CƠ THỂ HỌC TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG ĐÔNG NAM Á (2).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

CƠ THỂ HỌC TRỐNG ĐỒNG NÒNG

NỌC, ÂM

DƯƠNG ĐÔNG NAM Á (2).

(tiếp theo và hết)

Nguyễn Xuân Quang

GIẢI PHẪU NGANG MỘT TRỐNG NẤM

VŨ TRỤ NXQ VI, (Heger I).

Mổ xẻ một trống nấm vũ trụ không gì bằng so sánh với sự mổ xẻ của một cái đèn đá Cây Đời, Cây Vũ Trụ vì đèn đá được làm bằng nhiều bộ phận rời ghép lại, dễ tháo rời và ráp lại được. Về cấu trúc trống đồng hình Cây Nấm Vũ Trụ mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ luận giống như cây đèn đá đã nói rõ ở chương Khái Lược Về Vũ Trụ Giáo. Cơ thể học của trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI vì thế cũng giống như cơ thể học của cây đèn đá.

clip_image002clip_image006clip_image004

Đèn đá Cây Vũ Trụ -Trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI (H.I) Ngọc Lũ I -Cây nấm

Như đã biết Cây Vũ Trụ gồm Ba Cõi, Tam Thế và một Trục Thế Giới nối liền thông thương Tam Thế. Mỗi Thế mang trọn Vũ Trụ thuyết và lại chia ra làm ba tầng. Tổng cộng vũ trụ có chín tầng và một trục đi xuyên qua chính tầng này.

Đối chiếu với cây đèn đá:

clip_image008

Cơ thể học trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I)

giống hệt cây đèn đá.

1. Thượng Thế, Cõi Trên, Tạo Hóa hay Đại Vũ Trụ.

Đây là phần chóp đèn (cupola) hình bầu nậm có đế. Ở trống đồng là phần ở chính giữa tâm mặt trống.

clip_image010

Thượng Thế hay Đại Vũ Trụ.

Như đã biết ở chương Khái Lược Về Vũ Trụ Giáo, chóp đèn biểu tượng Cõi Trên, Tạo Hóa gồm Hư Vô, Thái Cực, Lưỡng Nghi âm dương và Tứ Tượng của cõi tạo hóa. Như thế phần tâm mặt trống cũng biểu tượng cõi trên tạo hóa mang trọn nghĩa Vũ Trụ tạo sinh. Phần tâm mặt trống biểu tượng cõi trên ứng với phần vòm của Cây Vũ Trụ, phần chóp của Cây Nấm Vũ Trụ. Vì là trống nên phải có mặt trống là mặt bằng mới đánh xuống tạo ra âm thanh được, do đó trống Cây Nấm Vũ Trụ mới có hình dạng cây nấm bằng đầu. Thật ra phần chỏm Cõi Trên coi như được đập dẹp xuống thành mặt bằng mặt trống hay nói một cách khác là Cõi Trên được cho chiếu xuống mặt trống. Phần tâm mặt trống này gồm có hình vòng tròn hư không âm (bị mặt trời che khuất một phần), mặt trời dương và các khoảng giữa các tia sáng (interradial spaces) (phần còn lại của hư không không bị mặt trời che lấp). Ở những trống diễn tả Vũ Trụ thuyết trọn vẹn như trống Ngoc Lũ I, vòng tròn hư không đi qua đỉnh các tia sáng diễn tả Vô Cực, phần hư không trong vòng tròn diễn tả âm, mặt trời diễn tả dương [Xin lưu tâm là mặt trời ở Cõi Trên được coi như là cái nhân, cái hạt, cái mầm dương, cái tròng đỏ của Trứng Vũ Trụ hay phải coi như là mặt trời vũ trụ (trong nhiều nền văn hóa cổ như trong truyền thuyết Ấn Độ, mặt trời nguyên tạo hay mặt trời vũ trụ sinh ra từ Trứng Vũ Trụ có hình trứng). Nói một cách khác, mặt trời ở tâm trống có hai khuôn mặt. Ở Cõi Trên Đại Vũ Trụ là mặt trời vũ trụ, ở Cõi Giữa Thế Gian là mặt trời trong thái dương hệ]. Hư không và mặt trời sau đó diễn tả hai cực âm dương tức Lưỡng Nghi. Những khoảng giữa tia sáng có những hình thái mà các tác giả ngày nay gọi là hoa văn nói cho biết hư không hay không gian mang cá tính gì. Ở những trống mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ thuyết như trống Ngọc Lũ I, khoảng giữa các tia sáng này có hình hoa văn mà các tác giả hiện nay gọi là “họa tiết lông công”, tôi đã khám phá ra đây là bốn chữ nòng nọc diễn tả Tứ Tượng nên tôi gọi là “họa tiết tứ tượng” (xem chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng).
Như thế vòng tròn hư không-mặt trời vũ trụ ở tâm mặt trống diễn tả Cõi Trên gồm Vô Cực, Thái Cực, Lưỡng Nghi và Tứ Tượng tức diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ thuyết.
Ta cũng thấy rất rõ giống như ở đèn đá, Cõi Trên chia ra làm ba tầng:

a. Tầng Trên của Thượng Thế, Cõi Trên: Bầu Hư Không hay Túi Vũ Trụ

Trên trống đồng được biểu thị bằng vòng tròn đi qua đầu các tia sáng mặt trời. Đây là Túi hư Không, vũ trụ hay cũng có thể coi như là cái vỏ của Trứng Vũ Trụ biểu tượng Vô Cực (ứng với phần bầu tròn của cái chóp bầu nậm của đèn đá).

b.Tầng Giữa của Cõi Trên hay Trứng Vũ Trụ âm dương (phần nậm gồm có phần bầu tròn âm và phần trên hình trụ dương) gồm hư không và mặt trời vũ trụ còn ở dạng nguyên thể, biểu tượng Thái Cực.

c. Tầng Dưới của Cõi Trên (đế bầu).
Diễn tả bằng các khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có hình thái (hoa văn) mang cá tính khác nhau.

Tóm Tắt

Phần ở giữa mặt trống trên những trống Nấm Vũ Trụ diễn tả Tam Thế có một khuôn mặt là Cõi Trên, cõi tạo hóa hay Thượng Thế.
Phần trung tâm mặt trống tượng trưng cho Thượng Thế, cõi tạo hóa, cõi vũ trụ, cõi trời là phần hình chiếu của vũ trụ mặt trời-không gian xuống tâm trống gồm bọc hư không, trứng hư vô,  là vòng tròn bao quanh đầu các nọc tia sáng mặt trời, các khoảng không gian nằm giữa các nọc tia sáng và những vòng “hoa văn” phía ngoài.
Phân tích ra ta có:
– Vòng tròn bao quanh đầu tia sáng là bọc hư vô, hư không, vô cực, vỏ trứng Thái cực.
–Mặt trời: là cực nọc, cực dương.
–Các khoảng không gian nằm giữa các nọc tia sáng: là phần còn lại của hư không hay không gian không bị mặt trời che lấp. Các khoảng này biểu tượng cho cực nòng khôn. Nếu nhìn cả mặt trời và bọc hư không được diễn tả bằng các khoảng không gian gộp chung lại, đây có thể coi như là Thái Cực. Nếu nhìn riêng rẽ ra thì đây là lưỡng cực, Lưỡng Nghi.
–Tứ Tượng:
Ở nhiều trống các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng mặt trời không để trống không mà có các hình ngữ mang biểu tượng cho một tượng, một ngành riêng hay kết hợp hoặc mang đủ cả Tứ Tượng như trường hợp trống Ngọc Lũ I chẳng hạn, giữa các khoảng không gian có hình ngữ mà các tác giả hiện nay gọi là “họa tiết lông công” (xem  Ý Nghĩa Các Khoảng Không Gian).
–Tứ Hành:
Tứ Hành là Tứ Tượng ở dưới dạng vận hành, chuyển hành, sinh tác, sinh động.
Ở nhiều trống mang ý nghĩa vũ trụ tạo sinh trọn vẹn, các “vành hoa văn hình học” (thường thường là bốn vòng chữ nòng nọc) ở phía ngoài bọc Trứng Vũ Trụ thường ở dưới dạng chuyển động vô cùng vô tận, có thể là những vành mang biểu tượng Tứ Hành.

Xin lưu tâm, cần phân biệt, ở những trống khác không mang ý nghĩa Vũ Trụ thuyết trọn vẹn, chỉ mang ý nghĩa một chi, một tượng thì các vành này (thường chỉ có một, hai hay ba vòng chữ nòng nọc) có thể chỉ là những vành cho biết cá tính của Cõi Giữa thế gian (lúc này các vành này thuộc về Cõi Giữa thế gian).

Phần tâm mặt trống mang đủ nghĩa trọn vẹn của Vũ Trụ luận. Phần tâm mặt trống, dưới một diện là hình chiếu của Cõi Trên.

2. Trung Thế hay Cõi Giữa Thế Gian, Cõi Nhân Sinh, Tiểu Vũ Trụ:

Cõi thứ hai của Tam Thế là Trung Thế hay Cõi Giữa (Mường Bưa của Mường Việt cổ) tức trần thế, cõi của những sinh vật (có thể coi như là một thái dương hệ nằm trong đại vũ trụ bao la), cõi người. Đây là phần còn lại của mặt trống và tang trống ứng với phần chính của đèn gồm chụp đèn, lồng đèn và phần đế ngay dưới lồng đèn.

clip_image012

Trung Thế hay Cõi Giữa hay Tiểu Vũ Trụ.

Cõi Giữa thế gian cũng chia ra làm ba tiểu tam thế: tầng trên vòm trời thế gian, tầng giữa đất và tầng dưới nước thế gian.

a. Tầng Trên của Cõi Giữa Thế Gian: không gian hay vòm trời (thế gian) hay cõi trời (heaven).

Ở đây, ở những trống Nấm Vũ Trụ diễn tả Tam Thế trọn vẹn, phần tâm mặt trống mang thêm một khuôn mặt thế gian trong thái dương hệ ứng với chụp đèn. Vòng tròn bao quanh đầu tia sáng biểu tượng bầu không gian, bầu trời, vòm trời, túi trời. Khoảng trong vòng tròn là không gian (space), là trời (sky) và mặt trời đích thực là mặt trời thế gian. Nói một cách khác tầng trên của Cõi Giữa Thế Gian trùng với Cõi Trên ở tâm mặt trống. Như thế trên những trống diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ thuyết, phần tâm trống giới hạn bởi vòng tròn đi qua đỉnh các tia sáng có hai khuôn mặt: ở Đại Vũ Trụ diễn tả Cõi Trên và ở Tiểu Vũ Trụ cõi người diễn tả tầng trên, tầng trời (so sánh với Cây Vũ Trụ của tộc Thổ dân Ojbwa có vòng tròn Tạo Hóa ở trên cùng và ở dưới có vòng tròn mặt trời thế gian, ở đây hai vòng tròn là một, Cõi Tạo Hóa và Tầng Trời trùng nhau, xem chương Khái Lược Về Vũ Trụ Giáo).

clip_image015 clip_image016

Tầng Trên hay Bầu Trời Trung Thế tương đương với chụp đèn.

Xin lưu tâm là trên nhiều trống diễn tả Tam Thế, tầng trên của Cõi Giữa Thế Gian thường được biểu tượng bằng những vành hoa văn bao quanh Trứng Vũ Trụ hay bằng một vành chim bay. Trong trường hợp này, phần tâm mặt trống có thể chỉ diễn tả Cõi Trên mà thôi (cần phải dựa vào các chữ viết nòng nọc ở các khoảng giữa tia sáng mặt trời để nhận diện, để phân biệt). Trong trường hợp các trống chỉ biểu tượng Cõi Trên thôi (mặt trời có số tia sáng bằng hay dưới 7, xem chương Ý Nghĩa Mặt Trời Trên Trống Đống Đông Nam Á) thì vành chim bay biểu tượng cho Cõi Trên vũ trụ. Ở những trống muộn hay đơn giản, tầng trời đôi khi chỉ diễn tả bằng một vành trống không (blank band) lớn như thấy trên trống Làng vạc II và III. Đôi khi lại được diễn tả bằng một vành “hoa văn” như trên trống Hữu Chung. Bầu trời được diễn tả bằng một vành uốn khúc hình chữ S đôi nhọn đỉnh diễn tả sóng nước-dương, nước-lửa đang vận hành. Những hình uốn khúc này, dưới một diện là hình biến thể của hình thái sấm gầm diễn tả bầu trời sấm sét. Đây là một trống sấm (xem trống này). Dĩ nhiên trên những trống chỉ diễn tả cõi thế gian thôi, thì tâm mặt trống chỉ diễn tả tầng trên của Cõi Giữa Thế Gian.

b. Tầng Giữa hay Tầng Đất của Cõi Giữa Thế Gian

Tầng giữa của Cõi Giữa Thế Gian ứng với phần chính giữa thân lồng đèn.
Trên những trống nấm Vũ Trụ thuộc nhóm trống thế gian có diễn tả trọn vẹn Tam Thế như trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hà, Sông Đà v.v… phần còn lại phía ngoài mặt trống kể từ ranh giới ngoài của vùng bao quanh phần tâm mặt trống (có hình chiếu của cõi trên) ra tới viền trống. Ở đây có những vành biểu tượng cho trần thế nhân gian nên có các hình cảnh, hoa văn diễn tả các sinh hoạt tín ngưỡng của các bang, tộc hay cảnh sinh hoạt nhân sinh…

clip_image019 clip_image020

Tầng Đất Thế Gian tương đương với thân lng đèn.

Tầng này chia ra làm hai vùng đất dương và âm:

–vùng đất dương (núi dương, cao nguyên, đất khô) ứng với phần trụ cao phía trên lồng đèn. Đối chiếu với trống là phần nằm trong sát với mặt trời dương.

clip_image022

clip_image002[1]

Vùng đất dương trên trống Ngọc Lũ

Theo chính thống, trên những trống mang nghĩa Vũ Trụ giáo trọn vẹn như trống Ngọc Lũ I, phần đất dương này thường được biểu tượng bằng cảnh sinh hoạt nhân sinh của ngành, những thú bốn chân, những chim đậu trên mặt đất (đôi khi cũng có thể là những loài chim dương đang bay biểu tượng cho bầu trời của vùng đất dương, cần phải dựa vào các chi tiết khác để phân biệt, xác định).
–vùng đất âm (đất có nước như non, đồi, gò, đồng bằng, ruộng nước) ứng với phần chân dẹp phía dưới của thân lồng đèn. Đối chiếu với trống là phần nằm ngoài gần biên mặt trống.

clip_image024

clip_image002[3]

Vùng đất âm trên trống Ngọc Lũ I.

Theo chính thống, trên những trống mang nghĩa Vũ Trụ giáo trọn vẹn, phần đất âm này thường được biểu tượng bằng những vành chim vùng đất âm bay hay đứng biểu tượng cho cõi trời vùng đất âm, cảnh sinh hoạt nhân sinh của vùng đất âm, những thú bốn chân biểu tượng cho vùng đất âm, thường thấy là hình tượng cóc. Trên trống Ngọc Lũ I , 18 con chim đứng nói cho biết vùng đó là vùng đất âm có nước. Trên trống Nam Ngãi II, ở vùng đất âm này có hình thuyền nói cho biết đây là vùng đất âm có nước.

*Xin lưu tâm

Như đã nói ở trên, ở những trống không mang ý nghĩa trọn vẹn, chỉ mang ý nghĩa một tượng, một chi thì các vành hoa văn nằm sát bọc Trứng Vũ Trụ có thể là những vành cho biết cá tính của vùng đất dương hay cả Cõi Giữa thế gian (lúc này các vành này thuộc về Cõi Giữa thế gian). Trong khi đó các vành hoa văn ở ngoài mép mặt trống có thể cho biết trống thuộc đại tộc nào như ở Trống Ngọc Lũ I có hai vành răng cưa (răng sói) mang ý nghĩa “hai dương” tức thái dương của ngành dương. Trống Ngọc Lũ I là trống dương thái dương. Trong khi ở trống Cổ Loa I cùng nhóm mặt trời có 14 tia sáng như trống Ngọc Lũ I nhưng có hai vành răng lược là hai dương của ngành âm. Trống Cổ Loa I  là trống âm thái dương. Trên các trống chỉ biểu tượng cho một tượng, một chi thôi, thì những vành này chỉ cá tính của vùng đất âm thôi  (lúc này các vành này thuộc về vùng đất âm của Cõi Giữa thế gian).

b. Tầng Dưới hay Tầng Nước của Cõi Giữa Thế Gian.

Tầng dưới của Cõi Giữa Thế Gian ứng với phần đế hình hoa của lồng đèn biểu tượng cõi nước nhân gian hay cõi trời nước của Cõi Dưới (yin heaven). Đối chiếu với trống là phần bầu phình hay vai trống.

clip_image027 clip_image028

Tầng Nước của  Cõi Giữa Thế Gian tương ứng với đáy phần lồng đèn.

Theo chính thống, trên những trống mang nghĩa Vũ Trụ giáo trọn vẹn, tầng nước này nếu biểu tượng cho tầng nước thế gian thì thường được biểu tượng bằng cảnh sinh hoạt nhân sinh dưới nước của ngành âm như thuyền bè, các loài sống dưới nước như cá, chim nước…, còn nếu dùng biểu tượng cho cõi trời của Cõi Âm thì thường thấy cảnh thuyền phán xét linh hồn (xem chương Hình Thuyền Trên Trống Đồng).

*Xin lưu tâm

Những cảnh sinh hoạt dưới nước phải thể hiện ở tầng nước tức vai trống hay ở trục trống (trong trường hợp ở trên trục trống những thuyền này có thể đi lại được ba cõi). Nếu những cảnh này xuất hiện ở những nơi nào khác của trống thì những trống đó là trống muộn hay trống rởm. Ví dụ như trên trống Nam Ngãi II nói trên, trên mặt trống có những hình thuyền trên sóng nước. Trống Nam Ngãi II là trống rất muộn.

Tóm lại Cõi Giữa Thế Gian gồm có phần còn lại của mặt trống (sau khi đã bỏ đi phần tâm mặt trống biểu tượng Cõi Trên) và phần bầu vai trống. Dĩ nhiên Cõi Giữa thế gian gồm ba tiểu tam thế cũng bao gồm đủ nghĩa vũ trụ luận.

3. Hạ Thế, Cõi Dưới, Cõi Âm, Âm Thế.

Đây là phần chân trống ứng với chân đèn mang biểu tượng cho Hạ Thế, Cõi Dưới, Cõi Âm, Âm thế.

clip_image030clip_image032

Chân trống tương ứng với chân đèn.

Theo nguyên tắc Cõi Dưới cũng chia ra làm ba tầng. Ở những trống chính thống diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ thuyết như  trống Ngọc Lũ I, chân đế trống có hình nón cụt chia ra hai phần thấy rõ: phần trên ngắn nghiêng biểu tượng tầng trên, phần dưới dài choãi ra biểu tượng tầng giữa và phần không thấy gồm miệng đáy trống biểu tượng tầng dưới. Cõi Âm là cõi tăm tối nên theo chính thống thường không có trang trí gì cả ngoại trừ những vòng tròn đơn sơ. Trên những trống muộn, không chính thống như trống Sangeang Malakamau, Salaya, có những cảnh người, vật, chim, thú trên đáy trống. Những cảnh này phải được coi như là cảnh của Âm Thế. Đây là lý do hình người và thú ở đây vẽ rất “trẻ thơ” (childish) và rất “hề” (“clownish”) như A.B. Kempers đã nhận xét (xem phần giải đọc trống Sangeang).

Tóm lại chân hay đế trống biểu tượng Hạ Thế, Cõi Dưới, Cõi Âm, Âm Thế.

4. Trục Thế Giới:

Đây là phần trụ trống hay thân trống hay eo trống ứng với trụ đèn biểu tượng Trục Thế Giới.

clip_image034clip_image036

Thân trống hay Trụ củaTrống ứng với Trụ đèn.

Phần thân thực sự của trống là phần lưng trống thẳng đứng hình trụ tròn chính là trục trống biểu tượng Trục Thế Giới, trục vũ trụ. Như đã biết đây là phần kết nối, thông thương ba cõi, liên lạc giữa thượng giới, trần gian và cõi âm. Trục Thế Giới có đỉnh là tâm mặt trời tức là đỉnh vũ trụ (zenith) và đáy là rốn vũ trụ (nadir). Ở những trống nấm Vũ Trụ Tam Thế chính thống, Trục Vũ Trụ phải thẳng đứng song song với trụ trống. Nói một cách khác là thân, eo trụ trống phải thẳng đứng như thấy ở trống Ngọc Lũ I. Còn những trống có thân, trụ trống nghiêng hay choãi ra như trống Miếu Môn I, Bản Thôm, Phú Xuyên… là những trống diễn tả một tượng nào đó trong Vũ Trụ giáo hay chỉ là những trống muộn mà thôi, ví dụ như ở trên đã thấy những trống có thân nghiêng choãi có thể là những trống hình trụ chống, hình tháp NXQ V (H.II) biểu tượng cho đất dương, núi Thế Gian, thường tìm thấy ở cao nguyên. Cũng cần biết thêm là ở những trống Tam Thế chính thống, trụ trống hay thân trống phải có một chiều cao cân xứng với chiều cao của Ba Cõi tức chiều cao của cả trống. Trống Cây Nấm Vũ Trụ trông phải cân đối. Thế nào là một trống Tam Thế cân đối? Một trống Tam Thế cân đối diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ thuyết phải có tâm trống nằm ở tâm trụ trống trùng với tâm hình trứng (hay bầu dục) tiếp xúc ngoài của trống (hình bìa Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Tiếc rằng tôi chưa có dịp được đo chiều cao của những trống chính thống như trống Ngọc Lũ I rồi so với các phần còn lại mà chỉ đo trên hình ảnh thì thấy chiều của thần trống bằng chiều cao của Tam Thế gồm mặt trống-tang trống (Thượng Thế và Trung Thế) và chân trống (Hạ Thế) (xem Trống Đồng Của Việt Nam Hay Của Trung Hoa?).

Những trống có chiều cao của thân trống không cân xứng với chiều cao của trống là những trống biểu tượng cho một tượng trong Vũ Trụ giáo (ví dụ trống trệt NXQ IV không có trụ trống) hay chỉ là những trống Tam Thế muộn hoặc rởm.

*Xin lưu tâm

Trục Thế Giới và thân của Trụ Chống Trời đều nằm trong thân của Cây Vũ Trụ nên nhiều khi Trục Vũ Trụ được coi như là hay lẫn lộn với Trụ Chống Trời, núi nguyên khởi, núi Vũ Trụ (Cosmic Mountain), Núi Thế Giới (World Mountain) biểu tượng cho đất thế gian (Núi Kình Thiên Trụ, Núi Tản Viên, Núi Kỳ trong truyền thuyết và cổ sử Việt, Núi Meru của Ấn Độ, Núi Olympia của Hy Lạp… là những hình ảnh của Núi Thế Giới hay Trục Vũ Trụ). Vì thế ta phải nhìn trụ trống theo từng loại trống: có loại thân trống là Trục Thế Giới và có loại thân trống là Trụ Chống Trời, núi Trụ Thế Gian. Do đó sự diễn giải các “hoa văn”, hình người, thú trên thân trống cũng thay đổi theo. Ở những trống thân trống là Trục Thế Giới thì theo chính thống chỉ khắc những hình vật có thể đi lại ba cõi. Ví dụ các đấng siêu phàm, thần tổ (Supreme Beings), các thầy tế, phù thủy, thầy thuốc shaman, bà đồng, ông mo, các linh hồn người chết… có thể lên trời hay đi xuống âm thế. Trục Thế Giới lưng trống là siêu xa lộ xuyên ba cõi của họ. Họ là những kẻ có thể lên cõi trời liên lạc với các thần linh cõi trên và đi xuống cõi âm, liên lạc được với âm thần, với các âm hồn và linh hồn người chết có thể lên cõi trên hay bị đẩy xuống cõi dưới, địa ngục theo trục lộ này. Chỉ có giới này và linh hồn mới có thể đi lại lên xuống giữa Tam Thế theo trụ trời, Trục Vũ Trụ. Còn hình thú vật, thì đây hoặc là những con thú thần vật tổ hoặc là những con thú hướng dẫn, những con thú dùng làm phương tiện chuyển vận hay là những con vật hy sinh dùng trong lễ hiến tế dâng tới Tam Thế. Trục thế giới và núi Trụ Thế Giới được dùng làm phương tiện, làm trụ, trục để dâng lễ vật tới ba cõi đúng như Eliade, Mircea đã xác nhận “the sacrificial post is an axis mundi” (1964) (“Trụ tế vật hy sinh là trục thế giới”). Điều này cũng thấy rõ sau này con người đắp các đống, gò, xây các tháp cao… và ngày nay thường lập hay đắp các đàn cao (như đàn Nam Giao ở Huế, đàn Tế Trời Đất ở Đền Thiên Môn Bắc Kinh, Trung Hoa) để tế lễ dâng cúng vật. Đống, gò, tháp, đàn là hình ảnh của Trục Thế Giới. Đống, tháp mang hình ảnh Trục Thế Giới, đường lên trời, núi Trụ Thế Gian nên dùng làm mồ chôn của các tù trưởng, tộc trưởng, của vua chúa. Linh tự Ai Cập “offering”, “vật cúng dường, lễ vật” có hình tháp nhọn, hình ảnh của Trục Thế Giới, Núi Trụ Thế Gian (xem thêm Trục Thế Giới ở phần Ngữ Vựng trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á) ).
Rõ như ban ngày trục trống trong trường hợp là Trục Thế Giới, một thứ trụ tế sinh vật, thì những hình thú trên thân trống chính là những con vật hy sinh.
Còn ở những trống có thân trống coi như là núi Trụ Thế Gian, thì người và thú trên thân các trống này mang nghĩa biểu tượng cho người và thú thế gian của tộc ứng với trống.

Tóm lại theo chính thống, trụ trống (thân trống, eo trống) biểu tượng cho Trục Thế giới, Trụ Chống Trời hay Núi Thế Gian, Cõi Giữa thế gian.

Cơ Thể Học và Phân Loại Trống.

Trống Cây Nấm Vũ Trụ, Cây Đời NXQ VI (H.I) mang ý nghĩa âm dương tứ tượng, tam thế, sự sống, sinh tạo là kết hợp của các trống mang ý nghĩa âm dương tứ tượng. Như  thế, bốn loại trống biểu tượng Tứ Tượng là Trống Lửa NXQ II, Gió NXQ III, Nước NXQ IV, Đất NXQ V để chồng lên nhau tức kết hợp lại ta có trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI. Ngược lại nếu ta cắt bỏ bớt một, hai phần của trống Cây Nấm Vũ Trụ ta sẽ có những dạng trống Tứ Tượng tạo ra nó.

Trống Trứng Vũ Trụ, Thái Cực, NXQ I.

Trống đồng âm dương hở đáy này có hình trứng trông giống như một trống thùng thông thường hai đầu bịt da kín là một thứ trống trứng âm dương ở dạng thái âm thái dương ở đại vũ trụ. Trống Trứng Vũ Trụ NXQ  I  là một thứ noãn nang,  bào tử, một thứ hạt mầm sinh ra trống nấm Cây Vũ Trụ NXQ VI và ngược lại trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI lại sinh ra hạt quả (một thứ trứng) tức trống Trứng Vũ Trụ NXQ  I. Đây là vòng sinh tạo. Nói một cách khác trống Trứng Vũ Trụ NXQ I bao bọc trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI như thấy ở hình bìa tác phẩm Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á tập I .

Trống Cực Dương Lửa Càn Hình Trụ Ống, NXQ II.

Trống NXQ II có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương, thái dương, thuần dương ở cõi đại vũ trụ nên khi ta giải phẫu dựa trên trống Cây Nấm Vũ Trụ thay vì mổ xẻ trên trống Trứng Vũ Trụ ta phải cắt bỏ hết phần âm của trống Nấm Vũ Trụ nghĩa là các phần cong (đầu và đế) của trống Nấm Vũ Trụ để còn lại phần thuần dương trụ trống hình ống tức trống cực dương, lửa trời (ánh sáng) thái dương, Càn  NXQ II. Ta cũng thấy rõ  trụ trống đi xuyên qua Ba Cõi nên trụ trống gồm ba tiểu trụ (III) của Ba Cõi nên có một khuôn mặt là Càn hay Kiền (III) lửa vũ trụ. biểu tượng cho cực dương và cũng là biểu tượng cho tượng lửa thái dương tức

clip_image038clip_image002[7] clip_image041 lao

Cắt bỏ mặt, vai và đế trống còn lại trụ trống, ta có một trống Lào hình trụ ống NXQ II.

Do đó loại trống này biểu tượng cho Lửa (||) dương (|), Lửa Vũ Trụ, cho Mặt trời-lửa, thái dương, Càn, cực dương.

Trống Gió Dương, Đoài Vũ Trụ, Vũ Trụ Gió, Sấm Dông Hình Lọng NXQ III (Heger III).

Ở cõi tiểu Vũ trụ, trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI coi như là Trống Cây Tam Thế. Nếu cắt bỏ đế trống, còn lại thân (I) và vòm cây (O) tức IO, thiếu âm, nguyên thể của khí gió. Trống loại này có hình lọng, ô, dù biểu tượng cho Vòm trời, Khí gió, Vũ trụ gió, Đoài Vũ trụ.

clip_image046clip_image048clip_image049 clip_image045

Cắt bỏ đế trống còn lại mặt, vai và trụ trống, ta có trống hình lọng NXQ III.

Như thế trống loại này biểu tượng cho tượng gió dương, cho Mặt trời-gió, lửa-gió (lửa trong gió là chớp sấm dông), Thiếu âm, Đoài vũ trụ và biểu tượng cho vũ trụ  khí gió, Mặt Trời-vũ trụ.

Trống Đồng Tượng Nước Dương, Vũ Trụ Nước, Sấm Mưa Chấn, Cực Âm  NXQ IV có hình cái Âu.

Nếu cắt bỏ phần trụ trống ta còn lại phần trên và đế trống. Vì mất thân trống nên trống trông lùn tịt trông như cái âu vì thế mới có biệt danh là “trống trệt” (squat  drum).

clip_image046[1] clip_image053 clip_image054clip_image051

Cắt bỏ trụ trống, còn mặt, vai và đế trống, ta có trống trệt NXQ  IV (Heger IV).

Trụ trống là phần dương của trống, mất phần dương nên trống này là trống âm. Dưới phương diện tứ tượng, diễn tả theo chữ nòng nọc, trống có phần bầu nước ở trên là O và phần đế Cõi Âm hình nón trụ cụt đầu mang dương tính là O dương, như thế trống âu là trống nước dương. Nếu hiểu trụ trống theo diện Trục Thế Giới thì khi cắt bỏ Trục Thế Giới đi tức là lấy đi ba tiểu trục tức ba phần dương thì trống còn lại ba phần âm OOO của Ba Cõi. Ba phần âm OOO chính là Khôn (ứng với III, Càn). Trống là trống Khôn dương tức Chấn Vũ trụ sinh tạo.
Như thế trống loại này biểu tượng cho tượng nước dương, biển, cho Mặt trời-nước, lửa-nước (lửa trong nước là chớp sấm mưa), Thái âm, Chấn biểu tượng cho cực âm và Vũ Trụ âm, Tạo Hóa âm.
Trống này nói chung là Trống dương (I) của ngành thái âm (OO) tức IOO (Chấn), nước Vũ trụ sinh tạo, là sấm mưa, biển…

Trống Lửa Thế gian, Đất dương, Li, Trục Thế giới có hình Trụ Chống hay Trống Tháp NXQ V (Heger II).

Nếu cắt bỏ phần vai còn lại mặt, trụ trống và đế trống mang hình ảnh của trụ chống hay hình tháp cụt

clip_image046[2] clip_image058 clip_image059 clip_image056

Cắt bỏ vai còn lại thân, mặt và đế trống, ta có trống hình tháp NXQ V (Heger II).

Trống loại này biểu tượng cho tượng đất dương, núi dương (nổng), cho Mặt trời-đất, lửa-đất (lửa từ núi phun ra, núi lửa), lửa thế gian, Thiếu dương, Li và đôi khi biểu tượng cho Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới.

* Xin lưu tâm:

Ở cõi đại vũ trụ ta phải cắt hai phần âm của trống Nấm Vũ Trụ để có được phần thuần dương, thái dương có một khuôn mặt Tượng Lửa.
Ở cõi tiểu vũ trụ ta chỉ cần cắt một phần của trống Nấm Tam Thế ta có được một loại trống biểu tượng cho một Tượng, một Thế.

Những Tiểu Loại (Loại Phụ) Trống Đồng

Như trên đã thấy một loại trống có khi mang hai khuôn mặt như trống hình trụ ống NXQ II có thể là biểu tượng của cực dương vừa có thể là biểu tượng của tượng Lửa; trống trụ chống hay hình tháp NXQ V có thể là biểu tượng của tượng Đất dương hay Trục Thế Giới. Trống hình cái âu IV vừa là trống biểu tượng cho Vũ trụ  âm vừa là trống biểu tượng cho tượng Nước dương. Trống hình lọng NXQ III có thể là trống biểu tượng cho tượng Gió dương vũ trụ, gió và hư không của ngành gió. Mỗi loại trống lại có thể có những trống biểu tượng cho ba tầng thế gian ứng với Ba Cõi, Tam Thế, vì thế trống có nhiều loại phụ hay gọi theo Heger là trống có dạng trung gian, chuyển tiếp. Những dạng phụ này dáng trống có thể biến đổi đi một chút, ví dụ nếu trống NXQ V biểu tượng cho tượng đất, núi Trụ Thế Gian thì có thể chỉ có phần đế trống loe ra nhiều hơn, còn nếu biểu tượng cho Trục Thế Giới thì phần thân trụ có thể cao, dài hơn; trống NXQ III khi biểu tượng cho vũ trụ hư vô, phần vòm lọng có thể tròn hơn v.v…
Hơn nữa, cũng xin lưu tâm là mỗi tượng lại chia ra bốn tiểu tượng, nói một cách khác, mỗi loại trống có thể có bốn khuôn mặt ứng với tứ tượng Lửa, Đất, Nước, Gió, ví dụ trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI có thể có bốn khuôn mặt Lửa, Đất, Nước, Gió như thấy khắc ở trống Ngọc Lũ I.

clip_image061

Từ trái qua phải:

1. Trống Nấm Vũ Trụ NXQ V có đế loe rộng biểu tượng cho tộc Đất của liên bang mặt trời.

2. Trống Nấm Vũ Trụ NXQ IV không có trụ trống biểu tượng cho tượng hay tộc Nước của liên bang mặt trời.

3. Trống Nấm Vũ Trụ NXQ III có vòm bầu rất tròn biểu tượng cho tượng hay tộc Gió của liên bang mặt trời.

4. Trống Nấm Vũ Trụ NXQ II có thân trụ hình ống thẳng biểu tượng cho tượng hay tộc Lửa của liên bang mặt trời.

Dàn trống Nấm Vũ Trụ này biểu tượng trọn vẹn Vũ Trụ thuyết hay biểu tượng cho họ, đại tộc Vũ Trụ-Mặt Trời gồm có bốn trống tương ứng với Tứ Tượng hay bốn chi tộc.
Cần phải dựa vào các biến đổi hình dạng hay các chi tiết, các “hoa văn” để nhận diện, phân biệt.

Giải Phẫu Dọc Một Trống Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I).

Trống Đồng qua Hình Ngữ và Chữ Viết Nòng Nọc.

Trống Nấm Vũ Trụ biểu tượng cho trọn vẹn Vũ Trụ thuyết diễn tả bằng Nấm hay Cây Vũ Trụ, Cây Đời, Cây Tam Thế, sinh ra con người nguyên khởi (thần, Tổ, Mẹ Đời, Cha Đời) vì vậy khi bổ dọc (profile) trống cũng có hình một cái cây hay hình người nguyên khởi ngồi bẹt hai chân ra ở tư thế sanh đẻ (Mẹ Đời) hay đứng (Cha Đời) hai tay đưa lên phía trên đầu. Đây chính là hình ngữ hay chữ nòng nọc diễn tả Cây Vũ Trụ, con Người Nguyên Khởi và cả con Người Thế Gian.

clip_image063 = clip_image065

Thiết diện dọc một trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI.

Hình ngữ chữ nòng nọc Cây Đời, Cây Vũ Trụ hình người này còn thấy khắc lại nhiều trên các đồ đồng Đông Sơn. Trong bảng sưu tập các hình khắc trên các đồ đồng Đông Sơn mà Hà Văn Tấn cho rằng đây có thể là những chữ viết. Ta thấy chính là hình số 3.

clip_image067

Bộ sưu tập những hình khắc như chữ viết trên đồ đồng Đông Sơn của Hà Văn Tấn.

Hình số 4 cũng là chữ nòng nọc chỉ Cây Vũ Trụ nhưng ở đây Trục Thế Giới thân cây đi xuyên qua cả Ba Cõi, có thể đây là hình Cha Đời, người đàn ông nguyên khởi vì ở giữa hai chân có cái nọc. Hình 5, 6, 7 là hình biến thể của Cây Đời, Cây Vũ Trụ.
Như thế ta thấy rõ Trống Nấm Vũ Trụ, Trống Cây Tam Thế có một khuôn mặt là Trống Cây Đời biểu tượng Cây Đời Sống, biểu tượng cho Con Người. Trống đồng là Trống Người. Chúng ta là Man, Mán, Mường có nghĩa là Người. Vậy trống này là Trống Người, Trống Man giống như thư tịch cổ Trung Hoa gọi là Trống Man. Trống đồng âm dương là của Man, Mán, Mường của Đại tộc Việt.  Điều này cũng giải thích tại sao trống NXQ VI được tìm thấy nhiều nhất ở Việt Nam và được các tác giả Việt Nam gọi là trống Đông Sơn.
Trống Cây Vũ Trụ có thể diễn tả bằng chữ nòng nọc ta suy ra các trống khác cũng có thể diễn tả bằng chữ nòng nọc.
Thật vậy trong các hình thấy ở lưỡi cầy và khí giới ở trên ta thấy:

.Hình số 1 là chữ nòng nọc gồm chữ nọc hình trụ I cắm trên đáy là chữ nòng O clip_image069 có nghĩa OI, thiếu dương bản thể của đá, đất dương tức trụ chống trời, Núi Vũ Trụ mang hình ảnh miếu thổ thần gồm cây đa trồng trên một gò đất tròn thấy nhiều ở Bắc Việt Nam. Đây là thiết diện dọc nòng nọc của trống NXQ V (H.II).

.Hình số gồm một hình chữ U ở trên chữ U úp ở dưới. U là dạng nam hóa của O. Hai chữ U  chồng lên nhau clip_image070 chính là hai chữ nòng O chồng lên nhau ở dạng nam hóa. Hai nòng OO, thái âm là bản thể của nước, hai U là nước mang dương tính tức nước dương, mặt trời nước. Hai OO, hai UU chồng lên nhau tạo thành hình sóng cuộn tức nước động, nước dương. Theo duy âm là âm thái dương, nữ thái dương là hình (Name of) Goddess của Pagan Symbols (xem chương Chữ Viết Nòng Nọc). Theo duy dương, ở đây trống có hình cái âu nên chữ U ở đế có đỉnh chỉ thiên và hai nhánh choãi ra thành hình chữ V ngược cụt đầu mang dương tính nhiều hơn nên trống NXQ IV là trống âm nam, trống Chấn, trống mặt trời nước.

.Từ chữ nòng nọc trống trụ chống trời của trống nổng lửa-đá là cái nọc cắm trên nòng, ta có thể suy ra chữ nòng nọc ứng với thiết diện dọc của trống lửa gió (dông) NXQ III là hình ngược lại tức nòng cắm trên nọc clip_image071 tức IO, thiếu âm, nguyên thể của khí gió, tức hình cái quạt, cái lọng.

.Còn thiết diện dọc của trống hình trụ lửa NXQ II dĩ nhiên là hình chữ nọc thẳng đứng clip_image072.

TÓM  LƯỢC

Như thế cơ thể học của trống đồng cho ta thấy rõ hình dạng và cấu trúc của trống đồng phản ánh trọn vẹn Vũ Trụ thuyết.
– Nhìn tổng quát trống đồng có mục đích làm để hở đáy để diễn tả hai khuôn mặt âm dương. Trống đồng là trống dương âm.
– Về phương diện tôn giáo, trống là trống biểu, giáo biểu của Vũ Trụ giáo dựa trên căn bản âm dương và về ngành dương hay ở thời phụ quyền cực đoan, trống đồng là giáo biểu của đạo thờ Mặt Trời. Trống đồng là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo giống như bánh xe luân hồi của Phật giáo, cây thánh giá của Thiên Chúa giáo. Quaritch-Wales cho rằng “tôn giáo cổ của Đông Nam Á là tôn giáo trống”. Hiển nhiên ta thấy tôn giáo trống là Vũ Trụ giáo hay Mặt Trời giáo.
– Về văn hóa trống đồng âm dương là trống đồng Dịch, là bộ Dịch bằng đồng, trên đó còn ghi khắc lại một thứ chữ âm dương cổ nhất của loài người là chữ Nòng Nọc (xem chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng). Dịch trên trống đồng còn viết dưới dạng chữ nòng-nọc (vòng tròn-que), nên Dịch đồng Đông Sơn là Dịch Nòng Nọc, khác với Chu Dịch viết bằng hình que và que đứt đoạn.
– Về phương diện dân tộc học, trống đồng là trống biểu của đại tộc Vũ Trụ-Mặt Trời, theo duy dương là họ Người Mặt Trời. Họ Người Mặt Trời có hai ngành nòng nọc âm dương: ngành mặt trời nọc rạng ngời và ngành mặt trời nòng êm dịu và chia ra làm bốn đại tộc người ứng với Tứ Tượng. Quan niệm bốn tộc người này ứng với Tứ Dân, Tứ Di mà người Trung Hoa gọi chúng ta và còn thấy trong văn hóa thổ dân Mỹ châu và Úc châu (xem chương Ý Nghĩa Hình Người Trên Trống Đồng).
Trống đồng với hình dạng khác nhau là trống biểu của mỗi ngành, mỗi tộc. Như đã thấy mỗi vùng, mỗi tộc làm nhiều một loại trống nào đó hơn ở nơi khác, tộc khác. Điều này cho thấy mỗi loại trống là một thứ trống biểu của mỗi ngành mỗi tộc khác nhau: người Shan, Karen nói tiếng Tầy Thái làm nhiều trống Mặt Trời Gió có thể là tộc thiếu âm gió-vũ trụ thiếu âm của ngành âm; các tộc Tầy Âu nam Trung Hoa làm nhiều trống Mặt Trời Nước có thể là tộc thái âm nước-vũ trụ thái âm; người Nam Dương ở hải đảo làm nhiều trống moko, pejeng, Mặt Trời-Lửa hình trụ ống biến thể, có thể là tộc thái dương lửa, người cổ Việt có tộc, có vùng làm nhiều trống thiếu dương Mặt Trời Đất có thân choãi hình tháp, tìm thấy nhiều ở cao nguyên Việt Nam, là tộc thiếu dương đất (con cháu của Vua Mặt Trời Đất Kì Dương Vương) và nhất là người Đông Sơn làm rất nhiều trống Nấm Vũ Trụ Đông Sơn (NXQ VI) nên người cổ Việt Đông Sơn là “mẫu quốc”, là đất tổ của liên bang của bốn tộc người (ứng với liên bang Văn Lang) và trống đồng có nguồn cội ở Đông Sơn.
– Đối chiếu với cổ sử và truyền thuyết Việt Nam, trống đồng là trống biểu của họ Người Vũ Trụ – Mặt Trời. Theo duy dương trống đồng là giáo biểu của họ Người Việt Mặt Trời Hồng Bàng (Họ Đỏ, Họ Mặt Trời). Họ Mặt Trời Hồng Bàng gồm có hai ngành ứng với Văn và Lang của liên bang Văn Lang: ngành nọc Càn, Văn mặt trời dương là ngành Mặt Trời Chói Chang Rạng Ngời hay Hùng Dương (có vua thái tổ là Kì hay Kinh Dương Vương) và ngành dương của nòng âm Khôn, Lang mặt trời vũ trụ là ngành Mặt Trời Êm Dịu hay An Dương (có vua thái tổ là An Dương Vương) và chia ra làm Bốn Dân (Tứ Dân) ứng với Tứ Tượng mà người Trung Hoa gọi là Tứ Di (Bắc là Hung Nô, Tây là Tây Khương, Đông là Đông Di và Nam là Nam Man). Chúng ta có bốn Thần Tổ là Bốn Vua Mặt Trời ứng với Tứ Tượng là Đế Minh Mặt Trời Ánh Sáng- Lửa, Kì Dương Vương Mặt Trời Đất, Lạc Long Quân Mặt Trời Nước và Hùng Vương Mặt Trời Gió. Chúng ta cũng có bốn địa danh ứng với tứ tượng là Châu Dương (Châu Mặt Trời), Châu Kì (Châu Đất), Châu Phong (Châu Gió) và Châu Hoan (Châu Nước, với h câm hoan = oan, oan ương là vịt nước, le le).
Để dễ hình dung ra hãy so sánh với Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc, Trống đồng âm dương biểu tượng cho họ Mặt Trời Viêm Đế-Không Gian Thần Nông, có hai ngành: ngành dương mặt trời tức Con Gà và ngành âm không gian tức Con Tôm. Họ này gồm có bốn đại tộc ứng với Tứ Tượng là bốn vị Vua Mặt Trời:  1. Lửa Vũ Trụ Đế Minh ứng với Bầu Lửa màu đỏ,  2. Đất dương, Lửa thế gian Kì Dương Vương ứng với Con Cọc, Hươu Cọc,  3. Nước dương thế gian Lạc Long Quân ứng với con Cá Chép và  4. Gió dương Hùng Vương ứng với con Cua Gió (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Nói gọn lại một lời: về phương diện cơ thể học trống đồng là trống âm dương, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch đồng Nòng Nọc, là pho sách bằng đồng ghi lại thứ chữ nòng nọc cổ nhất của nhân loại, trống đồng là họ biểu, bang biểu, tộc biểu và theo duy dương là bộ sử đồng của họ mặt trời ứng với họ Hồng Bàng của chúng ta.

Cước Chú:

-Từ trống đồng phải hiểu là trống đồng nòng nọc, âm dương hở đáy, còn những loại trống có hai mặt dù có làm bằng đồng cũng không phải là trống đồng biểu tượng Vũ Trụ giáo thật sự. Do đó, tôi dùng từ trống đồng nòng nọc, âm dương để chỉ trống đồng gốc của người Đông Sơn.

-Những lý do tôi chọn xếp loại trống đồng vào sáu loại:
Có người sẽ thắc mắc là tại sao không phân chia trống đồng ra làm nhiều loại như 7, 8, 9, 10 loại mà chỉ chia ra làm 6 loại mà thôi. Tôi đã “trăn trở” một thời gian rất lâu và thử chia theo những con số khác như nêu ở trên nhưng tôi thấy những phân chia đó không thích hợp với trống đồng hở đáy tức trống nòng nọc, âm dương (những phân loại khác có thể thích hơp với trống thông thường dùng trong âm nhạc). Sau đây là một vài điểm căn bản mà tôi đã dựa vào để chia trống đồng âm dương ra là 6 loại:

.Trống đồng là trống biểu của Vũ Trụ giáo dựa trên âm dương (2) và Tứ Tượng (4) nên 2+4 =6. Do đó tôi phân loại trống đồng ra làm 6 loại.

.Số sáu là số sinh tạo ra vũ trụ dựa trên âm dương như thấy qua hình ngôi sao sáu cánh trong Ấn giáo, ngôi sao sáu cánh David của Do Thái giáo và thấy trong nhiều tín ngưỡng khác nữa. Ngôi sao sáu cánh là do tam giác thuận dương đỉnh chỉ thiên chồng lên tam giác nghịch âm đỉnh chỉ địa.

.Số 6 diễn tả trọn vẹn không gian và thời gian. Về không gian số 6 = 2 + 4 có 2 là mặt đứng gồm thiên đỉnh zenith và “rồn đất” nadir và 4 là mặt bằng diễn tả bốn hướng (Cardinal points). Về thời gian theo âm lịch của ngành nòng, âm thời gian đều là bội số của 6 như ngày 6 khác, một năm 12 tháng, ban ngày 12 giờ, ngày đêm 24 giờ, tháng 30 ngày (6×5), một giờ 60 phút, một phút 60 giấy (6×10), một năm 360 ngày (6×10)…

.Trống đồng hở đáy là trống âm dương nên phải khởi đầu loại I là trống âm dương, vũ trụ, Thái Cực. Trống đồng âm dương không thể dùng làm biểu tượng cho trống hư không vô tính, trống cực âm thuần âm hay trống cực dương thuần dương, do đó gần như không thấy trống đồng âm dương hở đáy có hình cái cong, cái cóng, hình mõ hay hình trụ kín thuần dương, nếu có trống hình mõ hay hình trụ mang dương tính thì đó là những trống đồng thường mà thôi. Như thế trống đồng âm dương diễn đạt Vũ Trụ thuyết từ giai đoạn Trứng Vũ Trụ, Thái Cực và chấm dứt ở giai đoạn Sinh Tạo, Sự Sống, Cây Đời Cây Tam Thế. Do đó trống đồng âm dương chỉ gồm có 6 loại mà thôi.

-Số sáu theo Dịch là số thành, hoàn tất, sinh tạo, hoàn tất chu kỳ sinh tạo, tái sinh. Số 6 là số chẵn, số âm (tôi chọn số chẵn vì trống đồng hở đáy là trống âm dương, Dịch trên trống đồng phải là Dịch nòng nọc âm dương đề huề và người Đông Sơn thuộc dòng sông nước, ruộng nước, Mặt Trời Nước tức dòng Nòng, nên nghiêng về số âm, chẵn). Trong tám quẻ, theo duy âm, ta có bốn quẻ âm số O, 2, 4, 6. Số không là âm sơ sinh nguyên tạo, số 2 là âm non, lưỡng nghi, số bốn là âm trưởng thành, tứ tượng, số 6 là âm già (lão âm), âm thái dương là âm hoàn thành, trọn vẹn, hoàn nguyên, tái sinh (số 6 lại trở về số 0). Số sáu là tổng cộng của O + 2 + 4 = 6. Trống NXQ VI là trống tổng hợp hết các loại trống khác, như trên đã thấy trống NXQ VI giải phẫu tách ra được các loại trống khác.
Đối chiếu với thai kỳ của phụ nữ kéo dài chín tháng 10 ngày bao gồm đủ từ số O tới số 9: Khởi đầu là trứng chưa thụ tinh, tháng thứ hai (ứng với Lưỡng Nghi) là lúc phôi phân cực trai gái mang tính lưỡng thế, tháng thứ tư (ứng với Tứ Tượng) là lúc phôi phân tạo ra các cơ quan bộ phận (lúc này biết rõ trai gái và dễ gây ra quái thai nếu bị ảnh hưởng độc hại như  uống các loại thuốc có nguy hại tới phôi thai chẳng hạn) và tháng thứ sáu là thai nhi có thể sống được (nuôi trong lồng ấp sống thành người được) ứng với Sự Sống, Cây Đời, Cây Tam Thế. Trống NXQ VI là trống Sự Sống, trống Cây Nấm Đời, Tam Thế .

-Chiếc đèn đá biểu tượng Vũ Trụ giáo cũng gồm có 6 mảnh ghép lại. Con số sáu biểu tượng cho Vũ Trụ thuyết nên tôi chia trống đồng âm dương biểu tượng cho Vũ Trụ giáo ra làm 6 loại.

-Trong Dịch, các quẻ cũng dừng lại ở số sáu hào (hexagram) do hai quẻ ba hào (trigram) chồng lên nhau.

-Trống Trứng Vũ Trụ NXQ I sinh ra Trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI giống như một bào tử, một hạt, một cái mầm (tức một thứ trứng) sinh ra cây và ngược lại cây lại sinh ra bào tử, hạt, mầm, quả. Đây là vòng sinh tạo. Do đó tôi phân loại trống đồng khởi đầu từ Trứng Vũ Trụ NXQ I và chấm dứt ở Trống NXQ VI, là trống thành quả cho hợp và ăn khớp với vòng sinh tạo của Vũ Trụ thuyết. Theo tôi, các phân loại khác sẽ không hợp lý.

-Tôi đặt tên theo thứ tự các con số cho dễ nhớ:

./ Trống Heger I  là trống NXQ VI, trống Heger II là trống NXQ V, trống Heger III là trống NXQ III, trống Heger IV là trống NXQ IV ( tôi xếp theo thứ tự ngược với Heger) còn những trống trung gian của Heger có thể là ttrống NXQ II và I

./ Trống NXQ I là trống vũ trụ. Số I La Mã hình nọc biểu tượng vũ trụ dương nọc (trống là đực nên vũ trụ dương, nọc, universe là quay ve Uni-, một, có một khuôn mặt dương theo duy dương). Trống Lửa, thái dương, Càn NXQ II, số II La Mã là hai nọc (hai nọc dùi ra lửa) là trống thái dương, cực dương, lửa, Càn. Trống Đoài NXQ III, số 3 là Đoài, là trống Đoài. Trống Chấn NXQ IV, số 4 là Cấn hôn phối với Chấn là trống Chấn, trống Li  NXQ V, số 5 là Li, là trống Li biểu tượng cho Đất dương thế gian. Số 5 là số trục của ma phương 5/15 vì thế trống Li còn có một khuôn mặt biểu tượng cho Trục Thế Giới  và trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI, số 6 theo Dịch là số thành, là trống hoàn thành của quá trình Vũ Trụ tạo sinh, là trống Tam Thế, Nấm Vũ Trụ.

-Tôi đặt tên các loại trống theo theo thứ tự này là theo Âm Dịch vì chủ nhân ông của trống đồng âm dương là những người Đông Sơn, người cổ Việt sống bên bờ nước thuộc ngành âm nước (ứng với Lạc Việt). Ta có thể kiểm chứng thứ tự của cách phân loại của tôi theo Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc. Đọc theo Bầu Cua Cá Cọc là đọc theo chiều âm cùng chiều kim đồng hồ tức đọc theo Âm Dịch:
.Bầu đỏ: là bầu lửa vũ trụ ứng với trống Trứng Vũ Trụ NXQ I, ứng với khuôn mặt vũ trụ của Đế Minh đội lốt Thần Nông hiệu Đế Minh (Thái Cực) và ở cõi tiểu vũ trụ ứng với Đế Minh Thế gian là Đế Ánh Sáng Lửa trời Càn có biểu tượng là trống Lửa NXQ  II.
– Cua Gió dương ứng với trống Gió NXQ III.
– Cá Chép Nước dương ứng với trống Nước Chấn NXQ IV.
– Con Cọc, Hươu Cọc Đất dương ứng với trống Đất NXQ  V.

Như thế muốn nhớ thứ tự bốn trống ứng Tứ Tượng chỉ cần nhớ tới Bầu (bầu lửa là trống Lửa NNXQ II), Cua (NXQ III), Cá (NXQ IV) và Cọc (NXQ V). Còn trống Trứng Vũ Trụ I và Trống Cây Nấm Vũ Trụ là hai trống mang nghĩa sinh tạo, tái sinh của đầu và cuối vòng sinh tạo (trứng tức hạt mầm, hột sinh ra cây và cây sinh ra quả, ra hột).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: