TRÒ CHƠI, TRỜI CHO (Thơ Chữ Nghĩa).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

NHỮNG VẦN THƠ CHỮ NGHĨA

Những vần thơ CHỮ NGHĨA này cho thấy Tiếng Việt (thật là) Huyền Diệu.

Bài thơ này viết theo thể loại NÓI LÁI.

TRÒ CHƠI, TRỜI CHO (1).

Nguyễn Xuân Quang

 

Của  em có đấy, cấy đó tiên sò, (2)

 

 

Cò nọc ta đây, cò cứng cọc nò, (3)

Cò mới hến, duyên này hên mới có, (4)

Trò chơi cò với hến, của trời cho.

 

 

 

 

 

CHÚ THÍCH

 

1. Trò chơi nói lái là trời cho.

2. –Có đấy nói lái là cấy đó.

Từ cấy là biến âm của cái có cùng nghĩa với cái. Theo ay = ai như Yên Báy = Yên Bái, ta có cấy = cái.  Cái dùng như một danh từ và một phụ từ:

a.    Từ cái = cấy dùng như một danh từ

có nghĩa chỉ cái (giống phái) (xem Âm Dương Trong Tiếng Việt, Tiếng Việt Huyền Diệu), phái nữ (mẹ, con gái). Cái có nghĩa là mẹ như nàng về nuôi cái cùng con, con dại cái mang…… và cái, cấy có nghĩa là con gái (theo c=g, như cài = gài, ta có cấy = cái = gái) như thấy qua câu nói ở Huế:

Con trai họ Võ thì lấy,
Con cấy họ Võ thì đừng
.

(Bình Nguyên Lộc, Lột Trần Tiếng Việt).

Con cấy là con gái, từ này còn dùng nhiều ở Bình Trị Thiên.

b. Từ cái, cấy dùng như một phụ từ (article).

Ví dụ cái gì? = cấy gì?, cấy ni, cấy nớ, cấy nồi…

Ở đây cấy đó với cấy = cái có một khuôn mặt là một phụ từ có nghĩa là cấy đó = cái đó.
Từ đó chỉ bộ phận sinh dục nữ. Tại sao đó lại chỉ bộ phận sinh duc nữ? Có hai lý do, hiểu theo hai cách:

. Từ đó vốn là một đại danh từ chỉ nơi chỗ.

Ta có đó = đấy. Với đ câm như đủn = ủn (xe), đẩy = ẩy, ta có đấy = ấy, cái đó = cái đấy = cái ấy. Từ cái ấy là từ dùng tránh né nói thẳng, nói toẹt ra tên bộ phận sinh dục.
Từ ấy sau dùng như một danh từ, động từ (ấy ấy) hay dùng như một tiếng lóng chỉ bộ phận sinh dục để tránh thô tục.

. Từ đó là một danh từ chỉ vật bắt cá.

Cái đó, vật bắt cá, đơm đó, có hình cái túi hình ống bầu tròn. Vật hình túi, hình ống bầu tròn mang ý nghĩa biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Đó bắt cá chỉ bộ phận sinh dục nữ thấy qua câu:

Đó rách ngáng chỗ.
(tục ngữ).

Câu này ý nói mấy bà vợ già cái đó đã mòn, đã rách, đã cũ ngăn cản, ngáng chỗ các ông đi tìm những cái đó còn nguyên si, còn mới.

Cái đó là cái ấy và cũng là cái đó bắt cá, cả hai đều chỉ bộ phận sinh dục nữ. Ôi tiếng Việt thật là huyền diệu!

Tiên sò là sò tiên. Sò của tiên, sò đẹp như tiên. Dân dã miền Nam gọi theo ngôn ngữ bình dân là con l… tiên.

3. Cò nọc nói lái là cọc nò.

là một thứ bẫy cá.

Chồng chài, vợ lưới, con câu,

Con trai đứng đáy, nàng dâu ngồi nò.

(ca dao)

Nò biến âm với lờ (n=I như nòng súng = lòng súng), họ hàng với lờ, đó. Chỗ dòng nước chẩy ngoài sông, người bắt cá đóng hai hàng cọc rào kín hình chữ V rồi cột nò vào chỗ thắt lại ở đầu chữ V. Cá theo dòng nước chẩy bơi vào lòng chữ V rồi lọt vào nò.
Nọc dùng đóng nò hay cọc nò phải thật cứng, chắc, vững để chịu được dòng nước chẩy siết. Cò cứng, cò nọc có cổ cứng như cọc đóng nò, cọc nò.
Trong thiên nhiên có hai loại cò: cò nọc, cò cọc, cò cứng là cò khi bay có cổ cứng, thẳng, Anh ngữ gọi là storkcò “mềmcổ cong khi bay gọi là heron. Stork, cò cứng với stork ruột thịt với stark, stiff, cứng. Loại cò này có hình dáng cứng đơ khi bay, cổ duỗi thẳng hàng với thân, chân khi bay, trong khi cò heron, khi bay cổ co lại có hình cong chữ S. Cò biểu tượng cho dương tính, Việt ngữ cò biến âm với cồ là đực, là nọc (vật nhọn). Cứng biến âm với cửng, cẩng. Cò cứng,  cò nọc, cò cọc, là loài mang tính cường dương hơn cò cổ cong, cò quăm (xem Con Cò Lăn Lội…). Ví dụ hình cò trên trống đồng Đông Sơn là loại cò cứng stork, khi bay cổ và thân thẳng hàng, mang nhiều dương tính, thấy rõ nhất là cò của tộc Lửa vũ trụ Càn tức siêu dương là con cò nọc, không có bờm, đầu cổ trông giống bộ phận nam cương cứng (cửng, cẩng), ở trong còn viế thêm chữ hay dấu nọc que nói cho biết đó là con cò nọc, đây là hình cò thấy trên trống Đông Sơn IV.

clip_image002

Cò Nọc Càn trên trống Đơng Sơn IV có đầu cổ giống hình cây nọc của phái nam đang cương cứng, trong có viết chữ hay dấu nọc que.

Cò nọc, cò cọc  biểu tượng cho Hùng Vương (Hùng có một nghĩa là đực, nọc), Lang Hùng (lang là con trai), cho mặt trời (dương), cho Việt (vật nhọn) mặt trời thái dương. Cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là cò nọc, cò cọc, cò Việt, cò Hùng Vương mặt trời thái dương…  (Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á). Vì vậy mà tác giả mới viết Cò nọc của ta… vì tác giả là con cháu Hùng Vương, Đại Tộc Việt mặt trời thái dương có cò biểu là con cò nọc.

4. Cò mới hến nói lái là hên mới có.

Lưu ý hai từ mới trong câu “Cò mới hến, duyên này hên mới có” khác nghĩa nhau từ mới thứ nhất có nghĩa là với (theo m=v như mời = vời, ta có mới = với) khác với nghĩa từ mới thứ hai ở sau.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: