Ngủ Đò (Thơ Chữ Nghĩa).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

NGỦ ĐÒ TRÊN SÔNG HƯƠNG

Nguyễn Xuân Quang

 

NHỮNG VẦN THƠ CHỮ NGHĨA

 

Những vần thơ CHỮ NGHĨA cho thấy Tiếng Việt (thật là) Huyền Diệu. Bài thơ này làm theo thể giản lược tối đa, bỏ hết phần đầu của mỗi câu. Vì ngủ đò xong, sáng dậy mệt đứt hơi, nói không ra lời, nên mỗi cầu chỉ còn có một từ cuối. Câu thơ chỉ còn lại vần cuối.

  …… đò. (1)

…… hò.(2)

…… o.(3)

……bò.(4).

 

Ghi Chú

Vì giản lược tối đa nên ý nghĩa bài thơ rất cô đọng. Chỉ xin gợi ý:

.(1) đò: vua quan sĩ thứ ai đến Huế cũng thích ngủ đò trên sông Hương.

.(2) : muốn ngủ đò thì phải hò đò (gọi đò). Ngoài ra ngủ đò, hò gọi đò xong thì phải thưởng thức các giọng hò Huế.

.(3) o: tiếng Huế là cô, nàng như o nớ. Muốn nghe hò thì phải gọi các o ca kỷ. Các o hò rất hay và o bế khách rất điệu nghệ.

.(4) bò: được o bế và được o bồng thì phải… , bò lê bò càng. Tục ngữ có câu Con biết lẫy thì bố biết bò .Trẻ em mới sinh thì

Ba tháng biết lẫy,  

Bẩy tháng biết bò,  

Cn tháng lò dò biết đi.  

(Tục ngữ).

Sản phụ sau khi sanh phải ở cữ ba tháng, vợ chồng ba tháng ở cữ này phải kiêng chăn gối nên khi sau ba tháng con biết lẫy thì lúc đó bố biết … bò.

Bò lê bò lết xong thưởng thức một tô bún bò Huế. Sau khi bò xong, ăn bún bò Huế về đêm do những người bán trên những con thuyền nhỏ trên sông Hương thì tuyệt cú mèo, không có bún bò ở đâu sánh bằng.

 

Sông Hương Về Đêm

 

Sông Hương sóng lặng chỉ ban ngày,  

Đêm đến quanh thuyền, sóng sóng lay.

Tình nắc nốc nên nốc nắc nác (1).

               Giã từ xứ Huế hãy còn cay.

 

Ghi Chú

(1)  nắc, nốc, nác là phương ngữ Bình Trị Thiên.

Nắc

theo bác sĩ Bùi Minh Đức trong Từ Điển Tiếng Huế thì

 1. nắc (liên hệ với tiếng Chàm net) động tác làm tình, cử động nhịp nhàng, lên xuống lúc giao hợp (Anh nắc em, em nắc nốt, nốt nắc nác, nác nắc trăng).

2. cách sàng gạo (từ cổ, theo từ điển Béhaine).

Theo tôi, nắc là từ Việt cổ đẻ ra từ Việt hiện kim là lắc. Trong Việt ngữ có hiện tượng vần cổ N nam hóa thành dạng hiện kim L như tiếng cổ là mũi nõ, c…c nõ (đâm ra như cây nõ như cây cọc: đóng nõ mít = đóng cọc mít) ngày nay biến thành mũi lõ, c…c lõ. Lõ vô nghĩa, nõ mới có nghĩa (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Hiện nay còn nhiều vùng ở Bắc Việt nói theo âm cổ là mũi nõ, c…c và bị những người ít hiểu biết về chữ nghĩa chế riễu cho rằng họ nói ngọng giữa hai vần n và l.

-Nốc (nốt)

ngày nay nốc hiểu là thuyền nhỏ:

 Ăn thì cúi chốc, kéo nốc thì than.
(Tục ngữ).

Ăn thì cắm đầu xuống ăn, còn kéo thuyền thì than.

Nguyên khởi nốc là thuyền độc mộc (dug-out) khoét từ một thân cây, một khúc cây “log”. Nốc ruột thịt với Anh ngữ log (log = lốc = nốc, nốt) và nog (then cài, chốt cài bằng khúc cây). Anh ngữ log, ruột thịt với nog.

Nốc là ghe nên giống như từ ghe cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ. Theo  dạng nam hóa n biến thành l, ta có nốc = lốc. Lốc cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

    Cô lô cô lốc,
Một nghìn ghính ốc đổ vào l… cô.

Thật ra phải viết là “cô lô cô nốc” mới đúng. Ta thấy rất rõ từ hiện kim lốc là dạng nam hóa của nốc (giống như lõ của nõ). Theo n=đ như này = đây, ta có nốc = đốc. Đốc cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ như  nốc. Ta thấy rất rõ đốc chỉ bộ phận sinh dục nữ qua từ mồng đốc là cái mồng (mào) ở bộ phận sinh dục nữ (clitoris).

-Nác

nác là nước như

Trăm rác lấy nác làm sạch.

(Tục ngữ).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: