THU BALTIMORE (Truyện ngắn).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

 THU BALTIMORE

Truyện ngắn

Nguyễn Xuân Quang

 

Đặng đi dự hội nghị tu nghiệp ở Baltimore vào tuần lễ cuối cùng tháng mười.

Từ khu đại hội trở về khách sạn, Đặng ghé lại quầy tiếp khách lấy chìa khóa phòng. Người tiếp viên trao cho chàng một bao giấy nhỏ:

-Ông có phong thư.

Bao thư khá dầy. Đặng cau mày. Ai gởi cho mình? Chàng nắn phong thư. Có một vật cứng như tấm bìa nhỏ ở bên trong. Không có dán tem bưu điện. Tên chàng viết theo thứ tự tên Mỹ. Không có địa chỉ khách sạn hay số phòng. Ở trên cao, góc trái có đề địa chỉ người gởi. Không có tên người gởi. Mặt sau có dán hình quả bí ngô-ma trơi jack-o-lantern. Trái bí ngô cười toe toét nhe mấy cái răng sún dán ngay chỗ mở thư dùng làm con niêm dán kín để ngăn ngừa những người tò mò, tọc mạch mở thư ra xem lén. Ngay dưới có hàng chữ Happy Halloween. Đặng rảo bước về phòng. Trong thang máy chỉ có một mình. Đặng xé vội phong thư. Một tấm vé mời chàng đi dự party hóa trang Halloween đêm nay tại ngôi nhà thờ cổ Westminster thuộc Đại Học Maryland, Baltimore. Về tới phòng Đặng vẫn còn thắc mắc. Có lúc thắc mắc lên tới độ khó chịu. Ai đã gởi vé mời chàng? Một người mến mộ? Một ma quái Halloween? Chàng chưa liên lạc với bất cứ ai kể từ khi đặt chân tới Baltimore. Chàng ném bao thư lên bàn. Cố coi như không có gì đáng để bận tâm. Đi hay không là do mình. Chàng tự nhủ.

Đặng tắm rửa. Thay quần áo. Chàng tiếp tục sống theo chương trình đã vạch sẵn. Mấy ngày qua đi dự hội nghị từ tờ mờ sáng tới tối mịt. Buổi trưa chàng chỉ có được hơn một tiếng đồng hồ tự do, nghỉ ăn cơm trưa. Chàng thường lấy “đường trời” (sky-walk) từ khu hội nghị Convention Center đi ra Nội Cảng (Inner Harbor) ăn trưa. Khu Inner Harbor nổi tiếng đẹp nhất Baltimore. Hôm nay Halloween chàng được nghỉ buổi chiều. Chàng muốn đi thăm vài nơi khác. Trước khi rời phòng, chàng nhét bao thư vào túi.

Đặng băng qua đường đi thăm Johns Hopkins. Khách sạn chàng đang ở bao quanh bởi các đại giảng đường của Đại Học Johns Hopkins. Ông Johns này không giống như các ông John thường nhân khác. Tên Johns của ông có thêm chữ S tận cùng. Chính vì chữ S khác thường đó mà chàng muốn đi thăm Đại Học Johns Hopkins.

Một khung trời thu đại học. Những ngôi nhà cổ kính nằm trong một khuôn viên mênh mông. Một rừng thu sắc. Rừng cây tô trấn hương (sweet gum), dương hồng (dogwood), thù du (sumac) lá thu rực lửa. Thu thắm. Thu hồng. Thu son. Rừng sồi, rừng dẻ gai, rừng phong rực rỡ “một mầu quan san”. Thu hoàng ngọc. Thu hổ phách. Thu vàng. Lên một ngọn đồi cao, Đặng cởi áo khoác ngoài trải xuống thảm lá thu. Chàng nằm xuống với thu. Trời thu xanh biếc. Gió thu ném từng đợt confetti-lá thu từ trời. Hàng ngàn hàng vạn bướm-lá thu phất phới. Trong lòng Đặng sống lại những mùa thu xưa. Có Thu Hồng. Có Thu Cúc. Có Thu Nguyệt. Có Thu Hà… Có Thu Quyến Rũ. Có Thu Hát Cho Người. Có Mùa Thu Lá Bay. Có Buồn Tàn Thu. Có Giọt Mưa Thu. Có Lệ Thu…

johns hopkins.2

 

 

 

Đặng chợp mắt với thu lúc nào không hay. Lúc mở mắt tỉnh dậy người đã phủ kín lá thu. Một thoáng chợp mắt mà đã ngàn thu lá vàng. Đặng trở dậy để nguyên những chiếc lá thu còn dính trên người. Chàng thả bộ trong khuôn viên đại học. Chàng băng ngang qua vườn điêu khắc ghé vào Bảo Tàng Viện Mỹ Thuật Baltimore thăm khu vườn Giverny của Monet. Đang có triển lãm tranh Monet. Chiếc cầu Nhật Bản bắc qua ao súng, ở đây, giờ này, phản ánh rực rỡ ánh nắng. Trong khi đó bên ngoài trời, ánh nắng thu đã xế tà.

Thành phố đang vui nhộn với ma quái Halloween. Halloween ngày xưa mang nghĩa là hallow eve, buổi tối trước ngày lễ các thánh vào đêm cuối tháng mười. Rồi Hallow eve thay hình đổi dạng biến thành ngày lễ hóa trang Halloween. Một năm, một lần, con người hóa trang, đeo mặt nạ để sống một ngày với tâm ước của mình. Sống một ngày với tâm bệnh của mình. Sống một ngày với những ước mơ chưa thành. Sống một ngày với những giấc mộng đã vỡ tan. Vui đùa. Vui và đùa. Chàng vẫy taxi xuống Nội Cảng. Chiếc taxi trang trí cảnh địa ngục. Tài xế đầu sừng, đuôi dài, nanh xanh mỏ đỏ. Đặng xuống bến đổi qua taxi nước (water-taxi) đi thăm một vòng vịnh Chesapeake. Mỗi khi thu về hàng ngàn du khách từ phương bắc bay về vùng vịnh Chesapeake. Những con ngỗng trời Canada, đầu đen, cổ khoang, má trắng. Những tiếng kêu rổn rảng vang dội từng trời. Người Mỹ bảo chúng “bóp còi”, “honking”.

Đặng ghé bến Fell’s Point tìm một cái gì lót dạ. Fell’s Point là xóm di dân Polish. Những nàng kiều nữ Ba-Lan tự hào mình là những nàng “sạch bóng”. Sạch như lau như chùi. Trong như ngọc, trắng như ngà. Những người đẹp Polish thơm tho hãnh diện mang trên áo hàng chữ “I’m a Polish girl”. Đặng tìm tới tiệm Obrycki’s Crab House ăn món ghẹ hấp. Đến vùng vịnh Chesapeake phải ăn món ghẹ hấp bằng nước pha dấm tẩm gia vị old bay. Chesapeake gốc từ tiếng thổ dân Mỹ châu là Chesapeach có nghĩa là cua tôm sò hến. Vịnh Chesapeake, vịnh Cua Tôm. Baltimore, thành phố ghẹ. Dân vịnh Chesapeake, dân Maryland hãnh diện về con ghẹ xanh của xứ sở mình.

Ăn xong không còn mục gì khác nữa, chàng quyết định đi tới cái địa chỉ người gởi vé mời chàng đi dự party đêm nay trước khi về khách sạn. Đi hay không, chàng vẫn chưa có ý định dứt khoát. Chắc phải là một địa chỉ kín cổng cao tường. Một địa chỉ “Em ngồi trong khung cửa”. Chắc phải là thế. Chàng nhẩy vội lên taxi. Chiếc taxi Halloween trang hoàng thành một chiếc xe cảnh sát… Xe mầu đen trắng trông in hệt như chiếc xe cảnh sát ở Quận Cam, Nam Cali. Người tài xế taxi hóa trang thành một viên cảnh sát công lộ. Cảnh phục lôi thôi, lốc thốc. Cả người ghim đầy những giấy phạt vạ vi phạm luật giao thông. Hắn đeo dùi cui nhựa, súng giả đồ chơi trẻ con.

-Happy Halloween.

-Happy Halloween.

-Ông đi đâu?

Đặng chìa ra cái địa chỉ ở góc bì thư. Người tài xế dọt lẹ. Hắn hát nho nhỏ trong miệng. Thích thú. Bí hiểm.

-Bác biết chỗ đó chứ?

-Ai mà không biết cái địa chỉ nổi tiếng đó. Tôi nhắm mắt cũng chạy được tới đó.

Hắn bóp cái túi cười. Tiếng cười sằng sặc. Đểu giả. Hắn nhắm mắt lại. Chiếc xe chạy xàng xê. Lạng qua lạng lại.

-Hê! Bác lái cẩn thận. Coi chừng bị cớm phạt cho bây giờ.

-Đùa chút. Ông đừng bận tâm. Halloween mà! Mỗi năm sống đùa giỡn với ma quỉ một lần cho bớt đạo đức giả. Thiên hạ mang mặt nạ người sống ma quỉ một đời. Có đứa không dám mang mặt Halloween sống với ma quỉ một lần. Ma sợ ma. Quỉ sợ quỉ.

-Bác bảo cái địa chỉ đó nổi tiếng?

-Phải.

-Nổi tiếng về cái gì?

-Một vụ án mạng!

Người tài xế bóp túi cười. Tiếng cười rùng rợn.

-Bác không nói đùa chứ?

Oh man! Vụ án mạng đó ở đây ai mà không biết.

Hắn chép miệng, tắc lưỡi.

-Ông ở xa mới tới?

Đặng không trả lời, giả lơ. Nhưng chàng biết rõ hắn đã nhận ra chàng là một du khách.

Oh man, poor man!

Hắn nhe hàm răng trắng hếu. Hàm răng anh Bẩy Chà Hynos. Không nghe thấy tiếng cười.

Hắn lái xe chậy vào một khu phố da đen ổ chuột. Những căn nhà gạch đỏ, xây thành từng dẫy. Đổ nát hoang tàn với năm tháng, không tu sửa. Hư sao để vậy. Trên tường chi chít những graffiti. Đặng có cảm tưởng hắn đang đưa mình tới một khu đầy tội ác để rồi ra tay hành động. Không hiểu sao chàng đả có ý tưởng là cái địa chỉ của người mua vé mời chàng phải là một cái địa chỉ khuê các. Một cái địa chỉ đài trang.

-Ông “cóp” đi có đúng đường không đó?

-Ố ồ… oh man! tôi đi ngược đường rồi. Cám ơn ông đã nhắc tôi.

Đặng nghĩ mình đang gặp phải một tên lái taxi lưu manh. Chàng cố giữ bình tĩnh. Hắn lái xe quay ngược trở lại.

-Là cảnh sát công lộ mà ông không thuộc đường sao?

-Tôi chỉ làm cớm long nhong ngoài đường một năm một lần vào đêm Halloween thôi. Tôi khoái làm cóp từ thuở nhỏ. Đêm Halloween tôi thường hóa trang thành cảnh sát đi treat or trick xin bánh kẹo.

-Rồi lớn lên lại làm tài xế taxi đương đầu với cóp!

-Đời có nhiều chuyện oái oăm quá ông nhỉ!

-Nếu còn xa quá thì thôi, ông cho tôi về khách sạn.

-Đến nơi rồi.

Hắn dừng lại căn nhà đầu một dẫy phố gạch đỏ điêu tàn. Những người da đen đang ngồi trên tam cấp trước cửa nhà nhìn ra đường. Họ đang chờ đợi một biến cố xẩy ra để giết thì giờ buồn tênh. Trong những xó, đó đây, từng nhóm trung niên da đen túm năm tụm ba. Họ châu đầu đang toan tính, âm mưu một chuyện gì? Đứng dựa tường những nàng con gái da đen, đầu tóc kết bím thành những con rết nhỏ. Môi son, môi tím. Họ hóa trang thành những cô gái đứng đường Halloween?

-Từ nẫy giờ tôi nói chơi chơi ông đừng để tâm làm gì. Bây giờ tôi mới nói sự thật. Thủ phạm vụ án mạng trong căn nhà đó họ chưa tìm ra. Ông biết là ai không? Chính tôi là thủ phạm. Ông giữ kín chuyện này nghe. Chính tôi là thủ phạm.

Hắn bóp túi cười. Tiếng cười quỉ quyệt, ma mãnh. Dường như hắn biết rõ từng chỗ trong túi cười. Bóp chỗ nào sẽ phát ra tiếng cười thích hợp với câu chuyện hắn đang nói lúc đó.

Căn nhà trang hoàng toàn mầu đen và mầu bí ngô. Trông như một cái tổ chim khổng lồ. Một con chim đen đậu trên ống khói lò sưởi.

-Ông muốn tôi chờ ngoài này chứ?

-Khỏi cần. Có thể tôi ở lại lâu trong đó.

-Á, à… Ông không thể ở lâu trong đó được đâu! Khủng khiếp lắm! Một vụ án mạng. Đổ máu! Đẫm máu! Bê bết máu! Tòe loe toét loét máu! Tùm lum tùm la máu! Nhầy nhụa máu! Á, à… tôi đánh cuộc với ông đó.

Đặng sẵng giọng:

-Tôi không trả tiền chờ đợi cho ông đâu!

-Không sao… Oh man, người sẽ biết ơn tôi!

Hắn hát một điệu hát đùa cợt. Người lắc lư. Ra khỏi xe, Đặng đọc vội số xe. Chàng nhét số xe vào một xó nhớ trong đầu. Chàng băng qua đường. Đúng là cái địa chỉ ở góc phong bì. Số 203 North Amity.

Cái địa chỉ Vụ Án Mạng Đường Nhà Xác. The Murders in the Rue Morgue. Đúng là cái Tổ Quạ. The Raven. Địa chỉ căn nhà Edgar Allan Poe đã ở. Đây chính là ngôi nhà của người dì Virginia Clemm mà Edgar Allan Poe lúc chưa nổi danh đã tá túc. Chính nơi này ông đã mê người em họ, con gái của người dì. Sau đó ông đã cưới nàng làm vợ. Lúc cưới nàng mới mười ba tuổi. Cũng chính tại nơi này ông viết bài thơ Con Quạ The Raven.

Cửa trước khóa kín. Đặng đi vòng ra cửa bên. Cửa bên cũng khóa. Nhìn vào cửa sổ. Lờ mờ chàng chỉ thấy tủ rượu ở sát bên ngoài. Đặng đã đọc qua về mấy chai rượu này. Hàng năm vào ngày sinh nhật Edgar Allan Poe, từ năm 1949 tới giờ, một kẻ bí mật nào đó đã lén để trên mộ ông một bó hoa hồng và một chai Cognac thượng hạng. Những chai rượu mến chuộng còn được lưu trữ nguyên si trong cái tủ đó. Bó hoa hồng và chai rượu của một độc giả, một khách ái mộ, một người mộ điệu văn tài Edgar Allan Poe. Mấy chục năm trời tình yêu mến đó vẫn không hề phai, không sót một năm nào. Một bó hồng, một chai Cognac, một tấm lòng mến mộ văn chương.

Hù… Hù… Hù…

Đặng giật mình quay phắt người lại. Một con khỉ đột. Một con kingkong. Nó giơ cao con dao cạo. Lưỡi dao đẫm máu. Máu nhểu từng giọt.

-Ông đi tìm Thủ Phạm? Hù… Hù… Hù…

-Tôi… tôi… tôi muốn vào thăm ngôi nhà…

Đặng cố đứng vững trên hai chân.

-Tôi là con Ourang Outan ở Đuờng Nhà Xác đây…

Bây giờ chàng mới nhận ra giọng nói da đen nhừa nhựa của nó.

-Cửa đóng…

-Giờ này đóng cửa rồi… Nếu đã mua vé đi dự dạ hội đêm nay mà chưa lấy ở đây thì tối có thể lấy ở nhà thờ Westminster… Hù… Hù… Hù…

-Cám ơn Ourang Outan.

Đặng quay người, bước nhanh. Sau lưng tiếng gầm gừ và tiếng hú của con Đười Ươi thủ phạm Vụ Án Mạng Đường Nhà Xác. Chàng có cảm tưởng lưỡi dao cạo sắp chạm vào gáy mình. Rợn người. Nổi gai ốc. May mắn. Người taxi vẫn còn chờ chàng. Đặng mở cửa xe vội nhẩy vào xe.

-Thấy chưa! Tôi nói có sai đâu. Ghê lắm! Chết người như không!

Đặng làm tỉnh. Chàng bảo hắn lái xe về khách sạn. Trong đám những nàng da đen đứng đường, có một nàng đã bỏ đám đông giả vờ đến nói chuyện với người tài xế taxi cố ý chờ Đặng. Người con gái mở nút áo choàng trưng bầy hàng họ, mời chào.

Nắng một ngày thu tàn sớm. Đường phố Halloween ma quái hơn. Kì nhân, dị vật, ma quỉ đã thấy xuất hiện đầy, đó đây.

Về tới khách sạn, tên tài xế taxi tính luôn cả tiền chờ đợi. Chàng hoan hỉ trả và cho thêm tiền típ.

Người tiếp viên khách sạn cho chàng biết có một người nữ gọi điện thoại nhắc chàng đi dự party đêm nay. Người đó không để lại tên và số điện thoại. Bây giờ chàng mới hiểu ra “người ấy” đã mua vé dạ hội tại địa chỉ căn nhà Edgar Allan Poe đã ở, bây giờ căn nhà ấy dùng làm bảo tàng viện cho nhà văn này. Người ấy là ai? “Nàng” đã biết chàng thích đọc truyện kì bí? Một người yêu thầm trộm nhớ chàng? Một người nữ theo dõi đường đi nước bước đời chàng? Không còn gì để suy nghĩ nữa. Chàng quyết định đi dự party hóa trang Halloween đêm nay.

*

*           *

Gần nửa đêm, Đặng xuống đứng chờ trước cửa khách sạn. Vốn đã mang theo cái áo field-jacket nhà binh cũ -cái áo là kỉ vật tị nạn do các quân nhân Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tặng khi chàng đặt chân tới trại tị nạn San Onofre, Pendleton, California, năm 1975- chỉ cần có thêm vài thứ phụ tùng lặt vặt nữa chàng đã hóa trang thành một quân nhân. Chiếc xe quan tài Halloween của hãng du lịch đến đón chàng trễ. Tài xế là một bộ xương người. Chàng bước vào quan tài tìm một chỗ ngồi. Hành khách toàn là ma vương, quỉ sứ, đầu trâu, mặt ngựa… Ngồi xuống quan tài, giờ chàng là một tử sĩ. Chiếc quan tài như từ nhà mồ mới chui ra đầy màng nhện, cát bụi, bùn đất. Đường phố giờ nhan nhản ma quái.

Chiếc xe quan tài dừng lại trước một ngôi nhà cổ. Nhà thờ Westminster tọa lạc tại góc đường Fayette và Grene, xây trên một nghĩa trang.

Đêm thu tha ma mờ ảo sa mù. Trên những nấm mồ, bia mộ nghiêng ngả, rêu phong, lập lòe ánh ma trơi bí ngô. Lưới nhện trắng như bông giăng mắc từ nhà mồ này qua nhà mồ khác. Những con nhện tinh «góa phụ» ‘black widow’ đôi mắt đỏ máu, chết người. Những cánh dơi ma-cà-rồng lao chao trong đêm tối. Những con mắt cú vọ lân tinh rình rập. Tiếng hú oan hồn. Tiếng nhạc yêu ma…

Sát hàng rào, ngay lối vào, nổi bật, một ngôi mộ trắng. Ngôi mộ ba mặt bia. Một mặt khắc tên Edgar Allan Poe. Hai mặt kia khắc tên vợ và mẹ vợ của ông.

 

Edgar Allan Poe

Trên tường có tấm bảng tưởng nhớ Edgar Allan Poe của một hội thi văn Pháp. Đây là ngôi mộ mới cải táng sau này. Đặng đi tìm ngôi mộ nguyên thủy nằm ở sân sau nhà thờ. Ngôi mả đó vẫn còn tấm bia với con quạ đậu dưới nóc mộ bia. Con quạ bây giờ đã gẫy mỏ. Đây đó những căn nhà mồ đồ sộ có cổng sắt hoen rỉ. Nơi đây an nghỉ những anh hùng hào kiệt, những công hầu khanh tướng, những danh gia vọng tộc vang bóng một thời của Baltimore. Người ta cố giữ nguyên những nét hoang tàn của năm tháng. Những ngôi mả trông như những ngôi mồ vô chủ. Bia đá đã mòn, sứt mẻ.

Đột nhiên nóc một ngôi nhà mồ mở bung ra. Cõi chết mở ra. Cửa âm ty mở ngỏ. Âm phủ chào đón. Những tham dự viên lũ luợt chui xuống âm phủ. Nắp mồ đậy lại. Âm dương cách trở đôi đường. Lòng nhà mồ chật ních. Những ma. Những quỉ. Những quái. Những yêu. Những tinh. Những thú vật người. Những mục súc người. Những sâu bọ người. Những chó má người. Những rắn rết người. Những Frankenstein. Những Doodak. Những Đú Đa Đú Đởn. Những thần. Những thánh. Những tiên. Những thần thoại. Những cổ tích… Chỗ này ma mãnh đang hài tội con người. Chỗ kia quỉ sứ đang xét xử tội ác con người. Chỗ khác quái vật đang nguyền rủa cái vô luân, vô đạo đức của con người. Chỗ nọ yêu tinh lên án sự hèn nhát vô bờ, vô bến của con người…

Ngôi nhà thờ xây trên một nghĩa trang đã có từ trước. Nhà thờ đứng trên các trụ cà kheo. Nhà thờ «ngồi xổm» trên nghĩa trang. Những trụ móng tránh né các ngôi mả cũ chia hầm nhà thờ ra từng ngăn hình rẽ quạt tương tự như một hầm nhà mồ catacomb.

Một tiếng sấm gầm. Tiếng nổ vang dội. Tiếng mưa gào. Tiếng gió hú. Tiếng chim vỗ cánh. Một con quạ đen phóng lên thềm cao. Quạ. Quạ. Quạ. Hắn kêu quạ quạ cho tới khi đám người ngợm ma quái im lặng. Hắn bắt đầu nói về thân thế và sự nghiệp của Edgar Allan Poe. Hắn kết thúc bằng cái chết bí mật của ông. Edgar Allan Poe đã chết vào một ngày đầu tháng mười. Hưởng dương bốn mươi tuổi. Người ta tìm thấy ông mê man ở một nơi đầu phiếu. Edgar Allan Poe mê man vì ngộ độc rượu? Hay vì bị đầu độc? Ông qua đời sau bốn ngày hôn mê.

Tiếng nhạc cõi chết lạnh người vang lên. Cánh cửa nhà mồ có tên Edgar Allan Poe bật tung ra. Xác chết ngồi dậy. Vầng trán gồ. Tóc hơi xoăn lòa xòa hai bên. Chính là Edgar Allan Poe. Xác chết vỗ đầu tỉnh ra khỏi cơn hôn mê. Ông lấy giọng, rồi ngâm thơ.

Once upon a midnight dreary,

While I pondered, weak and weary,

Over many a quaint and curious

Volume of forgotten lore.

While I nodded, nearly napping, suddenly

There came a tapping,

As of someone gently rapping,

Rapping at my chamber door.

‘Tis some visitor’, I murmured,

Tapping at my chamber door-

Only this and nothing more.

 

……

 

Nameless here for evermore

 

……

 

This is it and nothing more.

 

……

 

… Nevermore.

Xác chết diễn ngâm bài thơ The Raven thật tuyệt vời. Nghe lịm người. Xác chui lại vào hầm mộ tối an nghỉ. Cánh cửa ngàn thu khép lại. Nhạc ma quái macabe trổi dậy. Dạ vũ bắt đầu. Ma, quỉ, người, ngợm, quái, thú, thánh, thần, tiên… quay cuồng nhẩy múa vui đùa cùng nhau. Kêu. Gào. Hú. Hét. Tru. Rú. Vui. Cười. Đùa. Giỡn. Đặng nhẩy với tất cả.

Một tiếng hát thầm thì bên tai chàng. “Đừng bỏ em một mình! Đừng bỏ em một mình! Đường về nghĩa trang mênh mông. Đừng bỏ em. Đừng bỏ em một mình! Đừng bỏ em một mình! Đường về nghĩa trang lênh đênh…”. Đặng đang ôm trong tay một xác ướp. Chàng đang nhẩy với một mummy. Một xác ướp Ai Cập cổ biết hát tiếng Việt. Chàng ôm sát xác ướp vào người bầy tỏ ý chia xẻ với nàng.

-Happy Halloween.

-Happy Halloween.

-Mummy hát hay lắm!

-Lâu rồi không hát. Đêm nay Halloween bỗng dưng có hứng thích hát lại bản nhạc đó.

Chấm dứt điệu nhẩy, chàng dìu xác ướp ra một chỗ nhà mồ vắng người. Xác ướp người quấn kín vải liệm chỉ còn chừa lại hai con mắt và cái miệng. Hai con mắt long lanh. Cặp môi phớt tím. Răng trắng đều như ngọc. Người thon đẹp. Vải liệp bó sát người nâng bộ ngực no tròn dựng đứng cong lên. Bộ ngực sừng cong.

-Mummy dùng gì? Bloody Mary hay Sangria?

-Lúc này tôi chưa muốn uống mấy thứ máu đó!

-Đêm nay họ chỉ bán mấy thứ nước uống mầu máu đỏ. Bán toàn thứ nước uống của ma-cà-rồng Dracula.

-Nếu có, cho tôi một cốc Punch Hawaii cũng được.

Không có nước Punch, chàng mua nước cà chua cho Mummy. Đôi mắt và cặp môi còn lại trên thân xác xác ướp không giúp Đặng nhận diện ra được tung tích xác ướp. Cặp mắt tinh quái. Cặp môi khiêu gợi. Chết người. Hai người nhẩy say sưa, quấn quít. Đặng nhiều lúc muốn thôi nhẩy để ngồi nói chuyện nhưng xác ướp vẫn háo hức muốn nhẩy làm như là nàng chỉ có sống lại được một đêm nay thôi. Chàng phải chiều nàng nhẩy liên hồi.

-Chúng mình tìm một chỗ nào ngồi nói chuyện đi.

-Tôi muốn đi dạo.

Chàng tìm người hướng dẫn viên báo cho hắn biết chàng về sớm không cần xe đưa về khách sạn nữa. Xác ướp lái xe đưa chàng đi thăm một vòng Baltimore về đêm rồi dừng lại ở khu Nội-Cảng. Hai người dìu nhau đi quanh bờ nước. Nàng vẫn không thổ lộ một lời về mình.

-Mummy hát cho tôi nghe hết bài hát lúc nẫy đi.

-Tôi không thuộc hết lời.

-Nhớ câu nào hát câu đó.

Xác ướp dựa sát vào người chàng. Nàng cất tiếng hát. “Đừng bỏ em một mình! Đừng bỏ em một mình! Trời lạnh quá, trời lạnh quá. Sao đành bỏ em một mình. Chiều lộng gió, chiều lộng gió…”.

Đặng nắm chặt bàn tay xác ướp khen tặng. Chàng cởi chiếc áo field jacket khoác lên người xác ướp. Đêm thu bên sóng nước cũng lạnh và lộng gió như lời bài hát. Lá vàng đêm rụng nhiều. Hai người đi thả bộ hết khu Nội-Cảng.

-Ngày xưa ông là quân nhân?

-Phải.

-Bây giờ người lính vẫn còn sống trong ông?

-Phải. Mãi mãi. Bao giờ tôi cũng vẫn là một kẻ phấn đấu. Một kẻ chiến đấu. Một kẻ đấu tranh cho quyền sống con người.

-Ông đưa áo cho tôi mặc coi chừng bị cảm lạnh đó.

-Chúng mình vào một cái quán nào tìm cái gì ăn cho ấm người. Đi chơi đêm như thế này, tôi lại nhớ đến những cái hẻm bán thức ăn khuya của Saigòn ngày trước.

-Xác ướp này mà vác mặt tới các hẻm đó thì thiên hạ Saigòn sẽ hoảng hồn hết vía.

-Hình như ở đây có tiệm ăn Cochin, Cô Chín gì đó?

-Sợ tiệm đó giờ này đóng cửa rồi. Để tôi lái xuống Little Italy xem có tiệm ăn nào còn mở cửa không.

Little Italy. Những căn nhà cổ có hầm, có bậc tam cấp trông như một khu phố Venice cũ nào đó. Nhiều tiệm ăn còn mở cửa.

-Mummy là thổ công ở đây, cô có muốn đề nghị một tiệm ăn nào không?

-Không. Tùy ông.

-Vậy thì chúng ta cứ vào tiệm nào đông khách. Một là đông vui, hai là chúng ta ít khi bị thất vọng về thức ăn.

Hai người vào một tiệm ăn đầy ma quái Ý đang vui đùa, đàn hát. Một tiếp viên trong trang phục ngư nữ đưa hai người tới một chiếc bàn trống.

-Buon giorno.

-Ciao Sirena. Che bella! Che carina!

-Grazie mille, Signore. Cám ơn ông rất nhiều. Mummy và ông lính muốn dùng những món ăn chơi đặc biệt trong ngày hôm nay không?

-Có món gì vậy?

-Mùa này có món sò tươi ở vịnh Chesapeake rất ngon. Sò mọng nước và ngọt.

Chàng buột miệng nói ra thành tiếng:

-Bây giờ tháng mấy?

Thật ra chàng chỉ muốn tự hỏi trong đầu mình. Dĩ nhiên bây giờ là cuối tháng mười. Để che lấp cái buột miệng của mình, chàng vờ làm ra vẻ mình là một nhà thông thái đãng trí. Chàng ngửa cổ ra sau tìm câu trả lời.

«Tháng mười. October. Ngư nữ nói đúng đó. Sò trong những tháng tên có chữ R tận cùng như September, October, November, December ăn rất ngon. Cô cho chúng tôi vài phút.

Chàng muốn nói tới cái bùa nhớ có ý bậy là “những tháng có chữ R tận cùng thì nên “rờ đến sò” nhưng không dám nói ra trước mặt xác ướp sợ khiếm nhã. Ngư nữ đưa thực đơn:

-Ông bà cứ thong thả chọn món ăn. Chút nữa tôi trở lại.

-Mummy dùng sò-nửa vỏ oysters on the half shell?

-Chịu. Tôi không quen ăn sò sống. Ông thích thì cứ gọi.

-Thế Mummy có thích những món có ba mầu cờ Ý không?

-?

-Sốt cà chua đỏ, pasta xanh, cheese trắng.

-Nhờ ông gọi hộ.

-Mummy tuổi gì nào?

Xác ướp nghi ngại. Đặng giải thích:

-Tôi muốn hỏi tuổi theo tử vi Tây phương. Chỉ cần tính theo ngày tháng không cần biết tuổi. Tôi chỉ cần biết là tuổi Ngư Nữ, Bảo Bình, Nhân Mã… thôi.

Mummy mỉm cười.

-Thật sự ông cần biết tử vi để gọi món ăn sao?

-Mỗi tuổi có một khẩu vị ưa thích riêng.

-Để coi… À, tôi tuổi Hổ Cáp.

-Hổ Cáp là con bò cạp. Sinh trong khoảng từ 22 tháng mười đến 21 tháng mười một. Vậy thì Happy Birth Day Mummy, đang mùa sinh nhật.

Hai mắt xác ướp lung linh.

-Cám ơn ông.

-Hổ Cáp có nọc độc chết người. Bò cạp kỹ ăn, ăn kiểu cách, ăn đúng nghệ thuật bếp núc. Không thích thì thà nhịn đói còn hơn. Thức ăn không những phải hạp vị mà mỗi món phải là một bài thơ, một bức họa… Sợi cà rốt thái chỉ là một nét cọ mầu. Cọng mùi đong đưa lau lách…

Ngư nữ trở lại. Đặng gọi cho xác ướp món fruiti di mare (fruits de mer) với sốt cà chua marinara và gọi cho mình món cá hanh sọc sốt trắng alfresco kèm theo một chai rượu Ý Chianti. Chàng muốn nếm thử món cá hanh sọc striped bass là loại cá đã được chọn làm biểu tượng cho các loài động vật của Maryland.

-Ông là thầy bói nói đúng quá. Nghe ông nói hết cả giận!

-Giận tôi?

-Hồi nẫy ông khen ngư nữ đẹp quá phải không?

-Phải. Che bella, đẹp quá! Che carina, xinh quá! Cô đúng là tuổi Hổ Cáp con bò cạp.

-Hổ Cáp thì sao ?

-Chết người. Con bò cạp cái ăn thịt bạn tình nếu không vừa lòng.

-Thế ông có sợ không?

-Hy vọng làm tròn được nhiệm vụ! Hy vọng sống còn!

Mummy cười dậy tình.

Ma quỉ Ý vui nhộn. Tiếng vĩ cầm réo rắt. Tiếng hát opera bồng bềnh sóng nước thành Venice. Khi chơi vơi soprano. Khi vời vợi teno. Khi trầm trầm baritone. Khi trầm thấp basso. Người bồi trong lớp vỏ con Cua Sebastian trong phim hoạt họa Mermaid của Walt Disney mang thức ăn ra. Vừa để thức ăn xuống bàn hắn vừa hát một bài ca bằng tiếng Ý với nhiều âm tận cùng bằng âm O. Miệng hát cũng có lúc vo tròn như chữ O.

-Buon appetito.

-Grazie, Granchio, Cám ơn, Con Cua.

Nào mời Mummy.

-Mời ông.

Đặng nâng ly. Hai người cụng ly.

-Xin chia xẻ cùng nhau những bất hạnh đời người.

-Xin chia xẻ.

-Món của Mummy ăn được chứ?

Đặng nhón một sợi mì Ý nhấm thử.

-Mì của tôi họ làm ăn rất ngon, rất tới. Không còn sượng bột, không quá chín sũng. Nghệ thuật nấu pasta như vầy là đến tuyệt đỉnh rồi. Người Ý bảo pasta ngon phải “hợp với răng”, phải “vừa răng” “aldènte”.Một tô mì Trung Hoa cũng vậy. Mọi yếu tố đều quyết định ở cọng mì. Hồi trước tôi ghiền ăn mì ở một cái xe mì đậu ở dưới một gốc cây bên Tân Định. Tôi hỏi chú ba bán mì là làm sao ông ta có thể làm và trụng những sợi mì tuyệt đến thế. Ông ta bảo mỗi lần làm mì, ông ta phải thắp hương cầu xin phù hộ. Cầu xin cả thánh, thần, tiên, Phật lẫn ma vương, quỉ sứ, cô hồn các đảng.

-Ông có biết ông Cua bồi bàn hồi nẫy hát bài gì không?

-Không.

-Tôi không biết tiếng Ý nhiều nhưng tôi biết rõ bài hát ấy, ông ta hát bài Kiss the Girl mà con Cua Sebastian đã hát trong phim Mermaid.

-Uổng quá! Nếu biết, tôi đã làm theo lời hát của ông ta rồi!

Xác ướp lườm yêu.

-Lúc nẫy còn giận nên không thèm nói.

-Mất một dịp bằng vàng. Hy vọng sống hiền ở lành trời sẽ cho một dịp khác.

Mummy ăn rón rén như mèo ăn. Nàng sợ thức ăn rơi xuống vải liệm quấn quanh người. Những dải mì Ý dẹp fettucine lòng thòng, thử thách.

-Mummy cởi băng quấn ra, ăn cho thoải mái.

Nàng cười tinh quái.

-Ông xui dại tôi! Gió lọt vào là xác ướp tan biến thành cát bụi ngay.

-Như thế có nghĩa là Mummy vẫn còn yêu đời.

-Ít ra là đêm nay.

-Tại sao lại chọn làm Mummy đêm nay?

-Tại ông!

-Tại tôi?

Mummy nói lảng.

-Cả đời tôi vẫn chỉ là một cái xác ướp. Người đời không thấy đó thôi.

-Thế hồn đi đâu?

-Đi bên cạnh cuộc đời.

Thấy đôi mắt xác ướp dại đi, Đặng nói qua chuyện khác.

-Đáng lẽ Mummy phải dùng mấy món ăn xứ Kim Tự Tháp vừa dễ ăn vừa hợp miệng hơn.

-Đêm nay ăn gì cũng ngon.

-Món ăn Ai Cập có những món mang tên những phần thân thể phái đẹp rất hấp dẫn như món “Người Đẹp Trong Mùng” fisolis, “Những Ngón Tay Ngà” bamia, “Đùi Tiên Nữ” kadin budu… mấy món này có thể ăn bằng tay.

-Tôi nghĩ mấy món đó quí ông thích.

-Đó là mấy món vương giả của các tiểu vương sultan.

-Có món nào tên là “Người Đẹp Trong Vải Liệm Không”?

-Tôi nghĩ là có. Tôi muốn được nếm món đó.

-Xí…

Tiếng xí của Mummy kéo dài thườn thượt. Nàng cúi mặt xuống đĩa thức ăn che dấu cảm xúc của mình.

-Đôi khi phải xấu, phải “” mới “xí”, mới dành được “cái đẹp”.

-Xí xọn!

Nàng cười. Nụ cười tươi nhất kẻ từ lúc chàng gặp nàng. Đặng đề nghị:

-Ăn xong chúng mình bỏ món tráng miệng về chỗ tôi ở dùng trà. Tôi đang ở một cái suite Victoria. Phòng khách có lò sưởi. Chúng mình đốt lửa đêm nay.

Mummy thăm dò:

-Ông ở một mình mà thuê cả một cái suite?

-Người đi dự đại hội đông quá. Trên sáu ngàn người đến từ khắp nơi trên thế giới. Khách sạn gần khu đại hội không đủ phòng. Ban tổ chức phải lấy cả những suites cho những người ở một mình như tôi.

Đặng nhìn thẳng vào mắt xác ướp:

-Dường như định mệnh an bài…

Ma quỉ Ý đã có đứa quá say. Có kẻ đã hiện ra nguyên hình người. Có tiếng chửi nhau. Có tiếng chai, cốc đập vỡ. Những tiếng than trời gọi mẹ ‘mama ô mamia’ sặc mùi phô-mai parmesan.

Hai người rút lui êm. Gió đêm lạnh giá. Lá thu vàng chậy đuổi nhau trên mặt đường. Yêu quái đã rút vào những hang ổ êm ấm.

Về đến khách sạn, Đặng đốt lò sưởi, pha trà trong khi xác ướp đi trang điểm lại dù chỉ là cặp môi. Đợi nàng trở ra chàng mới châm nước vào bình trà.

Đặng rót trà mời xác ướp:

-Mummy uống thử rồi đoán xem là trà gì nào?

Môi nàng giờ tô đỏ như lá thắm mùa thu. Nàng rón rén nhấp trà. Nàng lắc đầu.

-Không được. Phải lau hết môi son mới ngửi thấy rõ hương trà. Son làm uổng công pha trà của ông.

Xác ướp rút khăn tay trong ví ra lau sạch hết môi son. Nàng nhấp lại trà.

-Trà mạn sen phải không ông?

-Đúng đấy.

-Ngon tuyệt. Ông mang theo cả trà?

-Biết miền Đông mùa này bắt đầu lạnh, tôi mang theo trà mình thích, uống cho ấm người.

Hai người ngồi uống hết tuần trà. Lửa gỗ thông trong lò sưởi reo vui, nổ lách tách, không khí ấm, thơm mùi tinh dầu thông. Xác ướp ngả đầu vào lòng chàng. Đặng cúi xuống hôn thật nồng nàn. Xác ướp hụt hơi.

-Ôm chặt em đi.

Đặng ôm ghì thêm. Hai mắt nàng tình tứ.

-Mummy còn nhớ trò chơi Rồng Rắn không nhỉ?

-Nhớ.

Đặng để tay lên đầu xác ướp:

Xin khúc đầu.

Chàng chờ nàng ưng thuận sẽ gỡ bỏ lớp vải liệm băng quấn ra. Xác ướp chợt hiểu. Hốt hoảng. Nàng ngồi bật thẳng dậy, hất tay Đặng ra. Hai tay bưng giữ đầu. Nàng lắc đầu phản đối.

-Không được đâu. Ông gian lắm! Tôi không cho ông xem mặt tôi đâu.

-Phải trả lời theo bài hát chứ. Nào bắt đầu lại. Rồng Rắn có nhà không?

Không. Đi vắng rồi.

Đặng xoay tay một vòng.

Rồng Rắn có nhà không?

Không. Đi vắng chưa về.

Rống Rắn có nhà không?

-Không. Đi vắng sắp về.

Cuối cùng Đặng hỏi dồn:

-Rồng Rắn có nhà không?

-Có.

Xin khúc đầu.

Xác ướp giữ chặt băng quấn đầu. Lắc đầu quầy quậy.

Những xương cùng xẩu.

-Xin khúc giữa.

Hai tay nàng vẫng ôm cứng giữ băng quấn đầu. Bộ ngực sừng cong bỏ ngỏ.

Những máu cùng mê.

-Xin khúc đuôi.

-Tha hồ mà đuổi.

Xác ướp trốn chạy vào phòng ngủ. Nàng toan đóng cửa lại nhưng không kịp, Đặng đã ôm được khúc đuôi.

*

Xác ướp viết mấy chữ để lại trên mặt bàn. Đặng còn ngủ. Trong bức thư nàng cho biết là nàng đã mua vé mời chàng đi dự party. Xin chàng đừng thắc mắc muốn biết nàng là ai. Nàng lách mình ra ngoài, khóa trái cửa lại. Trời bên ngoài sương thu dầy đặc. Xác ướp giờ chỉ còn vải liệm quấn từ đầu xuống cổ. Từ cổ xuống chân, vải liệm không còn.

Trên lối nàng đi về ngập lá thu vàng…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: