và từ hình ảnh nọc que (I) bộ phận sinh dục nam, đúng như câu thơ của Hồ Xuân Hương: “Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không”. Chữ chữ nòng nọc vòng tròn-que do tôi khám phá ra gồm hai chữ cái là nòng vòng tròn O và nọc hình que I là chữ nòng nọc nguyên thủy. Chữ nòng nọc vòng tròn-que nếu hiểu theo nghĩa con nòng nọc thì phải hiểu con nòng nọc là con có thân hình tròn Nòng và đuôi hình Nọc que. Chữ khoa đẩu của Trung Hoa, chữ Ấn Độ, chữ Thái, Miên, Mường cổ… có hình con lăng quăng hay hình ngọn lửa (hỏa tự) chỉ là thứ chữ di duệ, con cháu của chữ Nòng Nọc vòng tròn-que nguyên thủy do tôi khám phá ra mà thôi.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: