VIỆT LÀ GÌ? (phần 1)

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

VIỆT LÀ GÌ?

Nguyễn Xuân Quang

Phần 1

 

Từ xưa tới giờ đã có nhiều người cố gắng cắt nghĩa từ Việt. Các nhà sử học từ thời cổ đại Trung Quốc cho tới các nhà sử học phương Tây và các học giả Việt Nam gần đây đã đưa ra nhiều già thuyết về nguồn gốc người Việt. Sử gia người Pháp Orusso dựa vào Sử ký của Tư Mã Thiên đưa ra giả thuyết cho là tổ tiên người Việt Nam hiện là con cháu của người Việt nước Việt của Câu Tiễn thời Xuân Thu bị đẩy dần xuống phía nam. Có người cho rằng Việt cùng họ với Sở. Có người theo Lưu Hy thời Hán cho rằng Việt chỉ chung nhóm người không nằm trong vòng “lễ nghĩa” của nhà Chu. Có người cho Việt là phiên âm của một tiếng địa phương thời ấy, nguyên là Ư Việt. Các nhà nghiên cứu dân tộc Choang ngày nay cũng tranh luận là tổ tiên người Choang là Việt hay Bộc, là Tây Âu hay Lạc Việt. Từ Việt lần đầu tiên xuất hiện chỉ tên một nước vừa nổi lên vào thời Sở-Ngô-Việt thời Xuân Thu (thế kỷ thứ 5 TTL). Đây là một danh từ riêng chỉ tên một nước. Tư Mã Thiên là người đầu tiên thâu thập các tài liệu từ Xuân Thu đến Chiến Quốc và một ít tài liệu thời sơ kỳ Tây Hán để viết về người Việt. Trong số 130 thiên của Sử ký, ông dành nói về người Việt 5 thiên, chưa kể đến nhiều thiên khác cũng đề cập tới người Việt. Đại để có thể chia ra làm bốn nhóm tài liệu: Nhóm thứ nhất nói về những sự việc có quan hệ rõ ràng với nước Việt của Câu Tiễn thời Xuân Thu và các nước Đông Âu, Mân Việt trước thời Tần-Hán; nhóm thứ hai nói về nước Nam Việt thành hình vào thời Tần-Hán; nhóm thứ ba nói đến Điền Việt và người Việt ở khu vực sông Phần; nhóm thứ tư nói chung về nhiều nước ở Lĩnh Nam: Đông Việt chỉ người Việt ở phía Đông, bao gồm cả Mân Việt lẫn Đông Âu và cả khu vực Cối Kê, Dương Việt chỉ người Việt ở Dương châu. Tư Mã Thiên đã bỏ ra ngoài Sở, Ngô và Lạc Việt. Điều này dễ hiểu. Sở, Ngô đã bị đồng hóa vào cuối thời Chiến Quốc. Còn Lạc Việt thì ông chưa có tài liệu đủ. Ông viết Sử ký vào lúc quân Hán Vũ đế vừa chiếm được Giao Chỉ vì thế trong tác phẩm của ông viết rất ít về Giao Chỉ. Phải đến hơn 150 năm sau, Ban Cố mới có những ghi chép về Lạc Việt và Giao Chỉ rõ nét hơn (Nguyễn Duy Hinh, Một Vài Suy Nghĩ Bước Đầu Về Người Việt, Hùng Vương Dựng Nước, NXB KHXH, HN, 1972 t.II, tr.173). Qua các thư tịch cũ ta thấy từ Việt khi thì chỉ tên nước khi thì chỉ chung cả nhiều tộc.

Việt Là Gì?

Hầu hết các học giả từ trước tới nay dựa vào Hán ngữ mà cắt nghĩa từ Việt. Theo Đào Duy Anh, Hán ngữ Việt có nghĩa là “vượt qua, quá chừng, phát dương lên, rớt xuống, tên nước, cái búa lớn…” (Hán Việt từ điển) và theo Tạ Quang Phát, Việt là “cái búa, chạy vượt qua, rơi rớt xuống, tán ra, quá chừng” (Hán Văn Giải Tự, nxb Xuân Thu tr.126). Các học giả trước đây giải thích từ Việt chỉ tên tộc, tên nước có thể qui vào ba nhóm:

Việt Là Vượt

Việt là Vượt có thể bắt nguồn từ cách giải thích cho rằng Việt là phiên âm của một tiếng địa phương thời xưa, nguyên là Ư Việt. Ư có một nghĩa là Vu, “đi qua” (Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển). Phần nhiều học giả hiện nay chấp nhận ý nghĩa của từ Việt là Vượt. Xin đề cử một thí dụ “Việt có nghĩa là vượt, vượt qua như vượt sông vượt núi, vượt đèo vượt suối, vượt tất cả chướng ngại vật, không có gì ngăn cản nổi ý chí Vượt của dân tộc Việt. Vì dân Việt ưa thích lan tràn khắp nơi mà từ ngàn xưa đã phát sinh ra những sắc dân gọi là Bách Việt như Đông Việt, Tây Việt, Mân Việt, Chương Việt, Nam Việt, Lạc Việt, Việt Thường… (Hương Giang Thái Văn Kiểm, Đàn Chim Việt, Y Học Thường Thức, số 32, tháng 3, 1999 tr.29).

Việt Là Vượt Bực là Siêu (Việt)

Nhiều người diễn nghĩa thêm ra Việt là vượt bực, là “siêu” (Siêu Việt) dựa vào nghĩa “quá chừng”, “dương lên quá chừng”.

Việt Là Búa

Một số người khác dựa vào nghĩa Việt là Búa là Rìu. Bình Nguyên Lộc cho chữ Việt nguyên thủy là chữ Việt đời nhà Thương viết giống cây rìu Quốc Oai (xem chương Thần Nông). Việt là búa, vật nhọn cũng thấy qua tên vua Việt Câu Tiễn thời Xuân Thu. Câu là cái móc cong như lưỡi câu, cái liềm (câu liêm), Tiễn là Cắt như tiễn mía, là Tiện (cắt) như thợ tiện. Tiễn là vật nhọn như mũi tên như hỏa tiễn (tên lửa). Câu Tiễn là vật sắt bén để cắt chặt hình móc câu. Ta cũng thấy rõ tại sao “Việt cùng họ với Sở”. Sở biến âm với Sỏ (sọ) với Sừng (sừng sỏ). Sừng là vật cứng nhọn, một nghĩa của Việt búa. Sở là Việt.

Nhưng giải thích Việt là Vượt, là Siêu không thuyết phục được tôi. Tại sao một chủng tộc lại chọn tên Việt là Vượt núi, vượt đèo, vượt tất cả chướng ngại vật? Chủng tộc Việt khi đặt tên cho mình đã biết là sẽ phải vượt nhiều cản trở, đã phải vượt sông Dương Tử, Hoàng Hà bỏ chạy? hay họ đã theo chủ thuyết bành trướng “lan tràn khắp nơi” để chiếm đất dành dân? Mặt khác ta còn thấy Việt vượt ăn khớp với nghĩa của Lưu Hy thời Hán giải thích Việt là ở ngoài vòng “lễ giáo” của nhà Chu nghĩa là “vượt ra” ngoài lễ giáo của nhà Chu, là bọn “trong bộc trên dâu”, bọn man di. Như thế Việt vượt mang ý nghĩa xấu về người Việt. Còn Việt là Siêu Việt nghe cũng khá êm tai vì thỏa mãn được chút ít lòng ái quốc nhưng với cái nghĩa trừu tượng, “bóng bẩy” này chắc chắn chỉ là nghĩa duy lý có rất muộn, nghĩa của người Việt sau này không phải là ý nghĩa nguyên khởi thời thái cổ đầu óc còn cụ thể và thiên nhiều về tín ngưỡng duy nguyên. Nhóm thứ ba cho Việt là Rìu, là Búa có lẽ có khả năng thuyết phục được nhất vì như trên đã thấy qua các tên vua Việt Câu Tiễn và tên nước Sở, tuy nhiên Việt búa vẫn là nghĩa mang nhiều ý nghĩa về vật biểu, vật thờ, vật tổ của một dân tộc, một họ. Vì thế Việt nghĩa là Vượt, là Siêu không thể là nghĩa chính của một đại dân tộc, cùng lắm chỉ là những nghĩa phụ và ngay cả Việt là Búa Rìu cũng phải hiểu theo ý nghĩa biểu tượng. Như thế ta phải tìm ra chính danh, ‘chính nghĩa’ của từ Việt.Ta đã biết tổ tiên ta đặt tên người đã phải chiếu theo các qui luật, lễ tục và đặt tên nước là một chuyện thiêng liêng phải chiếu theo vũ trụ, trời đất, trăng sao, thế núi sông… tên nước phải mang ý nghĩa biểu tượng liên quan tới vũ trụ quan, nhân sinh quan, tín ngưỡng, tôn giáo. Tôn giáo của tổ tiên ta thời thái cổ là Vũ Trụ giáo dựa vào hai yếu tố chính Nòng Nọc Âm Dương, tới thời phụ quyền cực độ như thời Hùng vương nghiêng qua đạo Mặt trời. Như thế đặt tên cho tộc họ cũng không phải là chuyện tầm thường. Từ Việt phải mang những ý nghĩa biểu tượng chính liên quan tới tín ngưỡng Vũ Trụ giáo, đạo thờ Mặt trời.

Bây giờ chúng ta hãy truy tìm ý nghĩa đích thực của từ Việt. Từ Việt là một từ Hán Việt. Tên của tộc họ chúng ta không thể là một từ Hán Việt. Hiển nhiên từ Việt phải là một từ phiên âm dịch nghĩa của một từ nôm trăm phần trăm nào đó. Từ đó là từ gì? Để đào tìm từ nôm có nghĩa Việt này trước hết ta hãy tìm hiểu thấu đáo Hán ngữ Việt. Hán ngữ Việt được viết dưới nhiều dạng khác nhau.

.Việt là cây búa

clip_image002

Giải tự từ Việt búa này ta thấy có hai phần: thứ nhất là chữ qua

clip_image003

Chữ qua.

Qua là binh khí, một loại kích để đánh giặc, nét xổ dài ngụ ý đây là loại binh khí có cán dài (can qua nói rộng ra là chiến tranh).

Mổ xẻ thêm nữa thì chữ qua có chữ dực.

clip_image005

Chữ dực.

Dực có nghĩa là cung tên có buộc dây mà bắn.

Phần thứ nhì còn lại

clip_image006

Hình cây búa.

vẽ hình cây búa, cây rìu. Như thế nhìn chung chung Việt (búa) có nghĩa là vật sắc nhọn: có cán ngắn thì là cái búa, cái bổ, cái rìu, cái dùi, cái đục, cái chàng; cán dài thì là cái kích, cái lao, cái qua; bắn đi được thì là mũi tên, cung tên (dực).

. Việt là vượt, chạy vượt qua, rơi rớt xuống, tán ra, quá chừng

clip_image002[4]

Chữ Việt viết với bộ tẩu trong tên Việt Nam.

Giải tự ta thấy gồm có chữ Việt búa (vật nhọn) viết với bộ tẩu (chạy). Như thế nếu hiểu theo nghĩa “ngang” dựa trên giải tự ta thấy Việt vượt là “vật nhọn chạy vượt qua…” Ở đây cho thấy nghĩa Việt vượt của Hán Việt hiện nay không chính thống không phải là nghĩa cốt lõi, mà chỉ là nghĩa phiến diện, từng phần một và phụ. Ta cũng thấy Việt vượt chỉ là một từ phiên âm hay dịch nghĩa của ngoại ngữ vì thế không lột được hết trọn vẹn nghĩa của từ gốc mà người Trung Hoa cổ đã phiên âm dịch nghĩa. Những nghĩa của từ Việt hiện nay đã là nghĩa suy diễn, hay bị bóp méo đi như kiểu Lưu Hy thời Hán giải thích Việt là “vượt ra” ngoài vòng lễ giáo của nhà Chu. Cũng xin lưu tâm là những từ Việt hiện nay có thể đã khác với các từ cổ.

Các Từ Việt Trong Cổ Sử

 

Từ Việt trong Hán ngữ dùng chỉ tên tộc người, tên nước được viết dưới nhiều dạng:

-Từ Việt viết bằng Hán tự cổ nhất, Bình Nguyên Lộc cho là chữ Việt đời nhà Thương.

clip_image002[6]

 

Cụ so sánh chữ Việt nguyên thủy đời nhà Thương có hình bán nguyệt với cái rìu đào được ở Quốc Oai với sự tái tạo lại cái cán bằng cành cây của viện Viễn Đông Bác Cổ (xem hình). Cả hai có hình giống hệt nhau (Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam tr.156).

Chữ Việt đời nhà Thương của Bình Nguyên Lộc ở đây có lẽ là dạng biến thể của chữ yuè (Việt) viết trên giáp cốt văn (xem dưới).

Ở đây cho thấy Việt búa, Việt rìu có thể là dạng phản ánh ý nghĩa gốc củaa từ Việt chỉ tên tộc và tên nước.

-Việt viết với bộ thích, bộ kim, những vật nhọn, sắc thấy từ đời nhà Chu…

-Việt viết với bộ mễ thấy trong Kinh Thư do Khổng Tử san định.

-Việt viết với bộ tẩu, đây là từ Việt trong tên Việt Nam.

…….

Trong Hán ngữ từ Việt chỉ tên người, tên nước viết với nhiều bộ khác nhau cho thấy rõ Việt là một đại tộc, là một họ trong đó có nhiều chi, nhiều tộc và mỗi chi tộc được phân biệt bằng một bộ. Có rất nhiều đến độ có lúc mang tên chung là Bách Việt, nào là Việt Câu Tiễn, Ngô Việt, U Việt, Nam Việt, Lạc Việt, Âu Việt, Đông Việt, Tây Việt, Mân Việt, Chương Việt, Việt Thường,Việt Nam…

Từ Việt Phiên Âm Dịch Nghĩa Từ Một Từ Nôm Nào?

 

Ta đã thấy rõ chúng ta là tộc khác biệt với người Trung Hoa nên từ Việt phải là một từ phiên âm hay dịch nghĩa của một từ nôm nào đó. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc. Việt biến âm với các từ nôm sau đây:

Việt phiên âm hay biến âm với từ nôm

Vọt (theo qui luật biến âm ie=o như hiệp = hợp, ta có Việt = vọt). Nghĩa đen vọt là cây roi, câyi que, cây nọc. Roi vọt.

Vớt là “large knife” (used as weapon) (Đặng Chấn Liêu, Từ điển Việt Anh, nxb KHXH, 1993): dao lớn dùng làm khí giới.

Vụt: đánh bằng roi, nhanh như chớp (vùn vụt).

Vút: nhanh như chớp (vun vút).

Vót là chuốt thành que nhọn. Ta có từ chót vót tức là trên tận chỗ nhọn chót cùng. Vọt còn biến âm với vạt, vát (đẽo, cắt xéo làm cho nhọn như cái nọc), với phát (chặt, chém như phát cây, phát cành), với vạc (đẽo, hết nạc vạc đến xương), với vạch (khắc, chạm, viết bằng mũi nhọn). Vọt, việt biến âm với viết (nguyên thủ viết là vạch bằng vật nhọn, mũi nhọn), với diết, diệt, giết (làm cho chết bằng vật nhọn sắc như đâm con thú bằng mũi lao, giáo, mũi tên, rìu búa…). Ở đây ta thấy vọt giải thích rõ Việt búa có nghĩa là vật nhọn sắc như cây búa, cây bổ, cây rìu, dùi, đục, kích, lao, cây qua; mũi tên…

Vọt là que, nọc nhọn nên còn có nghĩa là đực (heo nọc là heo đực), giống phái nam (nọc là cọc là c…, vọt liên hệ với Latin verpa, virga, Pháp ngữ verge, bộ giống phái nam, có nghĩa gốc là ‘rod’ hay ‘stalk’). Vọt, vót biết âm với bót, bút (v=b) liên hệ với Anh ngữ penis (có nghĩa gốc là ‘pointed object’) có pen- là bút. Ta cũng thấy việt liên hệ với viết giống như vọt, vót với bút. Vọt là cọc là chóc là chim (chim chóc). Chim là biểu tượng cho trời, mặt trời và cũng là biểu tượng cho bộ giống phái nam.

Vọt cũng có nghĩa là vượt. Vọt qua là vượt qua như xe vọt qua, vượt qua. Tại sao vọt có nghĩa là vượt? Ngày xưa muốn cho con thú (cưỡi hay kéo xe) vượt qua, vọt qua thì dùng vọt đánh vì thế roi vọt cũng có nghĩa là vượt. Ngày nay muốn cho xe vọt nhanh thì bóp tay ga hay đạp chân ga. Như thế ta thấy rõ Việt với nghĩa vượt là biến âm với từ Vọt ( vượt qua). Kiểm chứng theo qui luật biến âm ie=uo như biếu = bướu, ta cũng có Việt = vượt. Ta cũng thấy nghĩa Vượt của từ vọt có sau nghĩa roi vọt và nghĩa vượt chỉ là nghĩa phụ. Phải có vọt trước mới dùng vọt để vượt. Rõ ràng từ Việt có nghĩa là vật nhọn cổ hơn và mang nghĩa chính gốc hơn từ Việt vượt. Việt vượt có sau Việt búa. Việt vượt mang nghĩa phụ trong khi Việt búa chính gốc hơn. Giải thích tên tộc Việt theo nghĩa Vượt là đã theo nghĩa phụ. Từ Việt chỉ tên tộc Việt phải liên hệ chính yếu với Việt mang ý nghĩa vật nhọn.

Trong Việt ngữ vọt còn có các nghĩa sau:

– Vọt là bắn ra thành tia thành luồng như nước vọt ra, phọt ra ứng với Việt có chữ ‘dực’ có nghĩa là tên bắn (cung tên).

-Tia sáng bắn ra như tên bắn cũng hàm nghĩa và mang hình ảnh của cây vọt, cây lao nhọn, mũi tên nhọn nghĩa là cây nọc nhọn. Tia sáng thường được biểu tượng bằng hình mũi tên. Trên trống đồng nòng nọc, âm dương các tia sáng mặt trời đều có hình nọc mũi tên, mũi mác (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Việt ngữ tia ruột thịt với Pháp ngữ tirer (bắn) phát âm là ‘tia-rê’. Tia sáng là ánh sáng bắn ra, vọt ra như mũi tên, nọc nhọn.

Tóm lại Việt phiên âm hay biến âm với từ vọt, vớt, vót, vạt, vát, vạt, vạc, vạch, viết có nghĩa chính là vật nhọn sắc, nọc nhọn (đực, bộ giống phái nam, chim, mặt trời toœa sáng…) (ứng với Việt búa); với vọt là vượt, vút, vụt (ứng với Việt vượt) và với vọt, vặc có nghĩa là bắn ra, tỏa sáng.

Như thế Vọt, Vớt, Việt nghĩa là gì?

Gom góp lại các nghĩa ta có Vớt là con dao lớn dùng làm khí giới, Vọt nghĩa là roi, nọc nhọn, vật nhọn, vớt, đực, mặt trời, tia nhọn như mũi tên bắn ra từ mặt sáng. Việt, Vớt, Vọt có nghĩa là mặt trời tỏa sáng, vọt ra tia sáng. Kiểm điểm lại ta cũng thấy vớt, vật nhọn; vọt là roi, que, nọc (đực), cọc, chóc (chim), chim là biểu tượng của trời, mặt trời; vọt là nọc là đực hàm nghĩa mặt trời giống hệt như Hán Việt dương là đực mà cũng có nghĩa là mặt trời. Như thế Vớt, Vọt mang nghĩa mặt trời có tia vọt bắn ra vun vút, mặt trời có nọc nhọn, tia sáng như tên nhọn bắn vọt ra, là mặt trời tỏa rạng, mặt trời rực sáng, ngời sáng.

Như vậy Việt phải hiểu theo nghĩa nguyên thủy của nó là vật nhọn (nọc, đực, bộ phận sinh dục nam, mặt trời…) Ta phải lấy nghĩa gốc vật nhọn này từ thời thái cổ. Ta phải hiểu chữ Việt theo nghĩa của người thái cổ, những nghĩa của chữ Việt hiện nay như vượt, vượt thoát, bỏ chạy, siêu việt… chỉ là những nghĩa phụ, đã biến nghĩa theo thời gian. Ta hãy đi tìm ý nghĩa cổ nhất của các vật nhọn của từ Việt.

Chữ Việt yuè cổ nhất thấy trong giáp cốt văn vẽ hình chiếc rìu cong tròn đầu.

 

clip_image002[8]  clip_image002[10]

Chữ yuè khắc trên giáp cốt và kim văn có hình rìu lưỡi cong (Wang Hongyuan).

Ta thấy rõ như từ Việt cổ sơ này với hình cây rìu, nhọn và cong còn để lại dấu tích trong tên Việt Câu Tiễn (vật nhọn cong).

Bây giờ ta tiến xa hơn đi về thủa con người chưa có chữ viết và mới biết vạch, biết vẽ trên đá tức dùng những biểu tượng, còn ghi lại qua các hình khắc trên đá (petroglyph) để truy tìm ý nghĩa những vật nhọn.

Như trên ta đã biết chữ Việt búa gồm có ba thành tố: 1. khí giới nhọn hình que là qua, 2. cung tên dực và 3. búa rìu. Hãy đối chiếu các thành tố giải tự của chữ Việt hiện nay này với các hình khắc trên đá (petroglyph).

1. Ta thấy rất rõ người tiền sử diễn tả cây qua liên hệ với bộ phận sinh dục nam và mặt trời qua hình khắc trên đá ở thung lũng Val Veronia, Bắc Ý.

clip_image008

Người mặt trời hay Thần mặt trời tại thung lũng Val Camonica, Italian Alps (Madanjeet Singh, f.81).

Hình người giữa hai chân có một vòng tròn trong có một chữ thập được cho là người mặt trời hay Thần Mặt Trời. W.T. Olcott trong Myths of the Sun trích dẫn lại rằng giáo sư Worsaal xác nhận vòng tròn có chữ thập bên trong là biểu tượng mặt trời thuộc thời đồ đá muộn (later stone age) của vùng Scandinavia và đây cũng là biểu tượng mặt trời Chaldean. Ta thấy rất rõ là vòng tròn biểu tượng cho mặt trời. Chữ thập bên trong là do hai que nọc (II) để chồng lên nhau. Hai que nọc là hai que dùng làm dùi để tạo ra lửa. Hai que nọc là hai dương, thái dương. Vòng tròn lửa, thái dương là mặt trời. Ngày nay chúng ta dùng hình chữ thập làm dấu cộng cũng có một nghĩa là dương như phản ứng cộng là phản ứng dương (phản ứng trừ là phản ứng âm). Dương có một nghĩa là mặt trời.

Mặt trời dính vào bộ phận sinh dục nam (bộ phận sinh dục nam đi với hay được biểu tượng bằng vật nhọn là cây lao, cây qua cầm ở tay). Ở đây cho thấy rất rõ vật nhọn như cây qua biểu tượng cho đực, cho dương, cho mặt trời. Rõ như dưới ánh sáng mặt trời, từ Việt có thành tố que nhọn qua mang nghĩa nọc, đực, hùng (liên hệ với Hùng Vương), dương, mặt trời.

2. Ta cũng thấy rất rõ người tiền sử diễn tả cung tên dực liên hệ với bộ phận sinh dục nam qua hình khắc trên đá.

 

clip_image002[12]

 

Người bắn cung khắc trên đá (Wang Hongyuan).

Ở đây cho thấy rất rõ bộ phận sinh dục nam là nọc, là cọc nhọn, một vật nhọn (Quân tử có thương thì đóng cọc…, Hồ Xuân Hương) được biểu tượng bằng mũi tên. Từ Việt có thành tố cung tên dực mang nghĩa nọc, đực, hùng, dương, mặt trời. Ở đây cho thấy hiển nhiên Việt ruột thịt với Lang Hùng, Hùng Vương mặt trời thái dương.

3. Và ta cũng thấy rất rõ người tiền sử diễn tả rìu búa liên hệ với bộ phận sinh dục nam và mặt trời qua hình khắc trên đá ở Vitlycke, Bohuslan, Thụy Điển.

clip_image002[14]

Người mặt trời cầm rìu khắc trên đá ở Vitlycke, Bohuslan, Thụy Điển (H.R. Ellis Davidson, p.62-63).

Ở đây cho thấy rất rõ bộ phận sinh dục nam liên hệ với rìu búa và mặt trời. Hai vòng tròn đồng tâm biểu tượng mặt trời. Lưu ý người trên cao bên trái thân có hình mặt trời vòng tròn có chữ thập giống như người mặt trời ở thung lũng Val Comonica ở trên. Cây rìu cầm ở tay biểu tượng cho đực, cho dương, cho mặt trời. Chữ Việt có thành tố rìu búa mang nghĩa nọc, đực, hùng, dương, mặt trời. Việt rìu búa ruột thịt với Lang Hùng, Hùng Vương, Việt mặt trời thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, như đã biết người Việt cổ theo vũ trụ tạo sinh và đạo mặt trời. Thoạt khởi đầu vũ trụ là một cái bọc, cái trứng vô cực sau phân chia thành hai cực Nòng Nọc, Cái Đực, Âm Dương. Phần trong của trứng vũ trụ là phần âm tức nòng (được ký hiệu trong chữ viết nòng nọc là vòng tròn như số không). Phần nóng, phần đỏ tiền thân của mặt trời là dương tức nọc (ở dạng lưỡng cực được ký hiệu bằng cây nọc, cây que, cây vọt). Vì thế nọc, vọt, dương là biểu tượng cho mặt trời. Ta cũng thấy rõ qua sự kiện là mặt trời được coi là số một. Việt ngữ mặt (mặt trời) biến âm với một; Ấn Âu ngữ sol, soleil, sonne, sun… liên hệ ới Việt ngữ ‘son’ là một mình, “ở một mềnh” (Alexandre de Rhodes, Từ Điển Việt-Bồ-La); và với Ấn Âu ngữ sol, solo, solamente, seul… Số một trong nhiều chữ viết cổ cũng như hiện kim thường được ký hiệu bằng hình que, nọc, vọt ví dụ như số một (1) thường dùng ở Tây phương ngày nay mang hình ảnh cây nọc, cọc, cây vọt, cây việt.

Tóm lại vớt, vọt, việt, nọc, cọc là biểu tượng cho mặt trời, mang nghĩa mặt trời có tia sáng tỏa rạng ra như mũi tên, như nọc nhọn vọt ra, bắn ra. Việt là MẶT TRỜI TỎA RẠNG, MẶT TRỜI RẠNG NGỜI, HỪNG RẠNG hay muốn dùng theo Hán Việt thì là VIỆT LÀ MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG (Việt có một nghĩa là ‘quá chừng” tức Thái, quá). Chúng ta thuộc họ Việt mặt trời rạng ngời, Việt mặt trời thái dương. Truyền thuyết cũng xác nhận là Đế Minh đẻ ra vua tổ Việt là Kì Dương Vương là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế có họ Khương, sừng (một thứ nọc nhọn).

(còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: