SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA TRUYỀN THUYẾT VIỆT VÀ AI CẬP CỔ (7)

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

 

 SO SÁNH TRUYỀN THUYẾT VIỆT và AI CẬP CỔ

DƯỚI CÁI NHÌN TỔNG THỂ.

(tiếp theo, bài số 7)

               DỊCH CỬU THẦN ENNEAD CỦA

AI CẬP CỔ

                        Nguyễn Xuân Quang

Trên đây là cách diễn đạt truyền thuyết Cửu Thần của tộc mặt trời Nước Atum-Ra ở Heliopolis của Ai Cập cổ.

Ta thấy truyền thuyết Cửu Thần diễn tả theo Vũ Trụ Tạo Sinh ứng với một loại Dịch. Bây giờ ta hãy đi tìm một loại Dịch Ai Cập thích ứng với truyền thuyết Cửu Thần này.

Trước hết xin nhắc lại là các vị thần trong Vũ Trụ Tạo Sinh có nhiều khuôn mặt ứng với Dịch lý. Mỗi khuôn mặt có thể ứng với một quẻ. Vì thế Ai Cập cổ có thể có nhiều loại Dịch khác nhau. Ở đây ta phải chọn những khuôn mặt thích hợp với Cửu Thần của ngành nòng âm mặt trời hoàng hôn Atum-Ra tức ngành Hathor (ứng với ngành Thần Nông). Phải cẩn thận là các vị trong Cửu Thần có những khuôn mặt hiểu theo các lăng kính khác ở các trung tâm văn hóa khác nằm ngoài truyền thuyết Cửu Thần. May mắn hơn trong các nền văn hóa khác là Ai Cập cổ còn có rất nhiều chứng tích qua các hình tượng, linh tự, bản văn (text) nên tương đối dễ tìm được những khuôn mặt thích ứng đúng đắn và khả dĩ kiểm chứng được, tránh những tranh cãi, ví dụ một vị thần có nhiều trang phục đầu  hay trang phục đầu có nhiều phần chẳng hạn thì một trang phục hay một phần có thể là một khuôn mặt ứng với một quẻ. Nếu đem sắp xếp những khuôn mặt này lại ta có thể có những loại Dịch khác nhau. Ai Cập cổ có thể có những loại Dịch khác lạ không giống ai (có thể lạ là loại Dịch riêng của văn hóa Ai Cập cổ  hay lạ là do Vũ Trụ giáo của Ai Cập cổ du nhập từ đâu vào nên bị hiểu sai lệch đi). Trong các loại Dịch thì Dịch có những cặp đi đôi hôn phối nòng nọc, âm dương tương phản kiểu vợ chồng là phổ thông nhất còn những loại Dịch có những cặp đi đôi theo bản thể nòng nọc, âm dương tương đồng kiểu  anh em, chị em ruột thịt, mẹ cha với con cái và đồng tính phái nam (gay) hay nữ (lesbian) ít phổ thông.
Ở đây tôi chọn những khuôn mặt làm sao để từng cặp đi đôi với nhau theo hôn phối vợ chồng đã từng thấy trong các loại Dịch khác trên thế giới (tức có giống ai!) để tạo ra một loại Dịch Ai Cập cổ đúng theo Vũ Trụ Tạo Sinh của ngành nòng âm. Dịch Ai Cập cổ của tôi diễn tả theo Cửu Thần là Dịch theo các vua mặt trời Pharaohs ngành nòng âm Hathor. Những nhà Ai Cập học sau này theo gót chân tôi có thể làm ra những loại Dịch khác như đã nói.

Xin tóm lược vài điểm chính đã nói và khai triển thêm theo Dịch lý cho rõ.

.Hư Vô, Vô Cực: trung tính Nu.

Từ hư không Nu nẩy sinh ra Atum (hay theo ngành mặt trời nước thì từ Biển Vũ Trụ Nun nổi lên mặt trời Atum).

.Thái Cực

Hư vô Nu cực hóa qua âm trước thành không gian âm, Biển Vũ Trụ Nun, rồi dương hóa tiếp theo thành Thái Cực, Trứng Vũ Trụ.
Atum đội lốt Thần Ra Nhất thể Tạo Hóa có khuôn mặt là Atum-Ra cũng mang tính Nhất Thể, Thái Cực của tộc mặt trời Nước.

clip_image002

 

 

Atum đội lốt Ra (Atum-Ra) đội vương miện kép (Double Crown) trắng đỏ biểu tượng cho hai đại tộc nòng nọc, âm dương của ngành nòng âm Hathor.

Atum đội lốt Ra (Atum-Ra) đội vương miện kép (Double Crown) ngành âm Hathor gồm vương miện bầu trắng biểu tượng cho dương của đại tộc thiếu âm (Đoài IIO) và vương miện đỏ (mang dương tính) có sừng nhọn lửa nhưng nghiêng mang âm tính của ngành nòng và có phụ đề chữ viết nòng nọc móc câu nước dương, biểu tượng cho dương của đại tộc thái âm Chấn (IOO).
lửa-nước. Hai vương miện này dưới dạng nhất thể là Đoài-Chấn, lửa-nước của ngành nòng âm.

.Lưỡng Nghi:

Theo truyền thuyết Ra lưỡng tính tách ra thành hai cực nòng nọc, âm dương là thần mặt trời Ra thái dương và vợ không gian Hathor thái âm. Như vừa thấy Atum đội lốt Ra dưới dạng Atum-Ra nhất thể Đoài- Chấn ngành Hathor khi tách ra thành Đoài và Chấn.
Đoài là Thần không khí Shu và Chấn, nước dương là khuôn mặt dương đại diện ở ngành dương của Tefnut Khảm OIO nước âm.

.Tứ Tượng và Bát Quái

Nếu ta nhìn chung gộp lại tất cả con, cháu và chắt của Atum gồm 8 người thì ta thấy rất rõ bốn vị thần nam ứng với Tứ Tượng dương và bốn nữ thần ứng với Tứ Tượng âm:

a.    Tứ Tượng Dương

1.    Shu Khí Gió (Tượng Khí, Không Khí) ứng với Đoài vũ trụ.

Shu thường được biểu tượng bằng chiếc lông chim đà điểu đầu gió tạt bẻ cong về phía tay phải phía dương mang ý nghĩa gió dương Đoài IIO tức lửa, thái dương không gian hay không gian thái dương, khí, không khí (khí là hơi nóng, lửa ở dạng hơi).

clip_image002[4]

Chiếc lông chim biểu tượng cho Thần Không Khí Shu.

Shu cũng thấy đội trên đầu hình bầu cầu tròn thay vì chiếc lông chim đà điểu thường thấy biểu tượng cho không khí. Dưới khuôn mặt này Shu đội lốt Ra tạo hóa (hình bầu tròn là Trứng Vũ Trụ, Thái Cực), Atum-Ra ngành Hathor ở đầu vòng sinh tạo (hình bầu tròn này là mặt trời-không gian ngành âm) và Osiris tạo hóa ở cuối vòng sinh tạo (Osiris vị thần số 9 theo duy âm lại trở về hư không số zero O đẻ ra Ra và theo duy dương lại sinh ra Atum-ra nhất thể số 1, cha của Shu).

. clip_image001

                Hai khuôn mặt của thần Shu.

Giản dị hơn  ta thấy ngay bầu tròn không gian ngành mặt trời mang dương tính là lửa, thái dương II không gian O tức Đoài IIO.

Trong loại Dịch Cửu Thần của các Pharaohs mặt trời dòng Atum-Ra ta lấy khuôn mặt Đoài vũ trụ lửa Khí Gió của Shu.

2. Keb, thần Đất (Tượng Đất)

Theo đúng nghĩa Thần Đất phải ở cõi đất thế gian ứng với lửa thế gian Li giống như Kì Dương Vương Li của Việt Nam. Keb biến âm với Việt ngữ Kẻ, Kè, Ke, Kì, que (trụ, cọc, nọc) biểu tượng cho nọc dương, lửa. Với khuôn mặt Li đất thế gian là Núi Trụ thế gian, Trụ thế gian (Núi Kì)  thì Keb diễn tả bằng Trụ Lửa, Trụ Dương ứng với Cọc Lửa  được biểu tượng bằng một khuôn mặt là bộ phân sinh dục nam cương cứng chống bầu trời Nut thấy ở trên.  Ở đây theo Cửu Thần, Keb là thần đất tức Li nhưng ở cõi trời, Li đất cõi trời tương đương với Càn thế gian. Keb có khuôn mặt Càn này thấy qua hình con ngỗng (chim biểu tượng cho cõi trời) trên trang phục đầu của Keb.

clip_image002[6]

 

 Thần Đất Keb với khuôn mặt lửa vũ trụ Càn có hình con ngỗng trên trang phục đầu.

Ngoài ra như đã biết trong Núi Trụ Thế Gian có Trục Thế Giới. Qua khuôn mặt Trục Thế Giới này Keb biểu tượng Lửa cho cả ba cõi Tam Thế. Khuôn mặt lửa thái dương ở cả Tam Thế này thấy qua trang phục đầu hỗn hợp.

 

clip_image002[8]

Thần Đất Keb với khuôn mặt lửa thái dương ở cả Tam Thế thấy qua trang phục đầu hỗn hợp (www.tigtail.org/…/egypt.gods_earth+sky.html).

Hình cho thấy thần Keb với khuôn mặt Trục Thế Giới của đại tộc Lửa với trang phục đầu vương miện kép ngành nòng âm có thêm biểu tượng cho ba khuôn mặt lửa ở Tam Thế:  mặt trời trên bầu không gian là Lửa vũ trụ Càn, hai sừng dê nằm ngang gợn sóng biểu tượng Lửa đất bằng thế gian ngành nước và hai hình móc nước-lửa là Lửa cõi nước Chấn.

Mỗi khuôn mặt Lửa này ứng với một loại Dịch.  Ta phải chọn một khuôn mặt thích hợp như Li lửa Đất, lửa trời Càn, lửa nước Chấn.

Trong loại Dịch Cửu Thần của các Pharaohs mặt trời dòng Atum-Ra ta lấy khuôn mặt Càn thế gian lửa trời vì Keb thuộc về cõi trời.

3. Seth, Thần Lửa (Tượng Lửa).

Seth biến âm với Việt ngữ Sẹt (phát ra lửa như sẹt lửa), sét liên hệ với với lửa chớp, sấm.  Lửa sấm chớp là lửa trời Càn. Khuôn mặt lửa Càn này thấy rõ qua cái đuôi đinh ba Càn của con thú biểu cầy lửa Setekh. Nhưng vì Seth có khuôn mặt tà ác nên là lửa âm, lửa quỉ vì thế có một khuôn mặt ác quỉ của quỉ sứ Satan nên Càn đinh ba ở phía đuôi âm.
Theo Cửu Thần ở đây Seth có mạng Li thế gian ngành âm nên có biểu tượng là con cầy lửa là thú bốn chân sống trên đất lửa sa mạc có khuôn lửa thế gian Li ứng với hai tai như cặp sừng thái dương. Vì lửa âm quỉ nên sừng có hình chữ V là thái dương âm (lửa âm, quỉ).

clip_image002[10]

Cầy Lửa Setekh, thú biểu của Seth.

Như thế Seth có khuôn mặt lửa thế gian Li và Lửa trời Càn nhưng khuôn mặt Li mang tính trội (thú bốn chân sống trên mặt đất và sừng tai Li ở phía đầu mang tính trội hơn Càn ở phía đuôi). Hai khuôn mặt  Li Càn này hoán đổi với hai khuôn mặt Càn Li của Keb.

Trong loại Dịch Cửu Thần của các Pharaohs mặt trời dòng Atum-Ra ta lấy khuôn mặt Li thế gian lửa Đất vì có thú biểu là loài bốn chân sống trên mặt đất.

4. Osiris, Thần Nước.

Osiris có nhiều khuôn mặt ở cả ba cõi vì là vị thần nam cuối của Cửu Thần lại quay trở về khởi đầu của vòng sinh tạo. Osiris có khuôn mặt Tạo Hóa ở cõi trên đội lốt Ra Tạo Hóa, khuôn mặt đội lốt Atum-Ra lưỡng thể ngành Hathor (Thần Nông). Khuôn mặt này như vừa nói gồm hai khuôn mặt Đoài lửa không gian (khí gió) tức khuôn mặt của thần không khí Shu diễn tả bằng hình bầu trắng (ứng với Nông) và Chấn cõi tạo hóa diễn tả bằng hai chiếc lông chim móc nước-lửa (Thần). Ở Cõi Dưới là Chúa Cõi Âm, Thần tái Sinh. Ở Cõi Giữa là mặt trời chiều hoàng hôn, mặt trời nước, lửa nước, nước dương (biển) ứng với Chấn thế gian.

clip_image002[12]

Osiris trang phục đầu biểu tượng cho ngành nòng âm Hathor ứng với Thần Nông có hai chiếc lông chim hình móc câu nước dương cõi trời ứng với nước Chấn (Thần) và phần bầu trắng biểu tượng cho khí gió Đoài (Nông).

Vậy trong loại Dịch Cửu Thần của các Pharaohs mặt trời dòng Atum- Ra ta lấy khuôn mặt Chấn thế gian có một khuôn mặt nước lửa, biển.

b. Tứ Tượng Âm

1/.Tefnut

Như đã biết Tefnut có bản thể là nước không gian âm ứng với Khảm cõi trời (mưa, sương, hơi ẩm) cùng bản thể thiếu âm với Shu vì sinh đôi. Khảm OIO nước ứng với phần tên Tef- trong tên Tefnut (Tef- biến âm với Việt ngữ nhẹp, ướt, ướt nhẹp theo kiểu biến âm tẹp nhẹp). Ngoài ra Teftnut cũng có những khuôn mặt khác như lửa, thái dương (II) không gian (O) tức OII, Tốn (nữ âm nên nòng O viết trước II).  Khuôn mặt lửa không gian OII này đối nghịch với khuôn mặt gió dương Đoài IIO của Shu. Chính khuôn mặt lửa này mà Teftnut còn có thêm khuôn mặt Khô Ráo (Dryness) và Mặt Trời (Caroline Seawright, Tefnut, Goddess of Moisture and The Moon and The Dryness and the Sun, http://www.touregypt.net/featurestories/tefnut.htm).roline
Khuôn mặt lửa không gian này được diễn tả bằng hai chiếc lông chim hình hai sừng tròn đầu khác với Shu được diễn tả bằng một chiếc lông chim có đầu cong bạt gió biểu tượng cho Khí, Không Khí (một là số lẻ số dương). Hai chiếc lông chim với hai là số chẵn, số âm và cũng là số Khảm cõi trời.

clip_image002[14]

 

Hai lông chim hình sừng đầu tròn âm biểu tượng cho lửa không gian âm Tefnut (lưu ý đến từ Fire ở góc phải bên dưới).

Hai lông chim biểu tượng cho cõi trên, có hình hai nọc sừng biểu tượng cho lửa, thái dương nhưng có đầu tròn mang âm tính. Hai lông chim này biểu tượng cho lửa (II) không gian (O) âm, nữ tức OII, Tốn.
Khuôn mặt lửa trời này ứng với phần -nut trong tên Tefnut (-nut  viết là nu-T, nu là hư không, không gian và T là chỉ định tố âm lửa, thái dương). Bầu Trời Nu mang tính lửa, thái dương T là Khôn dương tức khí gió về phía nữ là gió âm Tốn.
Điểm này thấy rất rõ là Tefnut còn có một khuôn mặt là mặt trời như đã nói. Tefnut thường được diễn tả bằng hình sư tử cái với trang phục đầu có bờm hình bầu trời hình vòm vũ trụ, vòm trời âm chuông úp (dạng nguyên thể của mẫu tự Omega Hy Lạp) và hình mặt trời đĩa tròn đôi khi có con rắn.

clip_image002[16]

 

Nữ thần Tefnut với khuôn mặt là mặt trời không gian Tốn.

Theo duy âm, có thể đọc gộp lại là không gian dương (mặt trời) phía âm (nữ) tức khí gió Tốn. Con sư tử đực là loài mãnh thú mang dương tính có bờm biểu tượng cho khí gió dương Đoài tương ứng với Shu, nên con sư tử cái mặt trời không gian Tefnut biểu tượng cho khí gió âm Tốn.
Khuôn mặt gió Tốn này ứng với khuôn mặt chim oan ương Tinh Vệ của Nữ Oa.

Khuôn mặt Tốn OII của Teftnut dưới diện nòng nọc, âm dương đối nghịch với khuôn mặt Đoài IIO Shu theo diện vợ chồng.
Tốn hôn phối với Đoài thấy trong Bát Quái của một lá bùa trừ tà Việt Nam (xem dưới).

Vậy trong loại Dịch Cửu Thần của các Pharaohs mặt trời ta lấy khuôn mặt Tốn ứng với phần -nut trong tên Tefnut theo nòng nọc, âm dương  hôn phối vợ chồng với Shu.


Xin lưu ý là Atum-Ra mặt trời chiều, hoàng hôn thuộc ngành nòng âm Hathor vì thế mà hai người con của Atum-Ra là Shu và Tefnut đều thuộc ngành nòng âm.

2/. Nut: nữ thần Bầu Trời.

Như đã biết khuôn mặt Bầu Trời của Nut có khuôn mặt bầu trời đêm là không gian đêm âm như thấy qua hình nữ thần Nut có đầy sao trên người. Khuôn mặt Khôn âm này diễn tả bằng bình nước trên đầu. 

clip_image002[18]

Nữ thần Nut có bình nước trên đầu biểu tượng cho Khôn âm Nước.

Không gian âm O thái âm OO là Khôn OOO. Không gian âm O thiếu âm IO là Khảm OIO. Như thế Nut có hai khuôn mặt : một là  Khôn hôn phối với khuôn mặt Càn của Keb và hai là khuôn mặt Khảm hôn phối với khuôn mặt Li của Keb.

Trong loại Dịch Cửu Thần của các Pharaohs mặt trời dòng Atum-Ra ta lấy khuôn mặt Khôn nước vũ trụ hôn phối với khuôn mặt Càn lửa trời của Keb.

3/. Nefthys 

Như đã biết tên Nepthys có nghĩa là Trụ Chống Pillar, temple pylon  (Trụ Thờ ở đền) hay the great flagstaff (“Trụ Cờ vĩ đại”), nên Nepthys có mặt ở cả Tam Thế. Ở cõi thế gian có khuôn mặt chính là Khảm thế gian qua hình ảnh cây Trụ (Pillar) (trục thế gian âm) trên có đĩa neb (nữ) mang hình ảnh vật hứng nước âm tức Khảm thế gian.

clip_image001[4]

Nữ thần Nepthys có trang phục đầu trụ “Pillar” trên có cái đĩa neb.

Ở cõi âm Nepthys còn là nữ thần mai táng (Goddess of Funeral).   Khuôn mặt âm tái sinh này (giúp Osiris tái sinh và che chở cho các hồn người chết) ứng với Khôn âm.
Khuôn mặt Khảm thế gian của Nepthys hôn phối với khuôn mặt Li thế gian của Seth và khuôn mặt Khôn cõi âm hôn phối với Càn âm của Seth.

Trong loại Dịch Cửu Thần của các Pharaohs mặt trời dòng Atum-Ra ta lấy khuôn mặt Khảm nước thế gian hôn phối với khuôn mặt Li lửa thế gian của Seth.

4/ .Isis 

Như đã biết qua trang phục đầu có ba phần là Ngai Vua Đất  âm ứng với Cấn, chim kên kên đội lốt Mẹ nguyên khởi Tạo Hóa Mut ứng với lửa thái dương của nòng âm tức Tốn và hình đĩa tròn nằm giữa cặp sừng bò đội lốt Hathor ngành nòng âm Khôn. Ở cõi thế gian Isis có một khuôn mặt chính là ngai vua sinh ra các ngai vàng Pharaohs tức Cấn.

clip_image002[20]

Isis với trang phục đầu có hình ngai vua.

Khuôn mặt Đất Cấn này hôn phối với khuôn mặt nước dương của  Osiris ứng với Chấn thế gian (biển). Sự hôn phối này thấy rõ qua truyền thuyết và cổ sử Việt là Âu Cơ Núi Cấn (đem 50 con lên núi) hôn phối với mặt trời nước, hoàng hôn, nước dương (biển) Lạc Long Quân (đem 50 con xuống biển). Sự hôn phối Cấn-Chấn này thấy trong Dịch ở lá bùa trừ tà của Việt Nam (xem dưới).

Trong loại Dịch Cửu Thần của các Pharaohs mặt trời dòng Atum-Ra ta lấy khuôn mặt Cấn Đất âm thế gian hôn phối với khuôn mặt Chấn thế gian nước lửa biển của Osiris.

Tứ Tượng dương hôn phối với Tứ Tượng âm tạo thành bát tượng ứng với bát quái, Dịch.

Như  thế tóm lại dòng Atum-Ra có tổng cộng là chín vị thần hay Ennead diễn tả theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Atum-Ra mang khuôn mặt sinh tạo, Tạo Hóa nhất thể của ngành nòng âm Hathor còn lại  tám vị thần con cháu của Atum-Ra diễn tả theo Dịch lý.

Kiểm Chứng Lại Bằng Số Học

Kiểm chứng lại bằng số học ta thấy rất rõ số thứ tự của những vị thần nam trong Chín Vị Thần trong Vũ Trụ Tạo Sinh của Cửu Thần cũng nói rõ cho thấy bản thể của họ. Vì là ngành nòng âm Atum-Ra nên phái nữ con cháu chắt của Atum-Ra được xếp đứng trước phái nam (vũ trụ nòng âm không gian có trước mặt trời, xã hội loài người theo mẫu hệ trước phụ hệ). Theo Dịch lý là các khuôn mặt thần nam ở vị trí ứng số lẻ (1, 3, 5, 7) còn các vị thần nữ có thứ tự theo số chẵn (2, 4, 6, 8).
Ta có chín vị thần xếp theo thứ tự con số như sau:

1. Atum Ra Nhất thể:
đúng trăm phần trăm số 1 là Nhất Thể.

2. Nepthys Khảm

đúng trăm phần trăm theo Dịch số 2 là số Khảm. Khảm là bản thể của Tefnut. Khảm OIO là âm O thiếu âm IO.

3. Shu Đoài

đúng trăm phần trăm số 3 là số Đoài vũ trụ.

Quẻ Đoài vũ trụ là IIO (nọc dương I thiếu âm IO).
Ta thấy ở cõi tạo hóa vũ trụ Tefnut và Shu cùng bản thể thiếu âm.

4. Nữ thần Bầu trời Nut

Số 4 là số Cấn. Nữ Thần Bầu Trời Nut có khuôn mặt  Bầu Trời Ban Ngày Tốn và Bầu Trời Đêm Khôn nước. Ở đây số 4 là số Cấn (OOI) đất âm  tức âm của thiếu dương cùng bản thể với Keb Đất dương IOI tức dương (I) của thiếu dương (OI). Ta thấy Nut xếp thứ tự theo con số Cấn đất âm có cùng bản thể Keb Li đất dương vì là hai anh em sinh đôi. 

5. Keb Li
đúng trăm phần trăm số 5 là số Li.
Ở đây Keb lại lấy theo Càn số 7 vì được cho là còn ở cõi trời.

Ta cũng thấy Nut và Li ở cõi tạo hóa thế gian có cùng bản thể thiếu dương trong khi Tefnut và Shu ở cõi tạo hóa vũ trụ có cùng bản thể thiếu âm.

6. Nepthys

Theo Dịch số 6 là Tốn.

Nepthys có khuôn mặt Tốn OII, lửa âm cùng bản thề lửa với Seth, Nepthys chia xẻ khuôn mặt Tốn với khuôn mặt Tốn chim diều hâu kite của Isis vì là hai chị em sinh đôi.

7. Seth Càn

đúng trăm phần trăm số 7 là số Càn.
Ở  đây lấy theo Li số 5 vì là vị thần ở cõi thế gian. 

8. Isis

Số 8 là số Khôn. Isis có khuôn mặt Khôn ứng với phần trang phục đầu hình đĩa tròn có cặp sừng cong của Hathor. Khôn âm là nước vũ trụ cùng bản thể nước dương Chấn với Osiris. Khuôn mặt Khôn này chia xẻ với khuôn mặt Khôn của chị sinh đôi với mình là Nepthys.

9. Osiris Chấn

đúng trăm phần trăm số chín là số Chấn thế gian  nước dương, lửa-nước…

Xin lưu tâm

. Các khuôn mặt thần nam có bản thể ăn khớp khắng khít với thứ tự dương của tám quẻ đầu còn các khuôn mặt thần nữ diễn tả bản thể tương đồng anh chị em ruột thịt phía âm với các khuôn mặt trời nam đi sát theo sau  như Shu và Tefnut 2, Khảm OIO, âm thiếu âm tương đồng với Shu 3, Đoài IIO, dương thiếu âm…
. Có nhiều tác giả cắt nghĩa các con số theo ý nghĩa của số học Tây phương, theo Trung Hoa, theo các loại Dịch khác, ở đây tôi dựa theo cách hoán chuyển từ số thập phân sang  số nhị nguyên của Dịch theo nhà toán học Đức Leibniz làm chuẩn (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt). Ta cũng thấy rõ người Ai Cập cổ ở truyền thuyết Cửu Thần này qua các khuôn mặt nam cũng dùng các con số theo ý nghĩa theo toán học này giống như tôi.
.Tổng quát truyền thuyết  Cửu Thần của Ai Cập cổ diễn tả theo Dịch. Mỗi loại Dịch có bát quái đồ khác nhau. Sự sắp xếp khác nhau của tám quẻ cho ra những loại Dịch khác nhau. Mỗi dân tộc có một hay nhiều loại Dịch riêng  ứng với ngành hay các đại tộc, triều đại. Ai Cập cổ có Dịch riêng phù hợp với văn hóa Ai Cập cổ, với từng khu trung tâm văn hóa, với từng triều đại. Ở đây là Dịch theo truyền thuyết Cửu Thần Ennead của thủ phủ On (Helopolis). Có thể còn có những thứ Dịch khác như Dịch theo truyền thuyết Bát Thần Ogdooad, vân vân… Chúng ta có Việt Dịch của đại tộc Đông Sơn, Việt Dịch ngày nay còn thấy diễn tả bằng Việt Dịch dân gian Bầu Cọc Cá Cua,  gần đây có loại Dịch ở cõi người là Dịch Trần Cao Vân. Dịch Việt Nam  khác với các Dịch Trung Hoa. Các nhà làm văn hóa Việt Nam  xin lưu tâm điểm này. Nhiều người cố chứng minh là Việt Nam có một nền văn hóa riêng mà cứ đem Dịch Trung Hoa giải thích văn hóa Việt.

.Ở đây ta thấy các vị thần trong truyền thuyết Cửu Thần được xếp theo đúng thứ tự từ 1 tới 9 vì thế mà thần Đất Keb số 5 có bản thể Li lại thuộc về Cõi Trời sinh ra bốn vị thần thế gian thay vì thần Đất phải thuộc về Cõi Đất thế gian và Seth có mạng lửa Càn số 7 lại thuộc về thế gian là vị thần Lửa Càn thế gian (quẻ Càn gồm ba hào nọc dương III, thuần dương, siêu dương không có âm O như quẻ li IOI). Đây là một sự khác biệt với chúng ta Kì Dương Vương Li  là vua thế gian đầu tiên của Đại Tộc Việt và Đế Minh Càn thuộc về cõi trên. Cần phải lưu tâm đến điểm là Li và Càn dùng với nghĩa hoán chuyển với nhau vì cùng nằm trên Trục Thế Giới nối liền Tam Thế. Càn và Li đều là lửa cả, vì thế khi thì Càn thế gian tương đồng với Li vũ trụ và ngược lại.
Số 5 Li biểu tượng cho Núi Trụ thế gian còn hàm nghĩa Trục Thế Giới, Trụ Chống Trời thấy rõ qua hình nọc sinh dục của thần Đất Keb chống bầu trời thần nữ Nut. Con số 5 là số trục nằm ở giữa chín con số từ 1 đến 9 (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9), ma phương có số trục là số 5  và các nhánh cộng lại là 15 là ma phương trục của vũ trụ (vì thế mà ma phương này rất phổ thông được nói tới nhiều nhất, ở đây cũng giải thích tại sao nước Văn Lang có 15 bộ). Ngũ hành của Trung Hoa nếu xếp theo hình vuông thì hành Thổ (đất) nằm ở tâm hình vuông tức là hành trục, hành thứ 5 (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ).
Cần ghi tâm là còn số 7 là số Càn (III) thuần dương, siêu dương, dương (I) thái dương (II) không có âm O như Li (IOI). Số 7 Càn là lão dương (trong khi số 6 là lão âm). Càn dương siêu dương nên không còn âm.Trong tám quẻ từ 0 đến 7 có bốn quẻ dương số lẻ 1, 3, 5, 7. Số 7 là số dương cao nhất tức già nhất tức lão dương. Số 1 là số dương sinh tạo, sơ sinh, số 3 mới lớn, trai trẻ (như các Lang Hùng Vương có mạng Đoài số 3), số 5 là số trưởng thàng đứng tuổi (như Kì Dương Vương núi Kì núi Trụ thế gian, Kì Dương Vương là mặt trời chính ngọ chói chang trên đỉnh núi trụ thế gian) và số 7 là số dương xế chiều, về già tức lão dương. Dương già quá, dương cực đại hóa thành âm (đàn ông già hết dương khí thành đàn bà)…  Lạc Long Quân có một khuôn mặt số Càn 7 này ăn khớp với Osiris ứng với số 7 (Moustafa Gadalla). Số 7 là số Càn, Osiris, Lạc Long Quân  với khuôn mặt Càn 7 chính là khuôn mặt đội lốt mặt trời Atum-Ra hay mặt trời Lạc Long Quân-Thần Nông.

Vì Li có thêm khuôn mặt Trục dương Thế Giới nên phần trên có lửa trời Càn và phần dưới có Lửa Chấn nên Ai Cập cổ dùng số 5 Li,  lửa đất thế gian hoán đổi nghĩa với Càn 7 vì người Ai Cập cổ cho thần Đất Keb thuộc về Cõi Trời, lửa trời Càn.

Tóm lại nếu xếp Cửu Thần theo Vũ Trụ Tạo Sinh ta có một thứ Dịch Ai Cập cổ.
Ta có một bát quái đồ của Dịch của Cửu Thần như sau :

                      Shu (Đoài vũ trụ IIO)

     Keb (Càn III)                            Nut (Khôn OOO)

Seth (Li IOI)                                  Nepthys (Khảm  OIO)

    Osiris (Chấn IOO)                          Isis (Cấn OOI)

                         Tefnut  Tốn (OII).

Viết theo dạng nòng nọc ta có bát quái đồ như sau :

 

clip_image002[22]

 

 

Dịch Cửu Thần (Ennead) của Đại tộc Mặt Trời Chiều-Hoàng Hôn Atum-Ra ở Heliopolis (theo âm ta để nữ thần đầu tiên của Cửu Thần Tefnut lên trên và các thần nữ khác theo chiều âm cùng chiều kim đồng hồ ta có Teftnut 6, Nut Khôn 0, Nepthys Khảm 2 và Isis Cấn 4 và tiếp tục theo chu kỳ vòng tròn sinh tạo, Isis 4  lại sinh ra Tefnut 6 và tiếp tục…).

Xin lưu ý

 Theo Dịch nòng nọc hào dương được diễn là hình que nọc (I) giống vạch liền của Dịch Trung Hoa và hào âm được diễn tả bằng nòng (O) tương ứng với vạch đứt đoạn của Dịch Trung Hoa. Ví dụ quẻ Li là lửa viết theo dạng đứng để dễ đánh máy chữ , được viết là IOI:

clip_image002[24]

 

Kiểm Chứng Các Khuôn Mặt Nữ Bằng Số Học Trên Bát Quái Đồ.

Dựa vào bát quái đồ của Dịch Cửu Thần do tôi vừa tạo ra ta có thể kiểm chứng lại xem các khuôn mặt thần nữ trong Cửu Thần có đúng không và kiểm chứng lại những khuôn mặt khác.
Các khuôn mặt nữ ứng với các số chẵn O, 2, 4, 6 tức Tứ Tượng âm của bát quái (từ O-7). Ta thấy Tefnut có khuôn mặt lửa âm Tốn tức thái dương ứng với số 6 lão âm. Theo duy âm lão âm sau đó già quá thì chết  trở về  hư không O  hay tái sinh thành O sơ sinh là số 0 (zero) tức Tefnut trở về khuôn mặt Khôn OOO (ứng với zero), nói theo  truyền thuyết  là Tefnut 6 sinh ra Nut Khôn OOO  tức zero 0. Ta thấy ở đây ăn khớp trăm phần trăm là Tefnut  lửa thái dương Tốn lão âm 6 sinh ra Nut Khôn OOO ứng với zero 0. Kế tiếp Nut Zero sinh ra Nepthys Khảm số 2 và  Isis Cấn số 4. Rồi theo bát quái đồ vòng tròn giống như vòng sinh tử, Isis đội lốt Hathor lại sinh ra Tefnut 6. Như thế các khuôn mặt thần nữ ứng với tứ tượng  trong thuyết Cửu thần tôi chọn ở đây đúng trăm phần trăm.
Ở đây cũng cho thấy các khuôn mặt nam thần đọc theo thứ tự khác có những khuôn mặt khác. Xin nhắc lại các con số ứng với các cặp thần nam và nữ cộng lại bằng 7. Ta thấy thần Đất Keb có khuôn mặt Càn 7 hôn phối Nut 0 (7 + 0 = 7),  Seth Li 5 hôn phối với Nepthys Khảm 2 (5+2 = 7), Osiris 3 hôn phối với Isis Cấn 4 (3 + 4 = 7). Ở đây Osiris có khuôn mặt  lửa (II) không gian (O) tức  Đoài IIO số 3, ứng với phần bầu trắng thường thấy của trang phục đầu của Osiris.  Theo vòng sinh tạo Đoài Osiris 3 lại sinh ra Shu Thần Không Khí bây giờ ứng với số 1, Chấn sinh tạo tạo hóa (một khuôn mặt tạo hóa của Osiris đội lốt Atum-Ra). Như thế ở đây Shu số 1 đội lốt Atum-ra nhất thể số 1.
Cửu Thần trong bát quái đồ theo các con số như sau:
Tefnut Tốn 6  hôn phối với Shu 1 (6+1 = 7).
Nut Khôn 0 hôn phối với Keb Càn 7 (0+7 = 7).
Nepthys Khảm 2 hôn phối với Seth Li 5 (2+5 = 7).
Isis Cấn 4 hôn phối với Chấn Đoài 3 (4+3 = 7)
Isis lại trở về khở đầu vòng sinh tạo Tefnut 6.
Ở đây ta thấy thêm khuôn mặt Đoài của Osiris có phần bầu trắng trên vương miện và Shu có thêm khuôn mặt Chấn 1 sinh tạo không gian như đã nói ở trên, hai khuôn mặt này hoán đổi cho nhau.  

Ở cõi người, vị thần cuối cùng thứ mười là Horus do Osiris và Isis sinh ra, là khuôn mặt thần tổ của các vua mặt trời cõi người hay lịch sử Pharaohs không nằm trong Ennead. Horus đội lốt Ra Tạo Hóa là khởi đầu một vòng sinh tạo ở cõi người. 

Bây giờ ta hãy đối chiếu Dịch Cửu Thần của Ai Cập cổ dưới cái nhìn tổng quát ở trên với truyền thuyết và cổ sử Việt một cách tổng quát, tóm gọn.
(còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: